Vạn Pháp Quy Tâm Lục giảng giải

Chương 6. Duy Tâm Tịnh Độ



Tăng hỏi: Tông môn dạy tham thiền để minh tâm kiến tánh, pháp môn Tịnh độ dạy niệm Phật cầu vãng sanh. Hai pháp môn này độ khắp tất cả chúng sanh, do đâu hàng học giả bên Thiền tông lại tự quý Duy tâm tịnh độ? 

Đáp: Tông chỉ của thiền môn là liễu ngộ tự tâm. Một niệm tâm tịnh tức là Phật độ tịnh, chẳng bàn đông tây mà chỉ tự tịnh tâm mình thôi.

Đây là thuyết Duy tâm tịnh độ, tức là tịnh độ ở tại tâm. Tông chỉ của thiền môn là liễu ngộ tự tâm, vì vậy thiền tông lúc nào cũng chủ trương Duy tâm tịnh độ, cho nên không nói sanh về Tây phương, mà chỉ nói tâm tịnh thì cõi nước tịnh. Chỉ lo tâm mình tịnh, đó là cái gốc. Khi tâm tịnh rồi muốn về Tây phương đâu ai ngăn cản mình. Như trong kinh Lăng-nghiêm nói, ba nghiệp thanh tịnh thì cõi Cực lạc hiện tiền.

Thí dụ có hai người dạy con. Người này nói: Con nên ăn hiền ở lành đừng sanh tâm gian tham trộm cướp, vì tâm đó sẽ dẫn con tới những cảnh khổ não, bị tra tấn tù đày, tất cả cảnh khổ là do gốc từ tâm mà ra. Đó là nói bên trong. Còn người kia thì nói: Con đừng tham lam trộm cướp, nếu tham lam trộm cướp thì bị người bắt giam vào khám Chí Hòa. Đó là nói ở bên ngoài. Hai người dạy con có khác nhau, nhưng rốt lại chỉ đồng một điểm, muốn con đừng gian tham trộm cướp. Nhưng một bên thì chú trọng về tâm, chỉ thẳng cái nhân, nhân là tâm gian tham nên quả bị tù đày. Một bên thì nói về sự, nhìn vào cái quả, quả bị tù đày là do nhân tâm gian tham mà ra.

Người trí thì ngay nhân mà tránh, còn người thường thì sợ quả mà tránh. Như có người ăn ở hung dữ, mình nói coi chừng hung dữ sẽ đọa địa ngục, nghe đọa địa ngục họ sợ không dám hung dữ. Hoặc nếu họ là người trí thì mình chỉ cần nói, coi chừng tâm anh, tâm hung dữ sẽ biến thành địa ngục, nghe vậy thì họ biết liền dừng.

Chỗ này chúng ta phải hiểu rõ ràng không nên thiên chấp. Nói trên nhân hay trên quả gì cũng đều là gốc từ tâm sanh, đó là lẽ thật. Không một hành động thiện hay ác nào mà không do tâm khởi. Đối với người trí thì chỉ thẳng nhân khỏi cần nói quả, còn người không rõ được nhân thì phải nói tới quả để họ nương điều thiện mà làm phước, sợ đau khổ mà tránh ác.

Lối nói của Thiền tông chú trọng về tâm, bởi vì mọi hành động phát khởi đều do tâm làm chủ. Chế phục được tâm thì tất cả hành động đều thuần, cho nên các ngài chỉ thẳng vào nhân cho tu. Ngược lại, lối nói của Tịnh độ là nghe kinh Pháp, niệm Phật cầu vãng sanh về cõi Cực lạc. Chỉ ra cái quả như vậy, để mình ham thích mà cố gắng niệm Phật cho tâm thanh tịnh. Một bên là từ quả trở về tu nhân, còn một bên là tu nhân thì quả tự thành. Hai lối nói tuy khác nhau, lối nhắm vào nhân, lối trọng về quả, nhưng kỳ thật không hai.

Hỏi: Khai thị như thế thì không có Tịnh độ sao? 

Đáp: Ông lại chẳng nghe kinh Lăng-nghiêm nói: “Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật và niệm Phật thì hiện giờ và về sau nhất định thấy Phật, cách Phật không xa, chẳng nhờ phương tiện tự được tâm khai.” Như có người học, sáu căn đều nhiếp, một niệm thuần chân, tâm tịnh sáng suốt một mình, tức là hiện tại thấy Phật, cho nên nói cách Phật chẳng xa. Kinh nói: “Chẳng nhờ phương tiện tự được tâm khai.” Hai chữ tâm khai này có thể hiểu là Duy tâm vậy. 

Do tâm mình khai ngộ liền thấy Phật, hiện giờ cũng thấy, sau này cũng thấy, bởi vì Phật từ tâm mà ra chứ không đâu xa.

Hỏi: Có người niệm Phật khi lâm chung được đức Di-đà tiếp dẫn, việc này không hư ngụy chứ? 

Đáp: Người niệm Phật nhất tâm chẳng loạn, chuyên giữ Phật hiệu, thuần chân không vọng. Như nước lóng trong, trăng Phật tự hiện. Trăng vốn chẳng đến, nhân nước trong nên thấy hiện. Khi lâm chung Phật nghinh tiếp là tâm hiện Phật. 

Đây nói vừa pháp vừa dụ. Nhờ niệm Phật mà tâm thanh tịnh, nên khi lâm chung thấy Phật hiện tiếp dẫn mình. Như hồ nước lóng trong, nhìn thấy mặt trăng ở trong không rọi bóng xuống; mặt trăng không đến đáy hồ, nhờ hồ nước trong nên thấy trăng hiện. Cũng vậy, do tâm mình thanh tịnh nên thấy Phật hiện, chứ sự thật Phật không có đến đi. Cho nên chúng ta phải hiểu rằng Phật không đến đi, nhưng tâm mình thanh tịnh thì thấy có Phật hiện đến rước. Tâm mình thanh tịnh thì Phật pháp thân hiện, như trăng hiện dưới hồ, rõ ràng có thấy nhưng chỉ là bóng.

Hỏi: Nếu là Phật do tự tâm mình hiện thì bản nguyện của A-di-đà chẳng thật sao? 

Đáp: Thân Phật trạm nhiên không có đến có đi, niệm Phật cơ cảm, nương nguyện lực của Phật, do tự tâm biến hóa, Phật đến tiếp dẫn. Như nước hiện trăng, chẳng có chẳng không. Thế nên biết, sự thật thì chẳng có Phật đến. Tất cả đều do thời cơ, đúng hợp với tịnh nghiệp đã thuần thục thì mắt thấy thân Phật. 

Nói có Phật cũng không được, nói không Phật cũng không được. Gọi là cảm ứng đạo giao nan tư nghì. Phật tuy không đến mình, mình cũng không đến Phật, nhưng Phật đã có nguyện độ chúng sanh, cho nên tâm mình tịnh thì liền thấy Phật, đó gọi là cơ cảm. Con đường cảm ứng giữa mình và Phật không thể nghĩ bàn được.

Như ở đời quả ác sắp thành, tâm hiện ra địa ngục để chịu khổ. Há chẳng nghe người có phước nắm gạch thành vàng, còn kẻ mang nghiệp bần hàn thì biến vàng thành gạch. Cho nên sự thiện ác chỉ có tâm, khổ vui do tâm biến hóa. Những kẻ ôm lòng nghi làm sao hiểu được ý chỉ này? 

Nói rằng Phật không đến rước, mà do tự tâm mình hiện, điều này ít ai nhận ra, nhưng đó là sự thật. Vì sao? Vì quả cảm theo nghiệp thuần thục của mình. Nghiệp ác thuần, thấy quả ác hiện; nghiệp thiện thuần, thấy cảnh thiện hiện; nghiệp tịnh độ thuần thì thấy Phật hiện. Tất cả đều do tự tâm mình ra. Như người có phước thì nắm gạch thành vàng, còn người vô phước thì biến vàng thành gạch.

Nắm gạch thành vàng, biến vàng thành gạch chúng ta ít thấy, nhưng theo kinh nghiệm riêng thì tôi thấy rõ ràng. Cùng một cuộc đất mà người có phước làm ăn phát đạt giàu có, còn người vô phước thì làm ăn thất bại phá sản. Hoặc có người, ngay chỗ người ta làm ăn thất bại phá sản bán, họ mua lại làm ăn phát tài giàu có. Như vậy cũng cùng chỗ mà người làm giàu, người nghèo mạt, đó là gốc tại có phước hay vô phước. Có phước ở đâu cảnh cũng chuyển theo phước, vô phước ở trong cảnh tốt cũng biến thành xấu. Hiểu được lý này rồi, đừng nặng về hình thức bên ngoài, chỉ cần tạo phước không cần phải lo nhiều, khỏi tìm tới mấy ông địa lý, ít bữa thì coi hướng đó ra sao mà trong nhà rầy rà hoài, ít bữa lại coi cất nhà nhằm ngày gì mà cứ xào xáo… Lo nghĩ như vậy chỉ thêm phiền, nhờ thầy coi hoài thế nào cũng có chuyện. Bởi vì phước của mình làm sao đọc được như tấm bản đồ. Xây cửa tới lui, đổi hướng qua lại, hôm nay chỗ này không được, ngày mai hướng kia không tốt… rốt cuộc tốn tiền vô ích. Hao tiền tốn bạc gốc tại ai? Tại mình. Vậy mà không ai chịu tìm cái gốc cứ chạy theo ngọn, rồi đổ thừa đủ thứ.

Người tu Phật phải có chánh tín, tôi thật tình mà nói, nhất là bên phái nữ, các vị ráng tin giùm vấn đề này. Chỉ lo mình có phước chứ đừng lo coi địa lý. Địa lý có tốt bằng trời đi nữa, mà mình cứ phiền não hoài thì địa lý cũng không cứu được, trong nhà có an ổn hay không gốc tại chính mình. Nếu mỗi người đều lấy hòa kính làm trên thì tự nhiên sẽ an ổn, muôn pháp đều từ tự tâm. Chỗ đó mình thích thì cứ ở, thích tức là nó phù hợp với phước hay nghiệp của mình. Như mình có mặt ở đây là tại vì hợp với nghiệp duyên của mình. Nếu chỗ đó mình không thích mà thầy địa lý lựa giùm, thì một thời gian cũng buồn chán dọn đi chỗ khác.

Đây nói về lý duy tâm rất rõ ràng, nhưng có nhiều người học Phật, tu Phật gần cả đời cũng không chịu tin, cứ tin thầy địa lý hoài, thật là đáng buồn! Gốc mê tín không biết bao giờ mới hết, nó ăn quá sâu trong xương tủy, là căn bệnh rất lâu đời.

Hỏi: Kinh nói: “Qua khỏi mười muôn ức cõi Phật về phương Tây có thế giới của Phật tên là Cực lạc.” Lời nói này là hư là thật? 

Đáp: Sự tuy như thế, nhưng mà lý vốn ở trước mắt. Chẳng làm mười việc ác, thẳng vượt mười vạn ức. Ba nghiệp thanh tịnh, Cực lạc ở trước mắt. 

Sự tuy như vậy không phủ nhận được, nhưng lý vốn ở trước mắt, gốc tự tâm mình. Chư tổ không cực đoan mà mình phần nhiều rơi vào cực đoan. Người thì nặng về sự mà bỏ lý, người thì chấp lý mà quân sự, chúng ta không nên cực đoan như thế.

Chẳng làm mười việc ác, thẳng vượt mười vạn ức. Không làm mười việc ác tức là làm mười việc lành. Ba nghiệp thanh tịnh thì Cực lạc ở trước mắt, nếu cứ tưởng cõi Cực lạc ở bên kia mà điều ác vẫn làm, ba nghiệp không thanh tịnh thì dù có tưởng cũng không tới được.

Hỏi: Cảnh thánh nơi Tây phương nào là vàng bạc trải khắp mặt đất, lầu gác bao lớn, trang sức đẹp đẽ đầy bảy báu, hoa sen năm màu, nước tám công đức, chim lạ nhã xướng, cây báu diễn pháp, sự ăn mặc nhà cửa, tùy ý hóa thành, tất cả nhân dân được niềm vui lớn. Như những điều thù thắng và kỳ lạ này quả thật có vậy chăng? 

Đáp: Phật lúc tu nhân hành đạo Bồ-tát, phát nguyện lực lớn, thành tựu chúng sanh, không sao tính hết sự nhọc nhằn, làm lợi ích nhiều cho mọi loài. Trải qua bao kiếp xa, rộng tu phúc tuệ, công đức đầy tròn chứng vào Phật vị. Kẻ học đời sau thành tín niệm Phật, nương vào bi nguyện của Phật, lặng niệm hợp cơ, tâm hiện cảnh thù thắng, chẳng phải từ ngoài đến. 

Trong kinh tả cảnh đẹp đẽ ở Tây phương quyết định có, là do công phu tu nhân hành đạo Bồ-tát của Phật, trải qua nhiều kiếp làm lợi ích chúng sanh cho đến thành tựu quả Phật, nên mới ứng hiện cảnh giới như thế. Chúng ta là kẻ hậu học, nếu kính thành niệm Phật, nương vào bi nguyện của Phật, niệm lặng hợp cơ thì nhất định cảnh thù thắng từ tâm ứng hiện.

Hỏi: Cảnh thánh ở Tây phương vốn từ tâm mình hiện, như vậy việc vãng sanh thật là có lý này hay không? 

Đáp: Sanh nhất định là có sanh, đi vốn không đi. 

Hỏi: Thế nào là sanh nhất định có sanh, đi vốn không đi? 

Đáp: Sanh ấy là niệm sanh, tâm hiện ra nước Phật. Đi ấy là không đi, vì tánh vốn chẳng động. 

Vãng sanh, vãng là đi, mà sao ngài chấp nhận có sanh, không chấp nhận có đi? Bởi vì sanh là do tâm mình thanh tịnh mà cõi Phật hiện ra, chứ không có đi đâu. Hai quan niệm khác nhau. Người niệm Phật nặng về sự thì quan niệm rằng, thần thức mình lúc đó được Phật rước đi về Tây phương, cách qua bao nhiêu cõi. Còn người quan niệm duy tâm tịnh độ thì nói rằng, cảnh Cực lạc ấy là do tâm mình hiện ra, gọi là sanh. Do tâm hiện ra nên nói không đi.

Hỏi: Tôi thấy người niệm Phật, dự biết được đến lúc, ngồi thoát đứng chết, mùi hương lạ đầy nhà. Việc này đâu phải là tâm hiện? 

Đáp: Trời Đế-thích chẳng tu nghiệp trời, cung điện làm sao mà theo bên mình được? Vua Chuyển Luân không gieo nhân vua, thất bảo do đâu mà tụ tập? Người niệm Phật, tịnh nghiệp thuần thục, cảm được thắng duyên bên ngoài, do tâm biến hiện. 

Người niệm Phật tâm thuần thục thì cảm được thắng duyên bên ngoài, cảnh hiện tiền đẹp đẽ tự hiện, chứ không phải từ ngoài mà có.

Hỏi: Phật và tâm không hai, ngoài tâm không Phật, tại sao lại lập pháp môn niệm Phật? 

Đáp: Chỉ vì chúng sanh căn cơ bậc trung, bậc hạ chẳng tin tự tâm mình là Phật, nên phương tiện khiến niệm Phật tu quán, cột tâm vào một duyên, niệm lặng thuần chân thì tự tâm Phật hiện, hợp nhất với ánh sáng của Phật. Nếu là bậc thượng trí chẳng hướng bên ngoài mà cầu, quán thật tướng của thân, quán Phật cũng vậy. 

Chúng ta quán thân này không thật, tướng Phật cũng không thật, tự tánh là không tịch, thì lúc đó mình và Phật có sự cảm ứng.

Hỏi: Pháp môn Tịnh độ khẳng định là có hay là không? 

Đáp: Nếu nói là không, thì thế giới Cực lạc, Di-đà thuyết pháp, nhiếp thọ chúng sanh; điều này từ kim khẩu đức Phật Thích-ca truyền ra, chư tổ từ Ấn Độ đến Trung Hoa đều xiển dương. Nếu nói là có, thì pháp thân chư Phật thể như thái hư, chẳng có chẳng không; tự tâm chúng sanh xưa nay là không tịch, đồng một thể với Phật, không thiếu cũng không thừa. Phải ngộ được lý sự viên dung mới có thể phân biệt được tịnh và uế. 

Nếu nói thật không, tức cõi Cực lạc là không, Phật Di-đà là không v.v… mà đức Phật Thích-ca nói có, chư tổ cũng xiển dương, vậy là Phật tổ nói gạt hay sao? Nếu nói thật có, thì Phật là pháp thân, pháp thân tròn đầy thái hư, chẳng có chẳng không, tự tâm của chúng sanh đồng thể với chư Phật là sao? Nói có là lầm, nói không cũng không đúng. Cho nên phải ngộ được sự lý viên dung, mới có thể nhận hiểu được.

Phật tự tâm là lý, cảnh Cực lạc là sự. Vì vậy phải nhận rõ lý sự viên dung, thể không rời dụng, dụng không rời thể. Chấp vào sự tức là chỉ biết dụng mà không biết thể, chấp vào lý là chỉ biết thể mà không biết dụng. Thiên lệch một bên là bệnh, là không phân biệt được tịnh uế.

Hỏi: Lại có những tăng sĩ và cư sĩ niệm Phật một đời, khi lâm chung không Phật đến tiếp dẫn là sao? 

Đáp: Bản tâm của chúng sanh đồng một thể với Phật, miệng tuy niệm Phật mà tâm ý tán loạn, như nước dơ động nên ánh sáng trăng không đứng, chứ chẳng phải trăng không đến, ấy là do nước không lặng. Nếu một niệm thuần chân thì tâm Phật tự hiện, dụ như nước đứng trăng hiện. Thế nên biết, chẳng phải từ bên ngoài vào. Nếu ngộ lý này, lý duy tâm chẳng lầm. 

Hỏi: Ngài đã khai thị tâm yếu như thế thì tham thiền và niệm Phật không hai? 

Đáp: Vốn không hai lý. 

Hỏi: Thế nào là lý không hai? 

Đáp: Tham thiền cốt yếu phải như mèo bắt chuột, niệm Phật quyết phải nhất tâm bất loạn. Nếu nhất tâm chẳng loạn, dù bỏ tham thiền cũng lo gì chẳng ngộ? Nếu như mèo bắt chuột, dù bỏ niệm Phật, tâm Phật cũng tự hiện. 

Cổ đức có kệ rằng: 

Tham thiền niệm Phật bản lai đồng,

Khán phá phân minh tổng thị không,

Công đáo tự nhiên toàn thể hiện,

Xuân lai y cựu bách hoa hồng. 

Dịch: 

Tham thiền niệm Phật lý vốn đồng,

Rõ ràng xem kỹ thảy đều không,

Công đến tự nhiên toàn thể hiện

Xuân về như trước trăm hoa hồng

Nếu nhận được tâm yếu thì thấy tham thiền và niệm Phật trên lý không hai, còn không hiểu thì thấy như có hai. Thế nào là lý không hai?

Tham thiền cốt yếu phải như mèo bắt chuột, mắt dòm lom lom, có chú chuột nào ở trong hang ló đầu ra là chụp liền, không bỏ sót; nếu bỏ sót chuột chạy mất thì biết con mèo đó không giỏi. Niệm Phật thì quyết phải đến chỗ nhất tâm bất loạn.

Nếu như mèo bắt chuột, dù bỏ niệm Phật, tâm Phật cũng tự hiện. Người niệm Phật được nhất tâm, khỏi cần tham thiền cũng ngộ. Người tham thiền được như mèo rình chuột, dù không muốn về Cực lạc cũng được về.

Cổ đức có kệ rằng: 

Tham thiền niệm Phật bản lai đồng,

Khán phá phân minh tổng thị không.

Tham thiền niệm Phật xưa nay đồng. Nếu xét tường tận, khám phá rõ ràng rồi thì niệm Phật và tham thiền cũng chỉ là giả lập.

Công đảo tự nhiên toàn thể hiện,

Xuân lai y cựu bách hoa hồng.

Áp dụng công phu tu tập đến nơi đến chốn, tự nhiên toàn thể hiện bày. Xuân đến, như xưa trăm hoa nở. Tham thiền và niệm Phật đến tột lý không hai.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.