Người thế tục hỏi: Tôi muốn thường ăn chay, có công đức chăng?
Thiền sư đáp: Các loài có vảy có mai, có lông mao lông vũ, thể chất nó tuy khác với người, nhưng sự hiểu biết và sự đau khổ đâu khác chi người. Bởi đời trước nghĩ sai, nên đời này hình hài có khác. Nếu như một lòng tín thành dứt ăn thịt giữ giới sát, thật là bậc đại đức quân tử. Có thể bảo là người nhân từ, người thiện. Nếu quả ông ăn chay giữ giới suốt đời không sờn lòng, chẳng những thêm nhiều phúc và thọ, mà còn gieo được chánh nhân giải thoát giác ngộ. Khá thương cho người đời không trí tuệ, tham đắm vị ngon mặc tình dồn chứa, ra tay sát hại, tạo tác muôn ngàn. Chỉ ngon qua ba tấc lưỡi, một ngày kia thay đầu đổi mặt, lần lượt nuốt ăn, lúc ấy đau khổ hối hận không người giúp cho.
Thay đầu đổi mặt, tức là khi nhắm mắt rồi thì người trở lại làm thú, thú trở lại làm người. Trước mình ăn nó, sau nó ăn lại mình, ăn nuốt lẫn nhau mãi mãi không dứt.
Đây đặt ra từng câu hỏi để trả lời về việc ăn chay, những điều này rất dễ hiểu nên tôi chỉ giải thích sơ qua.
Hỏi: Người đời đều cho heo dê gà ngỗng, các loài có vảy có mai, có lông mao lông vũ v.v…. trời sanh ra các loài này để làm thức ăn cho người. Nếu không giết để ăn, dùng chúng làm việc gì?
Đáp: Người đời ăn thịt là đương nhiên. Buông lung tâm ý mổ giết, để thích khẩu khoái bụng. Đâu chẳng biết, tất cả chúng sanh dưới nước, trong đất, trên không, trên bộ, chẳng qua là do nghiệp lực quả báo mà có thân xác khác nhau. Người đời tuy nhờ phước nhất thời, mà khinh thường sát hại quá nhiều. Tha lực yếu kém làm sao chống chọi nổi hận oán kia, có ngày sẽ báo đền oan trái. Quả thật nếu heo dê v.v… trời sanh ra làm thức ăn cho người, thì ở thế gian những loài sài lang, hổ báo, muỗi mòng, chí rận v.v… Vô hạn ác thú hung cầm đều hay ăn người, đâu không phải trời sanh! Giả sử người nam kẻ nữ đều làm thức ăn cho loài vật, có nên không? Người đời không rõ tạo nghiệp sẽ thường mạng lẫn nhau, không biết cớ sao lại cho việc sát sanh là việc đáng nên làm. Thật quá ngu muội.
Hỏi các loài có lông có vảy v.v… trời sanh cho mình ăn, tại sao mình không ăn? Vậy nó sanh ra để làm gì?
Ngài đáp, bây giờ mình mạnh nó yếu, nên cứ bắt giết mổ nó mà ăn, rồi cho rằng trời sanh loài vật cho người ăn. Giả sử mình vô rừng, bị cọp sói vồ ăn, lúc đó nói trời sanh người cho nó ăn, mình có chịu không? Đến như muỗi mòng chí rận cắn chích, có nói rằng mình sanh ra cho nó cắn chích hay không? Nếu người thật là thức ăn của loài vật thì để cho nó ăn, tại sao lại đập nó? Như vậy cái lý của người thế gian nói là không đúng, đó chỉ là mạnh hiếp yếu mà thôi.
Người đời không rõ tạo nghiệp sẽ thường mạng lẫn nhau, không biết cớ sao lại cho việc sát sanh là việc đáng nên làm. Thật quá ngu muội. Việc không nên làm mà chúng ta cho đó là việc đáng làm, quả là dốt nát!
Hỏi: Tôi thường nghe người đời có nói, người nhiều lòng tốt cũng như ăn chay rồi, lý này thế nào?
Đáp: Bậc nhân đức quân tử, người hiền có lòng nhân từ, làm lợi ích cho người, cứu tế loài vật, nhóm công chứa đức. Cho đến những chỗ động dụng, hay chỗ làm việc, thấy sanh linh rơi vào chỗ chết, lúc ấy đâu không khởi lòng trắc ẩn cứu cho được sống. Có lòng từ bi như thế mới bảo là người tốt. Vô cớ giết nó cho vào miệng ta, hoặc cầm dao bén mổ bụng, hoặc nắm dao nhỏ đâm vào tim, lóc da đánh vảy, cắt cổ bổ vỏ, hoặc nấu hoặc kho, hoặc bỏ vào nồi hầm hay vào lò nướng. Trăm cách tạo tác, làm cho ngon miệng khoái bụng, lòng thương xót hoàn toàn không, như vậy lòng tốt ở chỗ nào? Lại nói lời mê như thế, tội lỗi kia làm sao có thể sám hối?
Có người cho rằng, tôi ăn ở tốt lành ngay thẳng là đủ rồi, cần gì phải ăn chay? Lý luận này chúng ta cũng thường nghe, hoặc như quan niệm “ăn mặn nói ngay, ăn chay nói dối” vậy.
Ngài nói, nếu thật là người tốt thì thấy chúng sanh khổ phải thương, sao lại nỡ cầm dao bén cắt cổ mổ bụng, kho nấu ăn cho ngon miệng, như vậy mà nói rằng mình là người tốt. Ai chứng minh cho lời nói này? Người tốt không làm những việc đó. Nếu làm thì lòng tốt ở chỗ nào, mà lại nói lời mê như thế?
Tôi nay nói rõ ông hãy lắng nghe, quả như ông một đời giữ giới sát, ăn chay suốt đời chẳng chán, dù tâm ông chẳng tốt phải đọa vào loài khác, nhưng cũng không rơi vào tay người giết, hoặc trong vạc sôi lò lửa.
Giả sử còn tham, còn xấu mà biết ăn chay thì về sau dù có tội đọa, cũng không bị rơi vào tay người giết, hoặc bỏ vô nồi nấu, lò nướng. Như vậy ăn chay dù có bị tội đọa cũng còn sướng hơn là ăn thịt chúng sanh, phải chịu những thứ khổ sở.
Hỏi: Tôi tuy nghèo mà trong sạch, chẳng bao giờ trộm cắp. Vậy thế nào?
Đáp: Không riêng gì lấy tài vật mới gọi trộm cắp, mà tham ô kẻ lương thiện, dùng tà thuật lừa đảo, xúi người kiện tụng, rủ rê dụ dỗ người cờ bạc, hại người tù tội, làm cho người nghiêng ngửa, hại người nơi hiểm nguy, làm cho hao tài tốn của, tráo đổi vật tốt của người, thiếu nợ chẳng trả, xâm lấn người ngu, chiếm đoạt kẻ yếu. Tất cả việc bất lương đều là trộm cướp cả.
Nếu là người có trí tuệ, thấy người giàu sang nên khởi lòng kính mến mà hận mình đời trước không tu phước, đời này nghèo khổ phải cam chịu. Lại phát khởi tín tâm, tu phước lành chứa công đức, những việc ác chớ làm, nên làm các việc lành. Tự nhiên không cô phụ người chứa nhóm công đức lành vậy.
Chỗ này cũng có nhiều người hay nói, tôi nghèo mà trong sạch không bao giờ trộm cắp, vậy là được rồi. Nhưng ở đây ngài chưa bằng lòng. Tuy mình không trộm cắp nhưng có xảo trá, đổi chác gian lận, hoặc thiếu nợ không trả v.v.. thì cũng là bất lương.
Người có trí tuệ thì không như vậy. Mình nghèo mà thấy người khác giàu thì nên khởi lòng kính mến chứ không ganh tỵ. Phải biết rằng, người đó có phước đức hơn mình, bởi mình trước không tu phước, cho nên thiếu phước phải chịu nghèo khổ, bây giờ phải ráng lo làm lành chứa đầy công đức mới được. Đừng nghĩ tuy mình nghèo mà trong sạch là hơn, rồi khinh khi thiên hạ, thấy ai giàu sang mình chê bai phỉ báng, như vậy chưa phải là người tốt.
Hỏi: Giữ tài sản một cách công bằng, nhưng chẳng bỏ hẳn lòng tham tích chứa, tùy sức mình mà kinh doanh. Vậy như thế nào?
Đáp: Giữ tài sản một cách công bằng thì nên. Tuy nhiên, vật báu trên đời chứa lâu thành họa. Nếu vật báu có đến chớ nên chứa, nếu chứa chớ chứa lâu. Còn như tham cầu không chán, nhận ngang không thẹn, tuy một lúc được giàu có, nhưng chẳng khỏi tối lo sáng tính.
Hỏi, tôi ngay thẳng tài sản có bao nhiêu thì giữ bấy nhiêu được không? Ngài không đồng ý, tại sao? Vì của cải giữ lâu sanh họa. Nếu có thì nên làm việc phước đức lợi ích chung, chứ đừng giữ hoài. Như những pho tượng quý, giữ riết thành ma. Cũng vậy, giữ của lâu thành họa, thế nào nó cũng mất, chừng đó rồi khổ.
Kinh Phật nói: “Tài sản hiện tại của người đời là của chung của năm nhà. Năm nhà là: Nhà vua quan, nhà nước lửa, nhà trộm cướp, nhà giặc giã, con cháu tiêu phá. Người đời dại dột, đắng cay suốt cả một đời, tạo cho nhiều tiền của, mong được vĩnh viễn giàu có. Đâu biết đấy là phần của năm nhà, một ngày kia sẽ tan nát. Như vậy giữ của một cách công bằng, mà còn chẳng lâu thay. Huống là giật ngang hay lừa đảo, mà có thể thường còn ư?”
Kinh Phật nói, tài sản hiện tại là của chung của năm nhà, không vào nhà này thì cũng vào nhà khác. Như trong nhà có nhiều của quá, lâu dần con cháu hoặc người khác cũng sanh chứng muốn lấy. Vì vậy có của chỉ nên chừa đủ ăn, còn lại nên sử dụng vào những việc lợi ích khác. Của cho thì còn mà của ăn thì hết. Nhiều người hay lo, sợ cho rồi hết. Thật sự cho ra là không bao giờ hết, nếu hết cái này thì cũng có cái khác. Tôi chưa thấy có người nào làm lành mà bị khổ suốt kiếp, nếu có khổ thì cũng chỉ trong giai đoạn nào đó. Giả sử có chịu khổ suốt kiếp, âu cũng là do nghiệp đời trước quá nặng nề, nên nay mới như thế. Của cải hiện tại thuộc về năm nhà mà mình cố giữ, chắc rằng không thể vĩnh viễn được, một ngày nào đó cũng sẽ tan nát.
Tài sản giữ một cách công bằng mà còn không được lâu thay, huống nữa là lừa đảo mà có thể giữ lâu. Đây là lời để cảnh tỉnh, vì người đời thường hay có những cái chấp như vậy.
Hỏi: Tôi thường ít ham muốn về sắc dục, chỉ có một vợ, việc tà dâm tôi đoạn hẳn không phạm. Vậy thế nào?
Đáp: Hai chữ sắc dục là căn bản của việc sanh tử. Trong các điều ác, việc tà dâm tư tình gian dối là bậc nhất. Từ xưa tới nay nó là việc mất đạo tan đức, lại chuốc họa vào thân, không thể kể cho hết. Ngay nơi việc thích rượu chè, ham tiền của còn có thể chế. Chỉ có một cửa ải sắc dục còn khốc liệt hơn gấp bội. Bởi chúng sanh gốc từ dâm dục, mà tánh mệnh phải tiếp nối sanh tử. Tập quán từ trước quá thuần thục, nếu không dùng trí tuệ quán chiếu thì dục nghiệp làm sao rõ? Kẻ tại gia khó đoạn hẳn sắc dục, nhưng cần yếu là phải giữ cho chân chánh. Chẳng phải vợ nhà, nhất định không thể làm hạnh tà. Có một bọn tục tử, thấy vợ con người dáng dễ coi, liền khởi tà tâm nghĩ mộ tham cầu. Như vậy thì lý trời đã mê, lòng người đã mất.
Kinh Phật nói: “Gian dâm vợ người bị quả báo tuyệt tự, gian dâm con gái người bị quả báo con cháu dâm dật, phóng túng.” Ông có thể đại khái, nhìn những nhà người hiếu dâm hạnh xấu. Bởi tiếp nối dòng tệ hại, nên lần lần tiếng như lan đến mọi người.
Cổ nhân nói: “Ta chẳng dâm vợ người, người chẳng dâm vợ ta.” Lại có một hạng chúng sanh mang nghiệp si, thấy người đàn bà khác vốn không phải vợ mình, cho người ấy đẹp rồi bày điều gian dâm lừa đảo, trở lại bỏ bê vợ nhà chẳng đoái. Hoặc thích gần gũi bỡn cợt trẻ ngoan. Hoặc tư thông với vợ người làm công, khiến kẻ dưới lừa đảo người trên… muôn ngàn dâm nghiệp kể ra không xiết.
Lại có kẻ đọc sách tài tử, cũng cho họ là người thông minh. Sách ấy miêu tả chuyện tư tình của phụ nữ nơi khuê môn, biên vào ca dao, làm thành sách vở, làm mê hoặc người thật thà, dẫn họ vào tà niệm. Tội ác của kẻ ấy thật như núi cao, không thế nào cầu đạo mà hết được. Nếu là người có trí tuệ, phải nên tự hổ thẹn và tự ăn năn, mà đoạn tuyệt ngay nết tà dâm, thì cõi người cõi trời, đâu đó có phần. Kẻ ngu này đắng miệng mà khuyên các ông: “Chỉ nhân nghiệp dâm mà tội ác tạo ra nhiều lắm!”
Hỏi: Dâm dục tội ác như vậy, khẩu nghiệp như thế nào?
Đáp: Trong mười nghiệp ác, chỉ có miệng là đã chiếm hết bốn rồi. Nói dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi, nói ác là giết người không máu, kẻ ấy còn hơn người làm ác nhiều. Làm bại hoại việc lành của người, nói chỗ yếu của người, bàn việc quấy của người, luận việc lỗi của người, lừa đảo tiền của của người, cho đến việc bại hoại đạo đức, chôn vùi người mà cũng chôn vùi mình, đều do không ngăn được cái bệnh lắm mồm của mình. Cho nên tự chuốc họa rất nhiều.
Kinh nói: “Phật bảo ngài A-nan rằng, người đời tai họa từ nơi miệng mà lưu xuất, phải nên giữ gìn cái miệng còn hơn giữ lửa. Lửa dữ thiêu đốt tài sản ở thế gian, lửa ác khẩu thiêu đốt tài sản bảy báu của mình.” Tất cả chúng sanh, tai họa từ nơi miệng mà ra, nó là chiếc búa chém mình, là cái họa tai tiêu diệt mình. Nay có người muốn nuôi dưỡng đức hạnh, phải ẩn ác dương thiện, phát ngôn nên nói lời chân thật, đàm luận không nên nói bậy. có hỏi có đáp, lời nói giản dị, khí sắc ôn hòa, thì chư Phật, chư thiên gia hộ và cũng được người thương yêu kính trọng.
Hỏi: Tánh tôi thích uống rượu, như vậy thế nào?
Đáp: Tâm tánh mê mờ chí khí bị chôn vùi, nhà cửa tan nát lại còn mất mạng, phần nhiều là do uống rượu mà ra và chuốc họa tai không ít. Người đời mê rượu không chán, cho đến hình hài bị hủy thương, điên đảo cả lễ pháp, nằm lăn nơi phố chợ la ó om sòm, phạm lỗi người trên mất hết danh dự, loạn dâm mất đức, muôn ngàn việc lỗi lầm nghịch ngợm là do tham uống rượu. Người xưa nói: “Ngăn ông chớ uống rượu, nó là thuốc làm điên loạn, chứ chẳng phải vị ngon. Nó hay khiến người tánh tình thuần hậu thành kẻ hung dữ dối láo.” Trong Luật Tứ Phần nói: “Uống rượu có ba mươi sáu lỗi. Chẳng những người đời uống rượu phạm lỗi, cho đến La-hán tham uống rượu cũng mất hết thần thông.” Chúng sanh mê muội, kẻ phàm phu sơ học, phải giữ gìn và kiêng cữ uống rượu.
Hỏi: Xin nói ba mươi sáu lỗi gồm những gì?
Đáp: Uống rượu có ba mươi sáu lỗi là: Bất hiếu với cha mẹ, khinh mạn thầy dạy, chẳng kính trọng Tam bảo, bài báng hàng Sa-môn, bươi móc tội người, thường nói lời vọng, vu người làm ác, đem lời đâm thọc hai đầu, nói lời hung ác hại người, là gốc của bệnh hoạn, là rễ của đấu tranh, tiếng ác đồn khắp, người hiền đều chán, bài xích thánh hiền, khinh lờn trời đất, hư mất sự nghiệp, phá nát gia tài, thường không biết hổ thẹn, chẳng biết sỉ nhục, vô cớ đánh người ở, giết hại chúng sanh, gian dâm vợ người, trộm tài vật của người, lơ là với người hiền, gần gũi bạn ác, thường ôm lòng sân hận, ngày đêm lo rầu, lấy đông đưa tây, giữ nam mắc bắc, nằm đường té rãnh, rơi xe té ngựa, gặp sông rơi xuống nước, cầm đèn bị cháy, tháng nắng nóng chết, ngày lạnh rét chết. Người uống rượu có những lỗi như vậy. Người quân tử nuôi đức phải tự răn mình đừng uống rượu.
Hỏi: Tôi có chỗ tốt là khi bị người làm nhục mà không giận dữ, nếu có chút phiền nhưng khi biết rồi cũng hết. Vậy thế nào?
Đáp: Giận dữ là gốc của muôn điều chướng ngại, nhẫn nhục là đứng đầu của trăm phước. Người đời nói nhẫn, nhưng mà chữ nhẫn rất khó, không phải là người trí tuệ quyết không thể nhẫn được. Trừ ngoài Phật tổ được như như chẳng động. Kẻ hào kiệt, người sơ học phần nhiều do không nhẫn được mà bị thất bại và bị hãm vào chỗ bất như ý. Kinh Phật nói: “Nhẫn nhục là bậc nhất.” Tục ngữ có câu: “Ăn được ba đấu tương chua, giấm đặc; mới làm được tể tướng.” Kẻ phàm phu ở đời còn như vậy, huống là người học đạo không rộng lòng nhẫn nhục ư?
Hỏi: Người đời nhiều lòng tham, gom góp tài sản cho thật nhiều, tự bảo là để lại cho con cháu sau này được giàu có. Được hay chăng?
Đáp: Kẻ ngu si ở thế gian ỷ cậy quyền thế, mê tâm chôn đức, có trăm cách khéo léo để lấy. Dù được giàu có bất ngờ, nhưng có bao giờ được lâu dài. Nếu là người trí tuệ nên phải chứa công nuôi đức, tùy khả năng mình mà kinh doanh, theo đúng mệnh trời, tự nhiên chư thánh phò hộ, âm thầm tăng trưởng phước lộc. Người đời chỉ biết vì con cháu lo làm giàu, chứ chẳng biết vì con cháu làm lành tạo phúc. Thế nào gọi là phúc? Kính trọng Tam bảo, chứa nhóm âm đức, cẩn trọng quy tắc của gia đình, dạy người cố gắng làm việc và học hành, đấy là tạo phúc.
Thế nào là cầu làm giàu? Không thành tín, mê mờ thiên lý, dùng tâm máy móc, gom góp tiền của không hợp lý, đấy là cầu giàu có. Kẻ cầu giàu chẳng thạnh, người tạo phúc sẽ hiển vinh. Há chẳng thấy kẻ giàu to ở đời, con cháu hư hèn, cờ bạc phóng túng, một ngày kia sẽ phá cửa nhà, cho đến mất thân mạng. Chuyện này thường có xảy ra, sao không lấy đó làm gương? Tục ngữ nói: “Được của không chánh đáng, bỏ được là tốt.” Người trí xem việc này chưa khỏi lạnh lòng.
Hỏi: Như đã mở bày, muốn làm người tốt phải xem tất cả như không và thường thường kiểm điểm. Phải vậy chăng?
Đáp: Muốn làm người tốt phải tự soi xét. Suốt một ngày từ sáng đến chiều, phải soi tâm mình và tự xét lý kia. Khi khởi tâm động niệm có cùng tâm trời hợp không? Hành động hằng ngày có cùng với người hợp không? Hằng thường tỉnh táo, không rơi vào tư riêng, lâu ngày tâm được chánh, nhân dục tự nhiên hết.
Nếu là người buông lung tâm ý, chẳng sợ trời phạt, chẳng sợ báo ứng, phi lễ mà hành động mà tạo tác, lâu ngày chầy tháng tích chứa nghiệp ác quá nặng, một mai phúc hết các nghiệp đến bên thân, hiện đời gặp tai họa khi chết đọa ba đường ác. Kinh Phật nói: “Nghiệp đã tạo, giả sử trải qua trăm ngàn kiếp cũng không mất, khi nhân duyên hội ngộ mình phải trở lại chịu quả báo.” Thế nên biết, nhân quả chẳng sai, người đời sau hãy tin là chắc thật.
Hỏi: Việc nhân quả có nhiều người không tin. Vậy như thế nào?
Đáp: Việc nhân quả báo ứng chẳng sai chẳng lầm, giống như bóng theo hình, một mảy may không lộn lạo. Các bậc tiên thánh đã nói việc này rất rành rõ, người sau ngu mê chẳng tin, phải nên tế nhị mà xét. Người đời có kẻ giàu sang, người bần tiện. Có kẻ chết yểu, người trường thọ. Có kẻ được vinh dự sủng ái, có người gian nan nhục nhã. Có người khốn khổ, kẻ an nhàn. Có người trẻ mà được đăng khoa, có người suốt đời thi chẳng đậu. Có người rất giàu có mà không con, kẻ nghèo xơ xác mà nhiều người kế hậu. Có người ấu niên, trung niên, lão niên khổ vui chẳng đồng. Có người nghèo hay giàu sang suốt một đời, còn muôn ngàn việc sai khác nhau chẳng nhất định. Ấy tất cả đều do nghiệp cảm nên.
Người xưa nói: “Mùa xuân gieo một hạt thóc, mùa thu được muôn vạn hạt. Người đời làm thiện ác, quả báo cũng như vậy”. (Xuân chủng nhất lạp túc, thu thâu vạn khỏa tử, nhân sanh vi thiện ác, quả báo hoàn như thử). Thế nên biết, sự vui buồn trong ba cõi, sự thăng trầm trong sáu nẻo, đều do tự mình tạo và tự mình chịu lấy, không phải từ bên ngoài đem đến cho mình.
Hỏi: Tôi thấy người trung chánh lương thiện lại nghèo không một gánh lúa, lại có bọn điêu ngoa hung ác mà ruộng đất cò bay thẳng cánh. Như vậy nhân quả há chẳng lầm ư?
Đáp: Tạo thiện ác chẳng đồng nhau, nên quả báo cũng chẳng nhất định. Có lúc báo ngay nơi thân mình, có khi báo nơi thân con cháu. Có khi báo đời này, có lúc báo đời sau. Như có người ăn cơm hẩm, kẻ ăn cao lương. Người mặc áo gấm, kẻ áo lông. Lại có kẻ lầu son gác tía, lên xe xuống ngựa. Tất cả đều do đời trước tự làm điều thiện hay điều ác, mà nay chịu quả báo khổ hay vui, một mảy may chẳng sai chạy. Chỉ thấy kẻ hung ác mà được giàu sang, đâu biết được người ấy đời trước đã tu phước? Hoặc thấy người rất từ thiện mà nghèo khó lại mạng yếu, ấy là do đời quá khứ tạo nghiệp ác mà ra.
Trang Tử nói: “Tên đạo chích theo đoàn quân chín ngàn người, hoành hành thiên hạ, xâm bạo các nước chư hầu, mà tên ấy vẫn trường thọ.” Trong Luận Ngữ sớ nói: “Hạng Thác bảy tuổi, làm thầy đức Khổng Tử, mà chết yểu.” Cho nên có người trong sạch chân chánh mà thân bần cùng, hoặc có người tham ô mà giàu có. Chớ chấp hiện đời này có sai khác, mà bài báng nhân đời trước thì sai lầm vậy.
Hỏi: Sự báo ứng của thiện ác, lý kia không sai. Có một bọn ngu si chẳng tin nhân quả, trở lại nói: “Lương tâm chẳng thể làm ra gạo. Nếu lương tâm hay vào nồi thành cơm thì cũng có thể nên làm.”
Đáp: Khá tức cười, thật là quá ngu si điên đảo. Ông nếu lương tâm từ sáng đến tối không dối thì phù hợp với lòng trời, lúc ấy thần cũng vui vẻ, người cũng hân hoan. Niềm hòa khí được cảm triệu thì tự nhiên tươi vui. Kinh thi nói: “Niềm vui chỉ đến với người quân tử và phước lộc sẽ đến với họ.” Nếu do chôn vùi đức hạnh mà được tiền của, bỏ tấm lòng mà được giàu có, thì mới trở lại bài báng lương tâm vô dụng, không thể vào nồi thành cơm. Đâu biết hạng người này đã mê mờ lý trời, trong bóng tối thần giận quỷ hờn, giảm phúc tổn thọ, nghèo thiếu nạn tai, cho đến con cháu hư hèn, việc lạ đâu chẳng có.
Sách Văn Xương nói: “Người tu thân sửa hạnh, trời nhất định giáng cho trăm điều lành. Trái lại kẻ phản đạo bại đức, thần cũng đoạt năm phước.” Thế nên phước thiện hay họa tai, lý nó tất nhiên nhất định như vậy. Nếu chịu cải ác làm lành chẳng khinh lờn, tự nhiên Phật trời ngầm phò hộ, phước thọ được tăng trưởng.
Tôi giải thích sơ qua đoạn cuối. Hiện nay nhiều người cũng hay nói, lương tâm không thể để vô nồi nấu thành cơm được, miễn làm sao có tiền chứ theo lương tâm riết rồi chết đói. Hôm trước có cư sĩ đến than phiền với tôi, ông làm việc trong thuế quan, bạn bè ông có nhà lầu xe hơi, còn ông vì ngay thẳng cho nên đi chiếc xe gắn máy lẹt đẹt, ăn cơm với rau muống. Bà vợ rằn ri: “Lương tâm lương tư gì, người ta giàu có, còn ông thì cứ như vậy. Mai mốt con đi học không có tiền mà đóng.” Mỗi khi chở bà đi đâu mà chiếc xe giở chứng, bà lại cằn nhằn: “Đó! Ông làm cái gì cũng nói lương tâm đi, cho ông chạy chiếc xe này có ngày té lỗ đầu mà chết.”
Chính vì cho rằng, lương tâm không thể nấu thành cơm được, rồi họ muốn làm gì thì làm, không kể đến nhân quả. Cho nên ngài nói, thật là quá ngu si điên đảo.
Người đời chỉ biết hiện tại mà không nghĩ quá khứ, không xét vị lai. Chính ngay hiện tại, nếu người thật tình có lương tâm tốt thì phước lộc cũng sẽ có. Chúng ta xét kỹ sẽ thấy, vào thời chiến tranh những người giàu có mà bạo ác thì qua một thời xem như điêu tàn; còn nhiều người tuy không giàu mà có lương tâm, sống lương thiện thì họ còn bền bỉ. Vì vậy đừng tưởng rằng, lương tâm không bỏ vô nồi nấu thành cơm được, mà sự thật chính lương tâm đó làm cho mình có gạo ăn lâu dài; còn thất đức thì tuy có nhiều, nhưng đến lúc cũng sẽ trở thành tay không.
Ở đây ngài Tổ Nguyên nói cho người thế tục nghe, nên ngài dùng những chữ “phù hợp với lòng trời” v.v… để cho người ta dễ hiểu, chứ không phải ngài tin trời ban phước. Như nói, niềm hòa khí được cảm triệu thì tự nhiên tươi vui. Tươi vui tất nhiên được mọi người xung quanh kính mến. Ngài dẫn thêm, sách Văn Xương nói: Người tu thân sửa hạnh, trời nhất định giáng cho trăm điều lành. Trái lại kẻ phản đạo bại đức, thần cũng đoạt năm phước. Năm phước là: Giàu có, sang trọng, sống lâu, vui vẻ và bình an.
Tóm lại, lương tâm là cái cần thiết, không thể nói lương tâm không thành cơm rồi bỏ lương tâm, đó là điều rất nguy hiểm!
Hỏi: Người có lỗi biết ăn năn có thể được chăng?
Đáp: Đã là người ai chẳng lỗi lầm, biết lỗi lầm ăn năn chừa cải thì điều lành nào chẳng lớn? Sự lỗi lầm ác hại chẳng phải có một. Nên nơi thân miệng ý phải luôn luôn tỉnh táo, nhất định giờ phút nào cũng phải soi xét, xem hành động mình có thích đáng hay không. Nếu là thiện nên làm, còn ác thì mau cải đổi. Sự đổi ác theo thiện như con bệnh ra mồ hôi, tự nhiên sẽ được may mắn vui vẻ, chư thánh sẽ phò hộ cho.
Hỏi: Giả sử chiếu xét chẳng đến, một lúc sanh tâm động niệm, chưa biết phải hàng phục tâm ấy như thế nào?
Đáp: Người xưa trị tâm rất khít khao, cho nên gặt hái được nhiều kết quả to lớn. Tất cả những tâm thiện ác của con người đều do niệm.
Ngài Tổ Nguyên thuộc tông Lâm Tế, cho nên về phương tiện tu ngài chú trọng phần tu thoại đầu. Vì vậy, ở đoạn cuối của chương Cảnh Tỉnh Tục Mê này, ngài đặt ra sự tu hành để cho người thế tục biết mà tu và khuyên họ trở về cái chân thường, cho nên câu hỏi được đặt ra là đối trong Phật pháp mà hỏi.
Chúng ta kiểm lại coi, có khi nào mình nghĩ ác hay làm thiện, mà chẳng phát xuất từ niệm khởi không? Nếu không khởi nghĩ thì làm gì có nghĩ ác, làm gì có nghĩ thiện? Khởi nghĩ là niệm, đó là manh mối ban đầu của thiện và ác.
Khi niệm dấy động nên mau mau tỉnh giác, tỉnh giác nó liền thành không. Thu nhiếp như vậy lâu ngày chầy tháng tự nhiên tâm chánh. Kinh Thư nói: “Buông lung niệm là người điên, chế phục được niệm là bậc thánh.” Lời nói này rất chí lý và nên theo đó mà hành.
Niệm vừa dấy lên phải sớm tỉnh giác, không theo nó thì niệm liền tan biến. Người khéo biết điều phục như vậy mỗi ngày, lâu dần tự nhiên tâm chánh, tới chỗ vô niệm. Ngài chỉ thẳng vào lối tu của thiền tông là trở về tâm. Ngài lại dẫn Kinh Thư để làm chứng: Buông lung niệm là người điên, chế phục được niệm là bậc thánh. Kẻ nào để tâm niệm nghĩ xằng bậy là buông lung, người nào chế phục được tâm niệm mình là bậc thánh. Lời nói này rất chí lý và nên theo đó mà hành, theo đó mà tu. Đây là ngài đã chỉ thẳng về tâm, nhưng e người không có phương tiện tu chưa được, nên đặt ra câu hỏi kế. Câu hỏi đáp trước là chỉ thẳng, còn câu này là chỉ cho phương tiện để tu.
Hỏi: Người tại gia năm dục cột trói, không thể thoát liền được, chưa biết có phương tiện gì để tu lần lần hay không?
Đáp: Người tại gia tu hành việc ấy rất khó, phải dũng mãnh kiên chí và thường lâu mới được. Nên trong lúc động tịnh hằng ngày, trong lúc rảnh rang hay lúc bận rộn, chỉ riêng đề khởi một câu A-di-đà Phật, rồi hồi quang phản chiếu, chỉ giữ một niệm. Giả như có nhiều vòng lửa xoay trên đầu, nhất định cũng không bỏ một niệm này. Mặc tình cho tám gió đến xung kích ta, chẳng cho mất một niệm này. Lâu ngày chầy tháng một niệm được thuần chân, trở lại đem một niệm này phá nát ra, lúc ấy tự tánh Di-đà mới hiện.
Muốn tu phương tiện thì phải dũng mãnh kiên chí lâu bền. Khi động tịnh hoặc làm tất cả việc đều đề khởi một câu Nam-mô A-di-đà Phật, rồi hỏi “niệm Phật đó là gì?” Chỉ giữ một niệm phản chiếu này thôi. Giả sử có nhiều vòng lửa xoay trên đầu, nhất định cũng không bỏ một niệm này. Được như vậy lâu ngày chầy tháng, niệm đó thuần nhất. Thuần nhất rồi lại còn phải phá nát nó ra, chừng đó mới xong.
Tông Lâm Tế sau này đặt câu thoại đầu làm chính yếu. Do các ngài thấy trình độ của người tu kém, chỉ thẳng không hiểu, như đoạn trước dạy nhiếp niệm mà nhiếp không nổi, nên buộc lòng phải dùng câu niệm Phật hay một câu gì khác, cho họ nghiền ngẫm chết sống theo câu đó, lâu ngày chầy tháng thuần nhất thành một khối, phá tan khối đó ra gọi là ngộ.
Tôi nhắc lại và so sánh về hai lối tu trên, để người không hiểu sanh ra nghi ngờ. Lối tu trước, biết pháp thiện ác đều từ niệm khởi, không theo thì nó thành không, cứ thuần nhất kìm giữ không theo niệm khởi, lâu ngày chầy tháng tới chỗ lặng lẽ vô niệm. Còn lối tu sau là dùng một niệm, rồi để cho niệm đó thành khối, phá nát khối nghi kia cũng trở về vô niệm, chứ không có cái gì khác. Về hình thức phương tiện thì nó kìm mạnh hơn. Người không biết tưởng cái này cao hoặc hay hơn, nhưng thật ra chỉ là phương tiện mà thôi.
Giả sử hành như vậy suốt một đời chẳng ngộ, khi báo tận mạng chung tự giữ một niệm thẳng đến đường chánh. Trở lại làm người một nghe ngàn ngộ, thấy tánh thành Phật đã có phần. Đây là yếu chỉ của việc trở về tâm. Trái lại chớ hướng bên ngoài giong ruổi tìm cầu. Tự mình phải lời nói và hành động không trái thì mới gọi là chân chánh thọ dụng.
Ngài đặt giả sử, mình tu như vậy suốt đời mà chưa ngộ thì khi chết vẫn giữ một tâm niệm đó thẳng đến đường chánh, về sau tái sanh một nghe ngàn ngộ, thấy tánh thành Phật đã có phần.
Chủ yếu của phương pháp này là trở về tâm. Trở về tâm đúng ra là áp dụng cách nhiếp niệm ở trước, niệm tới liền biết, biết nó thành không. Nhưng vì người làm không nổi nên ngài mới phương tiện dùng thoại đầu.
Như vậy qua phần nhắc nhở cảnh tỉnh người thế tục, cuối cùng ngài cũng dạy họ tu trở về tâm, dứt vọng niệm để được chân. Đó là phương pháp quy tâm, tức trở về nguồn tâm.