Tham Thiền Yếu Chỉ Giảng Giải

Phần 5. Tu Cùng Không Tu



Chánh văn: 

Giảng tu hành, giảng không tu hành đều là câu nói suông. Chúng ta thấu triệt tâm quang của mình rồi, liền đó không có một việc thì còn cái gì mà nói tu không tu. Thử xem chỗ hiển bày của đức Bổn sư Thích-ca-mâu-ni, xuất gia hỏi đạo, sau sáu năm khổ hạnh chứng đạo, khi sao mai mọc, ngài than: “Lạ thay! Lạ thay! Tất cả chúng sanh đều có đức tướng trí tuệ Như Lai, chỉ vì vọng tưởng chấp trước không thể chứng được. Nếu lìa vọng tưởng là Thanh tịnh trí, Tự nhiên trí, Vô sư trí tự nhiên hiện tiền.” Về sau nói pháp bốn mươi chín năm, mà ngài tuyên bố: “Ta chưa từng nói đến một chữ.” Sau này, trải qua chư vị tổ sư một mạch truyền nối đều nhận định “Tâm, Phật, chúng sanh ba cái không khác”, “Chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật”. Nói ngang, nói dọc, hoặc đánh, hoặc nạt đều vì đoạn trừ phân biệt vọng tưởng của học giả, cốt cho học giả thẳng đó “biết được bản tâm, thấy được bản tánh của mình”. Không nương vào một chút phương tiện nói tu nói chứng. Ý chỉ của Phật tổ, chúng ta đã thấy rõ ràng lắm vậy. 

Một niệm tâm hiện tiền của chúng ta xưa nay vẫn thanh tịnh, vẫn tự đầy đủ, bủa trùm khắp giáp, diệu dụng hằng sa cùng với chư Phật ba đời không khác. Chỉ cần không nghĩ thiện, không nghĩ ác, không nghĩ gì cả, liền đó có thể thành Phật, ngồi một chỗ mà thiên hạ thái bình. Như thế, còn có hạnh nào đáng tu, giảng tu hành đâu không phải là câu nói suông. Nhưng một niệm tâm hiện tiền của chúng ta đang hướng ngoại tìm cầu, vọng tưởng chấp trước không thể rời được, từ vô thủy đến nay lưu chuyển trong sanh tử, vô minh phiền não nhiễm quá sâu dày, ban đầu không biết tự tâm là Phật, biết rồi cũng chẳng chịu thừa đương, không thể làm chủ được, không có cái dũng khí của người tráng sĩ chặt tay, hằng ngày ở trong vọng tưởng chấp trước. Người bậc thượng, trọn ngày làm thế này thế nọ, cầu thiền cầu đạo, mà không thể rời được hữu tâm. Người bậc hạ, tham sân si ái bền chặt không thể phá, chạy ngược với đạo. Hai hạng người này trầm luân trong sanh tử không biết chừng nào dứt, nếu giảng không tu hành đâu không phải lời nói suông? 

Các bậc đại trượng phu nhận định đã thấu triệt, biết rõ muôn sự muôn vật xưa nay đều là giấc mơ, huyễn hóa, hòn bọt, cái bóng không có tự tánh, nhân và pháp liền không, muôn duyên đều dứt, một niệm là muôn năm, thẳng đến chỗ vô sanh. Người bàng quan nhìn vào thấy bậc ấy cũng mặc áo, ăn cơm, đi đứng ngồi nằm như người thường. Đâu biết bậc ấy đang ngồi yên trong nhà thái bình thanh tịnh của mình, hưởng thụ kho báu vô tận, không khởi tâm không tạo tác, tự do tự tại, động tịnh đều là như như, lạnh hay nóng chỉ vị ấy tự biết mà thôi. Không những người, trời, quỷ thần trong tam giới lục đạo nhìn vị ấy không thấu, chính là chư Phật Bồ-tát cũng chẳng làm gì được người ấy. Đối với bậc này, còn nói cái gì là tu hành hay không tu hành? 

Hạng kế đó, cần phải phát khởi chí hướng, thống thiết nhớ việc chết sống, phát tâm hổ thẹn, khởi hạnh tinh tấn, hỏi đạo và cố gắng tham thiền; thường cầu thỉnh các bậc thiện tri thức chỉ dạy lối tắt, phân biệt thế nào là chánh, là tà; tha thiết giữa mài, lấy nước sông Hán mà rửa, đem ra mặt trời Thu mà phơi, dần dần càng được tinh thuần trắng sạch. Với hạng người này không thể không nói tu hành. 

Đã nói từ trước đến đây chẳng qua dời trên đổi dưới đều thuộc phương tiện tạm thời, người mắt sáng xem qua cốt nhận “vạch bùn lấy nước”. Song Tổ đình đã cuối thu, cách Phật ngày càng xa thẳm, vì ứng hợp căn cơ chúng sanh, bất đắc dĩ mới giảng giải thế này. Xét thật, giảng tu hành, giảng không tu hành đều là lời nói suông. Thẳng đó là vô sự, vốn không có một vật, đâu phiền mở miệng. Các Bồ-tát hội chăng? 

Giảng: 

Giảng tu hành, giảng không tu hành đều là câu nói suông. Chúng ta thấu triệt tâm quang của mình rồi, liền đó không có một việc thì còn cái gì mà nói tu không tu. Thử xem chỗ hiển bày của đức Bổn sư Thích-ca-mâu-ni, xuất gia hỏi đạo, sau sáu năm khổ hạnh chứng đạo, khi sao mai mọc, ngài than: “Lạ thay! Lạ thay! Tất cả chúng sanh đều có đức tướng trí tuệ Như Lai, chỉ vì vọng tưởng chấp trước không thể chứng được. Nếu lìa vọng tưởng là Thanh tịnh trí, Tự nhiên trí, Vô sư trí tự nhiên hiện tiền.” 

Ngài dẫn kinh Hoa Nghiêm. Sau khi đức Phật thành đạo, ngài than: Lạ thay! Lạ thay! Tất cả chúng sanh đều có đức tướng trí tuệ Như Lai, chỉ vì vọng tưởng chấp trước không thể chứng được. Nếu lìa vọng tưởng là Thanh tịnh trí, Tự nhiên trí, sư trí tự nhiên hiện tiền. Đức Phật cũng từng tuyên bố “Ta học đạo không thầy”. Bởi vì khi thanh tịnh rồi thì tâm chân thật hiện tiền, mà trong đây Phật gọi là Tự nhiên trí, Thanh tịnh trí, Vô sư trí, là trí sẵn có của chính mình chứ không phải ai đem cho mình. Tại sao chúng ta cũng có trí đó mà không hiện? Vì vọng tưởng điên đảo. Cho nên khi tu, vọng tưởng khởi lên buông bỏ không theo là một cách để cho trí tuệ hiện tiền. Lời Phật dạy chỉ thẳng cho biết cái thật, nhưng vì chúng ta dễ quên hoặc không quan tâm, nên khiến cho cái thật cứ cách xa mình.

Về sau nói pháp bốn mươi chín năm, mà ngài tuyên bố: “Ta chưa từng nói đến một chữ.” 

Phật nói pháp bốn mươi chín năm mà lại tuyên bố Ta chưa từng nói một chữ. Tại sao? Vì tất cả pháp ngài nói đều là phương tiện, chứ không phải cái thật. Cái thật của mọi người nói không tới, chỉ không được, cho nên mượn ngón tay cốt để chỉ mặt trăng mà thôi.

Sau này, trải qua chư vị tổ sư một mạch truyền nối đều nhận định “Tâm, Phật, chúng sanh, ba cái không khác”, “Chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật”. Nói ngang, nói dọc, hoặc đánh, hoặc nạt đều vì đoạn trừ phân biệt vọng tưởng của học giả, cốt cho học giả thẳng đó “biết được bản tâm, thấy được bản tánh của mình”. Không nương vào một chút phương tiện nói tu nói chứng. Ý chỉ của Phật tổ, chúng ta đã thấy rõ ràng lắm vậy. 

Phật và chúng sanh đều cùng có tâm này, ngộ là Phật mà quên thì làm chúng sanh. Lời của Phật tổ chỉ dạy hết sức rõ ràng cụ thể, do chúng ta mê chấp nên không tin đến được.

Một niệm tâm hiện tiền của chúng ta xưa nay vẫn thanh tịnh, vẫn tự đầy đủ, bủa trùm khắp giáp, diệu dụng hằng sa cùng với chư Phật ba đời không khác. Chỉ cần không nghĩ thiện, không nghĩ ác, không nghĩ gì cả, liền đó có thể thành Phật, ngồi một chỗ mà thiên hạ thái bình. 

Đừng nghĩ thiện, đừng nghĩ ác, đừng nghĩ gì hết mà thấy nghe hiểu biết rõ ràng. Nghe dễ như trở bàn tay mà sao chúng ta thấy khó khăn, không làm được? Suy nghĩ là quyền của mình, mình có quyền nghĩ và có quyền dừng. Nhưng vì chúng ta đã quen nghĩ tưởng, nên chỉ biết nghĩ mà không biết dừng, bảo dừng nghĩ tưởng thì hoảng sợ không làm được, vì vậy việc tu trở thành khó khăn.

Như thế, còn có hạnh nào đáng tu, giảng tu hành đâu không phải là câu nói suông.

Buông hết đừng nghĩ tưởng thì có gì để tu. Thông thường nói tu là phải tu hạnh này hạnh kia, như tu hạnh nhẫn nhục, bố thí, trì giới v.v… Nhưng phải biết, tu những hạnh đó là để bổ túc cho cái đừng nghĩ tưởng, cội gốc là phải buông hết những suy nghĩ. Vọng tưởng không chịu buông thì dù tu hạnh nào cũng không tới đâu. Ví dụ có người thương chúng sanh phát tâm bố thí, nhưng nếu có điều gì trái nghịch thì nổi sân liền. Từ bị là Phật, nổi sân là ma. Ma và Phật kề một bên. Chúng ta chưa thật từ bi, vì chưa làm chủ được tâm mình. Khi nào muốn nghĩ thì nghĩ, không muốn thì dừng thì khi ấy không cần ngồi thiền vẫn luôn an định, tới lui làm tất cả việc mà không dấy động, an nhàn thong thả.

Nhưng một niệm tâm hiện tiền của chúng ta đang hướng ngoại tìm cầu, vọng tưởng chấp trước không thể rời được, từ vô thủy đến nay lưu chuyển trong sanh tử, vô minh phiền não nhiễm quá sâu dày, ban đầu không biết tự tâm là Phật, biết rồi cũng chẳng chịu thừa đương, không thể làm chủ được, không có cái dũng khí của người tráng sĩ chặt tay, hằng ngày ở trong vọng tưởng chấp trước. Người bậc thượng, trọn ngày làm thế này thế nọ, cầu thiền cầu đạo, mà không thể rời được hữu tâm. Người bậc hạ, tham sân si ái bền chặt không thể phá, chạy ngược với đạo. Hai hạng người này trầm luân trong sanh tử không biết chừng nào dứt, nếu giảng không tu hành đâu không phải lời nói suông? 

Trước không biết thì thôi, bây giờ được nghe được biết rồi thì cần có dũng khí của tráng sĩ chặt tay, tức phải như tổ Huệ Khả, dám liều chết để cầu đạo. Việc này chúng ta không thừa đương được, vì thiếu dũng khí và chỉ lo hướng ngoại tìm cầu.

Các bậc đại trượng phu nhận định đã thấu triệt, biết rõ muôn sự muôn vật xưa nay đều là giấc mơ, huyễn hóa, hòn bọt, cái bóng không có tự tánh, nhân và pháp liền không, muôn duyên đều dứt, một niệm là muôn năm, thẳng đến chỗ vô sanh. Người bàng quan nhìn vào thấy bậc ấy cũng mặc áo, ăn cơm, đi đứng ngồi nằm như người thường. Đâu biết bậc ấy đang ngồi yên trong nhà thái bình thanh tịnh của mình, hưởng thụ kho báu vô tận, không khởi tâm, không tạo tác, tự do tự tại, động tịnh đều là như như, lạnh hay nóng chỉ vị ấy tự biết mà thôi. Không những người, trời, quỷ thần trong tam giới lục đạo nhìn vị ấy không thấu, chính là chư Phật Bồ-tát cũng chẳng làm gì được người ấy. Đối với bậc này, còn nói cái gì là tu hành hay không tu hành? 

Bậc đại trượng phu thì thấy rõ tất cả pháp như huyễn hóa không thật nên không một niệm dính mắc. Không dính mắc tức một niệm muôn năm, thẳng đến chỗ vô sanh. Đối với người này thì cần gì nói tu hành. Không nói tu hành mà có tu hành không? Thông thường cho rằng tu là ăn chay nhiều ít, giữ được mấy giới, tham sân si bỏ được bao nhiêu v.v… Tại vì chúng ta dính mắc nên phải gỡ lần lần, đôi khi năm giới giữ còn không tròn, vì vậy mà phải nói tu. Nếu buông xả được tất cả trọn không dính thì đâu cần nói tu làm gì nữa.

Hạng kế đó, cần phải phát khởi chí hướng, thống thiết nhớ việc chết sống, phát tâm hổ thẹn, khởi hạnh tinh tấn, hỏi đạo và cố gắng tham thiền; thường cầu thỉnh các bậc thiện tri thức chỉ dạy lối tắt, phân biệt thế nào là chánh, là tà; tha thiết giũa mài, lấy nước sông Hán mà rửa, đem ra mặt trời Thu mà phơi, dần dần càng được tinh thuần trắng sạch. Với hạng người này không thể không nói tu hành. 

Đã nói từ trước đến đây chẳng qua dời trên đổi dưới đều thuộc phương tiện tạm thời, người mắt sáng xem qua cốt nhận “vạch bùn lấy nước”. Song Tổ đình đã cuối thu, cách Phật ngày càng xa thẳm, vì ứng hợp căn cơ chúng sanh, bất đắc dĩ mới giảng giải thế này. Xét thật, giảng tu hành, giảng không tu hành đều là lời nói suông. Thẳng đó là vô sự, vốn không có một vật, đâu phiền mở miệng. Các Bồ-tát hội chăng? 

Ngài gọi tất cả chúng là Bồ-tát, các ngài có hiểu không? Tu hành mỗi ngày phải mài giũa, phải cố gắng. Tuy chưa buông hết được, nhưng nếu chịu gỡ từ từ mỗi ngày một ít thì việc tu hành cũng được tăng tiến. Đến đây là kết thúc những lời nhắc nhở tu hành của ngài Hư Vân.

Phần tôi, trong mấy năm qua mỗi tháng tôi giảng một lần, từ quyển Thiền Tông Vĩnh Gia Tập, Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn, Truyền Gia Bảo Thiền Tông Trực Chỉ, Tọa Thiền Dụng Tâm Ký, cho đến quyển Tham Thiền Yếu Chỉ này. Tất cả những gì tôi nói cũng là ảo hóa không thật, cốt yếu là muốn nhắc qua một chút phương tiện để mọi người tiến tu, biết nhận ra cái thật ngay nơi mỗi người và biết sống trở lại với cái thật đó, đừng chạy ra bên ngoài tìm cầu nữa.

Việc tu không phải chỉ riêng hàng xuất gia, mà Phật tử cũng cần khéo tu, khéo sống với đạo, vượt ra ngoài những thứ khổ ải mà mỗi người đang bị nhấn chìm. Các vị đã là Phật tử, đừng để người khác gọi mình là tín đồ đạo Phật. Bởi vì đạo Phật là đạo giác ngộ, Chúng ta học đạo giác ngộ thì tự mình phải là người giác, dù mới giác nhỏ nhỏ thôi nhưng cũng có giác, nên mới được gọi là Phật tử. Nên nhớ, giác chứ không phải tin. Do giác mới buông xả cố chấp, mới thấy được những sai lầm để từ bỏ. Như vậy tu tiến được là nhờ có giác, chứ không phải chỉ tin suông. Nếu tu mà không giác thì dù tu bao lâu cũng là tu mù, vì thiếu sự sáng suốt. Trước kia chưa học đạo chúng ta như người mù, bây giờ học đạo rồi ít ra cũng sáng được đôi phần, hoặc ai giỏi hơn thì sáng luôn càng quý, chứ đừng mê mờ như cũ. Mong tất cả cố gắng tinh tấn tu hành.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.