Nanh Vuốt Nhà Thiền Giảng Giải

Phần 2 Thi Kệ Thiền



Thiền sư Phật Nhãn Thanh Viễn

Tọa thiền

Tâm quang hư ảnh

Thể tuyệt thiên viên

Kim ba táp táp

Động tịch thường thiền.

Niệm khởi niệm diệt

Bất dụng chỉ tuyệt

Nhậm vận thao thao

Hà tằng khởi diệt.

Khởi diệt tịch diệt

Hiện Đại Ca-diếp

Tọa ngọa kinh hành

Vị tằng gián yết.

Thiền hà bất tọa

Tọa hà bất thiền

Liễu đắc như thị

Thủy hiệu Tọa thiền.

Tọa giả hà nhân?

Thiền thị hà vật

Nhi dục tọa chi

Dụng Phật mịch Phật.

Phật bất dung mịch

Mịch chi chuyển thất

Tọa bất ngã quán

Thiền phi ngoại thuật.

Sơ tâm náo loạn

Vị miễn hồi hoán

Sở dĩ đa phương

Giáo cừ tĩnh quán.

Đoan tọa thâu thần

Sơ tắc phân vân

Cửu cửu điềm đạm

Hư nhàn lục môn.

Lục môn sảo yết

Ư trung phân biệt

Phân biệt tài sanh

Tự thành khởi diệt.

Khởi diệt chuyển biến

Tùng tự tâm hiện

Hoàn dụng tự tâm

Phản quán nhất biến.

Nhất phản bất tái

Viên quang đánh đới

Linh diệm đằng huy

Tâm tâm vô ngại.

Hoành cai thụ nhập

Sanh tử vĩnh tức

Nhất lạp hoàn đơn

Điểm kim thành trấp.

Thân tâm khách trần

Thấu lậu vô môn

Mê ngộ thả thuyết

Nghịch thuận hưu luận.

Tế tư tích nhật

Lãnh tọa tầm mịch

Tuy nhiên bất biệt

Dã đại lang tịch.

Sát-na phàm thánh

Vô nhân năng tín

Táp địa mang mang

Đại tu cẩn thận.

Như kỳ bất tri

Đoan tọa tư duy

Nhất nhật trúc trước.

Dịch:

Tụng tọa thiền

Tâm sáng rỗng chiếu

Thể dứt thiên viên

Sóng vàng lượn lượn

Động lặng thường thiền.

Niệm khởi niệm diệt

Chẳng cần dứt hết

Mặc theo cuồn cuộn

Đâu từng khởi diệt.

Khởi diệt lặng sạch

Hiện Đại Ca-diếp

Ngồi nằm kinh hành

Chưa từng ngưng cách.

Thiền nào chẳng ngồi

Ngồi nào chẳng thiền

Hiểu được như thế

Mới gọi Tọa thiền.

Người ngồi là ai?

Thiền là gì vậy

Mà muốn ngồi thiền

Tìm Phật được sao.

Phật chẳng cần tìm

Tìm thì càng sai

Ngồi không người quán

Thiền chẳng thuật ngoài.

Sơ tâm ồn loạn

Chưa khỏi lôi cuốn

Sở dĩ nhiều phương

Dạy ông lặng quán.

Ngồi ngay thâu thần

Buổi đầu lăng xăng

Lâu dần điềm đạm

Sáu cửa rỗng nhàn.

Sáu cửa tạm dừng

Ở trong phân biệt

Phân biệt vừa sanh

Dường thành khởi diệt.

Khởi diệt chuyển biến

Từ tâm mình hiện

Lại dùng tâm mình

Xem lại một chuyến.

Một phen chẳng nối

Viên quang đầu đội

Lửa linh sáng bừng

Tâm tâm không ngại.

Ngang trùm dọc suốt

Sanh tử hằng dứt

Một hạt linh đơn

Chỉ vàng thành nước.

Thân tâm khách trần

Thấu suốt không cửa

Mê ngộ thôi nói

Nghịch thuận miễn bàn.

Nghĩ kỹ ngày xưa

Ngồi lạnh mải tìm

Tuy nhiên chẳng khác

Cũng rất bừa bãi.

Sát-na phàm thánh

Không người tin nhận

Khắp giáp mênh mông

Cần phải cẩn thận.

Nếu như chẳng biết

Ngồi ngay suy tư

Một ngày chạm đến

Mong thay! Mong thay!

*

 

Diên xúc tự nhĩ

Xuân nhật xuân sơn lý,

Xuân sự tận giai xuân.

Xuân quang chiếu xuân thủy,

Xuân khí kết xuân vân.

Xuân khách xuân tình động,

Xuân thị xuân cánh tân.

Duy hữu thức xuân nhân,

Vạn kiếp nguyên nhất xuân.

Dịch:

Dài ngắn tự nhiên

Ngày xuân xuân trong núi,

Việc xuân thảy đều xuân.

Nước xuân ánh xuân chiếu,

Khi xuân kết mây xuân.

Khách xuân lòng xuân dấy,

Thi xuân xuân càng tươi.

Chỉ có người biết xuân,

Muôn kiếp một mùa xuân.

*

Thuật hoài thị học giả

Tế tư ngũ thập tam niên sự,

Tính nhập sơ trung hậu dạ tâm.

Tu tín sát-na thông quá vị,

Cánh vô hào phát tác truy tầm.

Tùy tiêu cựu nghiệp căn tiên đoạn,

Vĩnh tuyệt tân ương đạo dĩ thâm.

Thử thị an thân lập mạng xứ,

Cố xuy nhất khúc báo tri âm.

Dịch:

Thuật lòng mình chỉ học giả

Nghĩ kỹ việc năm mươi ba năm,

Đầu giữa cuối đêm chỉ một tâm.

Mới tin sát-na ba thời suốt,

Lại không mảy tóc khởi kiếm tầm.

Tùy tiêu nghiệp cũ gốc dứt trước,

Hằng cắt họa mới, đạo thậm thâm.

Đây là chỗ an thân lập mạng,

Nên trổi một khúc đáp tri âm.

(Cổ Tôn Túc Ngữ Lục – quyển 30)

*

Thượng đường

Lưỡng ngạn lỗ hoa nhất diệp châu,

Lương phong thâm dạ nguyệt như câu.

Ty luân thiên xích dung phao phóng,

Quy đảo gia sơn tức tiện hưu.

Dịch:

Giữa bờ lau trắng một chiếc thuyền,

Đêm khuya gió mát trăng lưỡi liềm.

Sợi tơ ngàn thước mặc buông thả,

Về đến nhà rồi việc mới yên.

*

Thượng đường

 

Ngộ thời thử sự nguyên lai dị,

Mê hậu tư môn thật đại nan.

Xứ xứ lục dương kham hệ mã,

Gia gia môn khẩu thấu Trường An.

Dịch:

Khi ngộ việc này hóa ra dễ,

Lúc mê cửa ấy thật khó khăn,

Chốn chốn dương xanh kham cột ngựa,

Nhà nhà cửa cổng thấu Trường An.

(Cổ Tôn Túc Ngữ Lục – quyển 27)

*

Thiền sư Bạch Vân Thủ Đoan 

Thằng tử thấu song

Vị ái tầm quang chỉ thượng toản

Bất năng thấu xứ kỷ đa nan.

Hốt nhiên tràng trước lại thời lộ 

Thủy giác tùng tiền bị nhãn man.

Dich:

Con ruồi chui cửa sổ

Vì ưa ánh sáng dùi trên giấy

Không thể chui qua khó chẳng vừa. 

Bỗng nhiên gặp lại đường đi cũ

Mới biết từ lâu bị mắt lừa.

(Cổ Tôn Túc Ngữ Lục – quyển 33)

*

Thiền sư Chân Tịnh Khắc Văn 

Nguyên đán thượng đường

Tạc nhật kim triều sự bất đồng,

Nhân nhân y cựu chủ nhân ông,

Tuy nhiên bình đẳng thiêm tân tuế,

Mộng giác nguyên lai tổng thị không.

Dịch:

Hôm qua sáng nay việc chẳng đồng,

Mỗi người sẵn có chủ nhân ông, 

Tuy nhiên bình đẳng thêm tuổi mới,

Tỉnh mộng hóa ra thảy đều không.

(Cổ Tôn Túc Ngữ Lục – quyển 44)

*

Ký trình thừa sự

Lão đã tu tri bất lão thân, 

Đồng hành đồng tọa hữu tinh thần,

Tuy nhiên vô tướng vô dung mạo,

Năng vị quần sanh tác chủ nhân.

Dịch:

Sắp đặt công việc

Già rồi cần biết thân chẳng già,

Cùng ngồi cùng bước có tinh thần,

Tuy là không tướng không hình dáng,

Hay vì muôn loài làm chủ nhân.

(Cổ Tôn Túc Ngữ Lục – quyển 45)

*

Thiền sư Hoàng Long Huệ Nam 

Xuất trang hồi vân

Khứ thời nhất khê lưu thủy tổng,

Hồi lại mãn cốc bạch vân nghinh.

Nhất thân khử trụ phi khử trụ,

Nhị vật vô tình tự hữu tình.

Dịch:

Thăm trang sở về nói kệ

Lúc đi một dòng nước xuôi tiễn,

Khi về đầy hang mây trắng nghinh. 

Một thân đi ở chẳng đi ở,

Hai vật vô tình dường có tình.

(Hoàng Long Huệ Nam Thiền Sư Ngữ Lục)

*

Thiền sư Hối Đường Tổ Tâm 

Thượng đường

Phong quyện tàn vân vũ trụ khoan,

Bích thiên như thủy nguyệt như hoàn.

Tổ sư tâm ấn phân minh tại,

Đối thử bằng quân tử tế khan.

Dịch:

Gió cuốn mây tan vũ trụ thênh,

Trời xanh như nước trăng một vầng.

Tâm ấn Tổ sư còn rành rõ,

Chỗ này nhờ anh kỹ lưỡng xem.

(Hoàng Long Hối Đường Tâm Hòa Thượng Ngữ Lục)

*

Thiền sư Trường Linh Thủ Trác 

Thượng đường

Đích đích vô lại khứ 

Minh minh hữu cựu tân 

Khử niên kim nhật sự 

Kim nhật khử niên nhân.

Thoát thể toàn thâu phóng

Tùy lưu hỗn chủ tân 

Xuân quang trùng lậu tiết 

Hữu khẩu bất tu trần.

Dịch:

Quả thật không đi đến 

Rõ ràng có cũ mới 

Năm ngoái việc hôm nay 

Hôm nay người năm ngoái.

Thoát thể toàn nắm buông 

Theo dòng lẫn chủ khách 

Ánh xuân tiết lộ thêm 

Có miệng không cần nói.

(Trường Linh Hòa Thượng Ngữ Lục)

*

Thiền sư Chánh Giác Hoằng Trí 

Thượng đường

Thanh sơn bất dụng bạch vân triều

Bạch vân bất dụng thanh sơn quản 

Vân thường tại sơn, sơn tại vân 

Thanh sơn tự nhàn, vân tự hoãn.

Dịch:

 

Núi xanh chẳng cần mây trắng chầu

Mây trắng chẳng cần núi xanh đâu 

Núi thường tại mây, mây tại núi 

Núi mây thong thả tự ngàn thu.

(Tục San Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu – tập 2)

*

Thiền sư Bạch Vân Thủ Đoan 

Thượng đường 

Bản thị điếu ngư thuyền thượng khách

Ngẫu trừ tu phát trước ca-sa 

Tổ Phật vị trung lưu bất trụ 

Dạ lai y cựu túc lô hoa.

Y cựu túc lô hoa, hữu thùy khả cộng?

Minh nguyệt mãn thuyền vô xứ vấn

Sa âu thời khiếu lưỡng tam thanh.

Dịch:

Là khách thả câu từ thuở trước 

Bỗng gặp nhân duyên khoác ca-sa

Trong ngôi Phật tổ lưu chẳng

Đêm về như cũ ngủ bờ lau.

Như cũ ngủ bờ lau, có ai cùng chung?

Trăng sáng đầy thuyền không chỗ hỏi

Đôi ba tiếng vọng cò bể kêu.

*

Ty hào hữu thú giai năng tiến.

Tất cánh vô quy nhược khả đương.

Trục nhật thối thân hành hứng tận

Hốt nhiên đắc kiến bản gia nương.

Tác ma sanh thị bản gia nương?

Nãi vân:

– Vạn phước! Vạn phước!

Dịch:

Còn mảy may đường còn tiến bước,

Cuối cùng không thể về nổi rồi!

Hằng ngày lui thân nguồn hứng tận

Hốt nhiên gặp được cha mẹ thôi.

Thế nào là cha mẹ mình?

Liền nói:

– Vạn phước! Vạn phước!

*

Kỵ khẩu tự nhiên chư bệnh giảm

Đa tình vị miễn hữu thời lao

 Bần cư động tiện thành vi thuận

Chỉ đắc thanh nhàn nhất vị cao.

Dịch:

Giữ miệng tự nhiên nhiều bệnh bớt

 Lắm tình chưa khỏi có khi phiền 

Cảnh nghèo vừa động thành trái thuận 

Chỉ được thanh nhàn một vị tiên.

(Tục San Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu – tập 3)

*

Thiền sư Phật Tánh Pháp Thái 

(đệ tử Viên Ngộ Khắc Cần)

Thượng đường 

Nhất nhạn độ trường không,

Ảnh lạc hàn giang thủy.

Thủy vô trầm ảnh tâm,

Nhạn vô di tung ý.

Tung ảnh lưỡng tương vong, 

Bằng hà vi đích chỉ? 

Ly biên kim cúc hoàng,

Giang thượng phù dung thủy.

Dịch:

Cánh nhạn bay trên không,

Bóng rơi dòng sông lạnh.

Nước không tâm dìm hình,

Nhạn chẳng ý lưu vết.

Hình vết quên cả hai, 

Nương đâu làm chỉ đích? 

Bên giậu kim cúc vàng,

Bờ sông phù dung biếc.

(Tục San Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu – tập 3)

*

Thiền sư Vân Cái Trí Bản (đệ tử Bạch Vân Thủ Đoan)

Thượng đường 

Mãn đầu bạch phát điện bì càng

Tổ đạo nan phù cưỡng tự khoan,

Đa tạ lưu oanh năng trợ ngã,

Hiểu lai chi thượng ngữ thiên ban.

Đầy đầu tóc bạc mặt nhăn nheo,

Gượng nhàn vì đạo Tổ khó phòn

Cảm tạ hoàng oanh hay trợ giúp,

Sáng sớm trên cành hót líu lo.

(Tục San Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu – tập 3)

 

Thiền sư Bản Không ở Mã Giáp Sơn 

Bản lại tánh tụng 

Tâm thị tánh thể,

Tánh thị tâm dụng,

Tâm tánh nhất như, 

Thùy biệt thùy cộng.

Vọng ngoại mê nguyên, 

Chỉ giả nan đỗng, 

Cổ kim phàm thánh,

Như huyễn như mộng.

Dịch:

Tụng về tánh xưa nay

Tâm là thể của tánh,

Tánh là dụng của tâm,

Tâm tánh nguyên nhất như, 

Cái gì riêng gì chung?

Trông ra ngoài quên nguồn, 

Chỉ cái này khó suốt,

Xưa nay phàm và thánh,

Như mộng lại như huyễn. 

(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 58)

*

Tử Dương chân nhân Trương Bá Đoan 

Thiền định chỉ mê ca 

Như Lai thiền tánh như thủy 

Thể tĩnh phong ba tự chỉ 

Hưng cư trạm trạm thường thanh

Bất độc tọa thời phương thị.

Kim nhân tĩnh tọa thủ chứng

 Bất đạo toàn tại kiến tánh

Tánh ư kiến lý nhược minh

Kiến hướng tánh trung tự định.

Định thành tuệ dụng vô cùng

Thị danh chư Phật thần thông

 Kỷ dục cứu kỳ thể dụng 

Đản kiến thập phương hư không.

Không trung yểu vô nhất vật

Diệc vô hy di hoảng hốt 

Hy hoảng ký bất khả tầm

Tầm chi khước thành quai thất.

Chỉ thử quai thất lưỡng tự

Bất khả chấp vi bằng cử 

Bản tâm thương nãi như không

Khởi hữu đắc thất năng sở.

Đản tương vạn pháp khiển trừ

Khiển linh tinh tận vô dư 

Hoát nhiên viên minh tự hiện 

Tiện dữ chư Phật vô thù.

Sắc thân vi ngã chất cốc

Thả nhậm hòa quang hỗn tục

 Cử động nhất thiết vô tâm

Tranh thậm thị phi vinh nhục.

Sanh thân chỉ thị ký cư

Nghịch lữ chủ hiệu Tỳ-lô 

Tỳ-lô bất lai bất khứ 

Nãi tri sanh diệt vô dư. 

Hoặc vấn Tỳ-lô hà tự 

Chỉ vi hữu tướng bất thị 

Nhãn tiền điệp điệp trần trần

Trần diệp phi đồng phi dị.

Huống thử trần trần diệp điệp

Cá cá Thích-ca Ca-diếp 

Dị tắc vạn lại giai minh

Đồng tắc nhất phong độ nhiếp.

Nhược yếu nhận đắc ma-ni

Mạc đạo đắc pháp phương tri

 Hữu bệnh dụng tha dược liệu

 Bệnh sai được cánh hà thi? 

Tâm mê tu giả pháp chiếu

Tâm ngộ pháp cánh bất yếu

Hựu như hôn kính đắc ma

Ngân cấu tự nhiên diệt liễu.

Bản vi tâm pháp giai vọng

Cố linh ly tận chư tướng

Chư tướng ly liễu hà như 

Thị danh chỉ chân vô thượng. 

Nhược dục trang nghiêm Phật độ 

Bình đẳng hành từ cứu khổ 

Bồ-đề bản nguyện tuy thâm 

Thiết mạc tướng trung hữu thủ.

Thử vi phước tuệ song viên

Đương lai thọ ký cư tiên 

Đoạn thường tiêm trần hữu nhiễm 

Khước ư chư Phật vô duyên. 

Phiên niệm phàm phu mê chấp 

Tận bị tình ái nhiễm tập 

Chỉ vi tham trước tình đa

Thường sanh thai noãn hóa thấp.

Học đạo tu giáo mãnh liệt

Vô tình tâm cương tự thiết 

Trực nhiêu phụ mẫu thê nhi 

Hựu dữ tha nhân hà biệt.

Thường thủ nhất khỏa viên quang 

Bất kiến khả dục tư lương 

Vạn pháp nhất thời vô trước 

Thuyết thậm địa ngục thiên đường. 

Nhiên hậu ngã mệnh tại ngã 

Không trung vô thanh vô địa 

Xuất một chư Phật độ trung 

Bất ly Bồ-đề bản tọa.

Quán Âm tam thập nhị ứng 

Ngã đương diệc tùng trung chứng 

Hóa hiện bất khả tư nghì 

Tận xuất tiêu dao chi tính.

Ngã thị vô tâm thiền khách

Phàm sự bất hội giản trạch

Tích thời nhất cá hắc ngưu 

Kim nhật hồn thân tổng bạch.

Hữu thời tự ca tự tiểu 

Bàng nhân đạo ngã thần thiểu 

Tranh tri bị hạt chi hình 

Nội hoài vô giá chi bửu.

Cánh nhược kiến ngã đàm không

Kháp tợ hồn luân thôn tảo 

Thủ pháp duy Phật năng tri

Phàm ngu khởi giải tương biểu. 

Kiêm hữu tu thiền thượng nhân

Chỉ học đấu khẩu hợp thần

Khoa ngã vấn đáp mẫn cấp

Khước nguyên bất thức chủ nhân.

Tận thị tầm chi trích diệp

Bất giải cùng cứu bản căn 

Đắc căn chi điệp tự mậu

Vô căn chi diệp nan tồn.

Tiện trình kỷ ác linh châu

Chuyển ư nhân ngã nan trừ

Dữ ngã linh nguyên diệu giác

Viễn cách thiên lý chi thù.

Thử bối khả thương khả tiếu

Không thuyết tích niên học đạo

Tâm cao bất khẳng vấn nhân

Uổng sử nhất sanh hư lão.

Nãi thị ngu mê độn căn

Tà kiến nghiệp trọng vi nhân

Nhược hướng thử sanh bất ngộ

Hậu thế tranh miễn trầm luân.

Dịch:

Bài ca chỉ mê thiền định 

Như Lai thiền tánh như nước 

Thể lặng sóng gió tự dứt 

Sinh hoạt vẫn thường lặng trong 

Chẳng đợi khi ngồi mới được.

Người nay tĩnh tọa cầu chứng 

Chẳng nói toàn nhờ kiến tánh 

Tánh trong cái thấy rõ ràng 

Thấy ở trong tánh tự định.

Định thành tuệ dụng không cùng

Ấy gọi thần thông chư Phật 

Mong muốn tham cứu thể dụng 

Nên nhìn mười phương hư không.

Trong ấy toàn không một vật

Cũng không có tiếng có hình

Trạng mạo đã không thể tìm

Tìm đó lại thành trái mất.

Chỉ hai chữ trái mất này

Không thể chấp làm bằng cứ

Bản tâm còn như hư không

Có gì được mất năng sở.

Chỉ đem muôn pháp dẹp ngay

Dẹp cho không sót gì hết

Bỗng nhiên tròn sáng tự bày

Liền cùng chư Phật không khác.

Sắc thân, gông cùm của ta

Mặc tình hòa quang lẫn tục 

Vô tâm trong mọi hành vi

Còn gì phải quấy vinh nhục.

Thân này chỉ là ở trọ

Chủ quán hiệu là

Tỳ-lô Tỳ-không đi không đến 

Mới hay sanh diệt vô dư. 

Hoặc hỏi Tỳ-lô là gì? 

Nếu có tướng thì chẳng phải

Trước mắt cảnh vật tràn đầy 

Cảnh vật chẳng đồng chẳng khác.

Huống là những cảnh vật này

Mỗi mỗi Thích-ca Ca-diếp 

Khác thì muôn thứ kêu đầy

Đồng thì một gió trùm hết.

Nếu muốn nhận ngọc ma-ni

Chớ nói được pháp mới biết

Có bệnh cần thuốc trị liệu

Bệnh lành thuốc dùng làm chi? 

Tâm mê nhờ pháp chiếu soi

Tâm ngộ pháp đâu cần tới

Lại như gương được lau chùi

Tự nhiên sạch hết nhơ bụi.

Vốn là tâm pháp đều vọng

Nên khiến lìa hết các tướng

Tướng lìa sạch, như nào còn

Đây là chỉ chân vô thượng.

Nếu muốn trang nghiêm cõi

Phật Hành từ cứu khổ bình đẳng

Bản nguyện Bồ-đề tuy sâu

Cần yếu chở nhận lấy tướng.

Đây là tròn đầy tuệ phước 

Đời sau được thọ ký trước

Còn chút chấp mảy đoạn thường 

Là không có duyên với Phật.

Nghĩ lại phàm phu mê chấp

Hằng bị tình ái nhiễm tập 

Chỉ vì tham trước tình nhiều 

Thường sanh: thai, trứng, hóa, thấp.

Học đạo phải cho mãnh liệt 

Vô tình tâm cứng như sắt 

Dù là cha mẹ vợ con 

Vẫn như mọi người đâu khác.

Thường giữ viên ngọc sáng tròn

Suy nghĩ gì cũng chẳng được

Muôn pháp một lúc chẳng vương

Nói gì địa ngục thiên đường. 

Về sau mạng ta do ta 

Trong không chẳng tiếng, chẳng đọa 

Cõi chư Phật vẫn vào ra 

Mà tòa Bồ-đề yên tọa.

Quán Âm ba hai ứng thân 

Ta cũng sẽ theo đây chứng

Hóa hiện không thể nghĩ bàn

Trọn xuất từ tiêu dao tánh.

Ta là thiền khách vô tâm

Gặp việc không biết lựa chọn 

Khi xưa là một trâu đen 

Ngày nay toàn thân đều trắng.

Có khi tự ca tự cười 

Bàng quan bảo ta loạn trí

Đâu biết thân áo rách này 

Lại chứa hạt châu như ý.

Khi nghe ta nói về Không

Vô vị như nuốt trọng táo

Pháp này chỉ Phật mới thông

Phàm phu hiểu đâu mà bảo.

Có hàng thượng nhân tu thiền

Chỉ học khua môi múa m

Khoe ta hỏi đáp lẹ nhanh

Mà chủ nhân ông không rõ.

Trọn là nhặt lá tìm cành

Cội gốc không biết xét rành

Được cội sum sê cành lá

Không cội lá cành khó sanh.

Tự khoe nắm được linh châu

Đối với nhân ngã khó trừ

Là cùng linh nguyên diệu giác

Lại càng ngàn dặm xa mù.

Bọn này đáng thương đáng cười

Nói suông nhiều năm học đạo

Tâm cao chẳng chịu hỏi người

Luống uống một đời già hão.

Quả là kẻ mê độn căn 

Bởi nhân tà kiến nghiệp nặng

Nếu trọn chẳng ngộ đời này 

Đời sau trầm luân khó tránh.

(Ngự Tuyển Ngữ Lục, quyển 8 – Trương Bình Thúc Ngữ Lục)

*

Thể châu ca 

Bần tử y trung châu,

Bản tự viên minh hảo,

Bất hội tự tầm cầu,

Khước sổ tha nhân bảo.

Sổ tha bảo, chung vô ích,

Chỉ thị giáo quân không phí lực,

Tranh như nhận thủ tự gia trận,

Giá trị huỳnh kim thiên vạn ức.

Thử bảo châu, quang tối đại,

Biến chiếu tam thiên đại thiên giới,

Tùng lại bất giải thiểu phân hào,

Cương bị phù vẫn vô chướng ngại.

Tự tùng nhận đắc thử ma-ni,

Bào thể không hoa thùy cánh ái?

Phật châu hoàn dữ ngã châu đồng,

Ngã tánh tức quy Phật tánh hải.

Châu phi châu, hải phi hải,

Thản nhiên tâm lượng bao pháp giới,

Nhậm nhĩ trần hiệu mãn nhãn tiền,

Định tuệ viên minh thường tự tại.

Bất thị không, bất thị sắc,

Nội ngoại kiểu nhiên vô ủng tắc,

Lục thông thần minh diệu vô cùng,

Tự lợi lợi tha ninh giải cực.

Kiến tức liễu, vạn sự tất,

Tuyệt học vô vi độ chung nhật,

Phạ hề như vị triệu anh nhi, 

Động chỉ tùy duyên vô cố tốt.

Bất đoạn vọng, bất tu chân,

Chân vọng chi tâm tổng thuộc trần,

Tùng lai vạn pháp giai vô tướng,

Vô tướng chi trung hữu pháp thân.

Pháp thân tức thị thiên chân Phật,

Diệc phi nhân hề diệc phi vật,

Hạo nhiên sung tắc thiên địa gian,

Chỉ thị hy di tinh hoảng hốt.

Cấu bất nhiễm, quang tự minh,

Vô pháp bất tùng tâm lý sanh,

Tâm nhược bất sanh pháp tự diệt,

Tức tri tội phước bản vô hình.

Vô Phật hình, vô pháp thuyết,

Trượng phu trí kiến tự nhiên biệt,

Xuất ngôn tiện tác sư tử minh,

Bất tự dã hồ luận sanh diệt.

Dịch:

Bài ca lượm châu 

Kẻ nghèo áo có châu,

Vốn tự tròn sáng đẹp,

Chẳng biết tự tìm cầu,

Lại vì người đếm báu.

Đếm báu người, trọn vô ích,

Chỉ là khiến anh luống nhọc sức,

Đâu bằng nhận lấy báu nhà mình,

Giá trị vàng ròng ngàn muôn ức.

Bảo châu này, sáng rất tột,

Soi khắp tam thiên đại thiên giới,

Xưa nay chẳng thiếu một phân hào,

Hằng bị mây che không chướng ngại.

Từ khi nhận được ma-ni này, 

Thân bọt không hoa ai lại thích,

Châu Phật lại cùng châu ta đồng,

Tánh ta liền về biển tánh Phật.

Châu chẳng châu, biển chẳng biển,

Thản nhiên tâm lượng trùm pháp giới,

Mặc ông trần cảnh trước mắt đầy,

Định tuệ tròn sáng thường tự tại.

Chẳng phải không, chẳng phải sắc,

Trong ngoài sáng rỡ không bít lấp,

Lục thông thần minh diệu vô cùng,

Tự lợi lợi người đâu biết tột.

Thấy liền rõ, muôn việc xong,

Tuyệt học vô vi qua ngày tháng,

E như đứa bé chưa biết gì,

Động dừng tùy duyên không cố định.

Chẳng dứt vọng, chẳng tu chân,

Tâm chân vọng ấy thảy thuộc trần,

Xưa nay muôn pháp đều không tướng,

Ở trong không tướng có pháp thân.

Pháp thân tức là thiên chân Phật,

Cũng chẳng người chừ cũng chẳng vật,

Linh động đầy khắp cả đất trời,

Chỉ là rỗng rang cùng bát ngát.

Như chẳng nhiễm, sáng tự sáng,

Không một pháp chẳng từ tâm sanh,

Tâm nếu chẳng sanh pháp tự diệt,

Liền biết tội phước vốn không hình.

Không Phật hình, không pháp nói,

Tri kiến trượng phu tự nhiên khác.

Thốt lời là tiếng sư tử gầm, 

Chẳng giống chồn hoang luận sanh diệt.

(Ngự Tuyển Ngữ Lục, quyển 8 – Trương Bình Thúc Ngữ Lục)

*

Cư sĩ Bàng Uẩn (Để lại trên 300 bài kệ tụng)

Phú bần tụng

Phủ nhi không thủ hành,

Bần nhi bả tha vật,

Bị vật khiên nhập triền, 

Mãi mại bất đắc xuất.

Giác mộ tiện quy xá,

Hoàng hôn hắc tất tất,

Sở cầu bất xứng ý,

Hợp gia tổng thu tức.

Tự vô Bát-nhã tánh,

Phạp khiếm ba-la-mật,

Bả thằng nhập thảo lý,

Tự hệ bách niên tất.

Thật thị khả lân hứa, 

Minh minh bất kiến nhật.

Phủ nhi tuy không thủ,

Gia trung thậm phủ dật,

Tự hữu vô tận tạng,

Bất giả ngoại duyên vật,

Châu lưu dụng bất cùng,

Yếu giả tùng lý xuất.

Dịch:

Bài tụng giàu nghèo 

Người giàu đi tay không,

Kẻ nghèo nắm vật khác,

Bị vật lôi vào chợ,

Mua bán chẳng ra được.

Biết tối liền về nhà,

Trời tối đen như mực,

Chỗ mong không vừa lòng,

Cả nhà thảy buồn bực.

Tánh Bát-nhã vốn không,

Thiếu thốn ba-la-mật,

Kéo dây vào rừng hoang,

Suốt trăm năm tự trói.

Thật là rất đáng thương!

Chẳng thấy sáng mờ tối.

Kẻ giàu tuy tay không,

Trong nhà rất dư dật,

Tự có kho vô cùng,

Chẳng nhờ vật nào khác,

Khắp nơi vẫn dùng hoài,

Cần thì từ đó lấy.

*

Phục vọng tưởng 

Thử cá nhất quần tặc,

Sanh sanh khi chủ nhân,

Tức kim thức nhữ dã,

Bất cộng nhữ tương thân.

Nễ nhược bất phục ngã,

Ngã tắc xứ xứ thuyết,

Giáo nhân tổng thức nhữ,

Khiển nhữ hành lộ tuyệt.

Nễ nhược năng phục ngã,

Ngã diệc bất phân biệt,

Cộng nhữ đồng nhất thân,

Vĩnh ly ư sanh diệt.

Dịch:

Dẹp vọng tưởng 

Cả một bọn giặc này, 

Đời đời gạt ông chủ,

Hiện nay biết được bây,

Chẳng cùng bây gần gũi.

Nếu bây chẳng phục ta,

Ta đi khắp nơi nói,

Cho người thảy biết bây,

Khiến bây hết đường bước.

Nếu bây đầu phục ta,

Ta cũng chẳng phân biệt,

Cùng bây đồng một thân,

Hằng lìa các sanh diệt.

*

Nhàn hạ tụng 

Thế nhân trọng trân bảo,

Ngã tắc bất như nhiên,

Danh văn tức tri túc,

Phú quý tâm bất duyên. 

Duy nhạo đan biều ẩm,

Vô cầu tháo cảnh thuyên, 

Cơ thực Tây sơn đạo, 

Khát ẩm bản nguyên tuyền. 

Hàn phi vô tướng phục,

Nhiệt lai tùng hạ miên,

Tri thân vô cứu cánh,

Nhậm vận liễu tàn niên.

Dịch:

Bài tụng nhàn hạ 

Người đời trọng trân bảo,

Ta thì không thế đâu.

Danh vọng liền biết đủ,

Giàu sang tâm chẳng theo,

Chỉ thích đeo bầu uống,

Không cần đồ láng huyền, 

Cơm Tây sơn đỡ đói,

Khát uống suối bản nguyên, 

Lạnh mặc áo vô tướng,

Nóng cội tùng ngủ yên.

Biết thân không cứu cánh,

Hồn nhiên hết năm tàn.

*

Trụ thị sơn cư 

Quân gia trụ tụ lạc,

Dư tự cư sơn cốc,

Sơn không vô hữu vật,

Tụ lạc bách chủng hữu.

Hữu giả khiết phạn thực,

Vô giả không trương khẩu, 

Khẩu không đỗ diệc không,

Hoàn tương không khiết hữu, 

Hữu tận, vật quy không,

Đồng thể vô tiền hậu.

Dịch:

Ở chợ ở núi 

Nhà anh tại xóm làng, 

Núi sâu tôi ở hang,

Núi không chẳng một vật,

Xóm làng trăm thứ hàng.

Có thì luôn ăn uống,

Không đành há miệng trơn, 

Miệng không, bụng cũng trống,

Cái có, đem không ăn,

Có hết, không mọi vật,

Không sau trước, thể đồng.

*

Độc kinh tụng 

Nhân hữu nhất quyển kinh 

Vô tướng diệc vô danh,

Vô nhân năng chuyển độc,

Hữu ngã bất năng thính.

Như năng chuyển độc đắc,

Nhập lý khế vô sanh,

Phi luận Bồ-tát đạo,

Phật diệc bất lao thành.

Dịch:

Bài tụng đọc kinh 

Người có một quyển kinh,

Không tướng cũng không danh, 

Không người hay đọc tụng,

Có ngã nghe chẳng rành.

Nếu hay đọc tụng được,

Nhập lý hợp vô sanh,

Chẳng luận đạo Bồ-tát,

Phật cũng chẳng nhọc thành.

(Bàng Cư Sĩ Ngữ Lục, quyển trung – Bàng Cư Sĩ Thi)

*

Ngũ Đài Thanh Lương tự 

Vô niệm Thanh Lương tự,

Uẩn không chân Ngũ Đài.

Đối cảnh tâm vô cấu,

Đương tình tâm tử khôi,

Diệu lý ư trung hiện,

Ưu-đàm không lý khai,

Vô cầu chân pháp nhãn,

Ly tướng kiến Như Lai.

Nhược năng như thị học,

Bất động xuất tam tai.

Dịch:

Chùa Thanh Lương núi Ngũ Đài 

Không niệm: chùa Thanh Lương,

Uẩn không: thật Ngũ Đài,

Đối cảnh tâm không nhớp, 

Xứng tình lòng chẳng lay,

Lý mầu từ đây hiện,

Trong không hoa Đàm khai,

Không cầu, pháp nhãn thật,

Lìa tướng, thấy Như Lai.

Nếu khéo học như thế, 

Chẳng động, khỏi tam tai.

(Bàng Cư Sĩ Ngữ Lục, quyển trung – Bàng Cư Sĩ Thi)

*

Thế nhân trọng trân bảo, 

Ngã quý sát-na tĩnh,

Kim đa loạn nhân tâm,

Tĩnh kiến chân như tánh.

Dịch:

Người đời trọng của báu, 

Ta quý sát-na lặng,

Vàng nhiều tâm người loạn,

Lặng thấy chân như tánh.

*

Vô tâm tụng 

Đản tự vô tâm ư vạn vật,

Hà phòng vạn vật thường vi nhiễu,

Thiết ngưu bất phạ sư tử hống,

Kháp tự mộc nhân kiến hoa điểu. 

Mộc nhân bản thể tự vô tình,

Hoa điểu phùng nhân diệc bất kinh,

Tâm cảnh như như chỉ cá thị,

Hà lự Bồđề đạo bất thành? 

Dịch:

Bài tụng không tâm 

Chỉ tự không tâm cùng vạn vật,

Lo gì vạn vật quấy rầy ta,

Trâu sắt chẳng sợ sư tử rống,

Khác nào người gỗ xem chim hoa.

Người gỗ vốn thật là vô tình,

Chim hoa gặp người cũng chẳng kinh,

Tâm cảnh như như chỉ thế ấy,

Nào ngại Bồ-đề đạo chẳng thành.

*

Hữu cầu 

Nhất thiết hữu cầu uổng dụng công,

Tưởng niệm chân thành trước sắc không,

Sai chi hào ly thất thiên lý,

Hữu sanh kiếp kiếp đạo nan thông.

Si tâm vọng xuất tam giới ngoại,

Bất tri nguyên tại Thiết Vi trung.

Dịch:

Mong cầu 

Tất cả có cầu uổng dụng công,

Tưởng niệm trở thành kẹt sắc không,

Sai đó hào ly trật ngàn dặm,

sanh kiếp kiếp đạo không thông.

Tâm si mong thoát ngoài tam giới,

Thiết Vi đâu biết đã ở trong.

*

Chấp tướng 

Thập nhị bộ kinh kiêm giới luật,

Chấp tướng y văn thường thọ trì,

Sanh sanh hoạch đắc hữu vi quả,

Tùy tại tam giới vô xuất kỳ.

Nhược năng ly tướng trực nhập lý, 

Lý trung vô niệm diệc vô tư. 

Dịch:

Chấp tướng 

Mười hai bộ kinh cùng giới luật,

Chấp tướng theo văn thường thọ trì,

Đời đời gặt hái quả sanh diệt,

Thường ở tam giới không hẹn kỳ.

Nếu hay lìa tướng vào ngay lý, 

Trong lý không nhớ cũng không suy.

*

Nan

Nan phục nan

Trì tâm ly dục tham Niết-bàn, 

Nhất hướng tha phương cầu Tịnh độ,

Nhược luận thật hạnh bất tương quan,

Uổng dụng công phu lai khứ khổ,

Tất cánh đáo đầu không sắc hoàn.

Dịch:

Khó

Khó lại khó 

Giữ tâm lìa dục tham Niết-bàn,

Một mực phương xa cầu Tịnh độ,

Nếu bàn thật hạnh chẳng tương quan,

Luống dụng công phu qua lại khổ,

Rốt cuộc cũng về trong sắc không.

*

Dị 

Dị phục dị,

Tức thử ngũ ấm thành chân trí,

Thập phương thế giới nhất thừa đồng,

Vô tướng pháp thân khởi hữu nhị,

Nhược xả phiền não mịch Bồ-đề,

Bất tri hà phương hữu Phật địa.

Dịch:

Dễ! 

Dị phục dị,

Ngay thân ngũ ấm thành chân trí,

Mười phương thế giới đồng một thừa, 

Pháp thân không tướng đâu hai thứ,

Nếu bỏ phiền não tìm Bồđề,

Chẳng biết nơi nào có Phật địa.

*

Hành lộ dị 

Hành lộ dị, hành lộ dị,

Nội ngoại trung gian y bản trí,

Bản trí vô tình pháp bất sanh,

Vô sanh tức thị nhập chánh lý,

Phi sắc phi tâm phóng nhất quang,

Không lý Ưu-đàm hiển tâm địa.

Danh vi trí, trí vi tôn,

Tâm trí thông đồng đạt bản nguyên,

Vạn vật đồng quy bất nhị môn, 

Hữu phi hữu hề lý thường tồn,

Vô phi vô hề vô hữu căn.

Vị lai chư Phật diệc như thị,

Hiện tại hoàn đồng cổ Thế Tôn, 

Tam thế câu giai vô biệt đạo,

Phật Phật tương thọ chí kim truyền.

Dịch:

Đường đi dễ

Đường đi dễ, đường đi dễ,

Trong ngoài khoảng giữa y bản trí,

Bản trí vô tình pháp chẳng sanh,

Vô sanh tức là nhập chánh lý,

Chẳng sắc chẳng tâm phóng hào quang,

Trong không hoa Đàm phô tâm địa.

Danh là trí, trí là tôn,

Tâm trí thông đồng đạt bản nguyên, 

Muôn vật đồng về cửa bất nhị, 

Có chẳng có, chừ lý thường còn,

Không chẳng không, chừ không có gốc.

Chư Phật vị lai cũng như thế,

Hiện tại đều đồng cổ Thế Tôn, 

Ba đời thảy đều không đường khác,

Phật Phật truyền trao nhau đến nay.

(Bàng Cư Sĩ Ngữ Lục, quyển hạ – Bàng Cư Sĩ Thi )

Thiền sư Phần Dương 

Pháp thân ca 

Đãng đãng toàn khu,

Nhân thiên mạc trắc.

Tuy vô niệm đĩ vô tư, 

Nãi hữu ân nhi hữu lực.

Triển chi bất thư 

Thâu chi bất khắc.

Hiện thiên ban dị tượng ư nhân thiên,

Hóa vạn loại trường huyền ư thái cực.

Chấn oai linh vô biên sát độ, khởi ngại tinh thần;

Hóa quần sanh hữu thức giới trungninh vong quỹ tắc.

Bất thoại vô công,

Khởi đàm tịch mặc,

Hưng đại bi nhi bạt khổ hữu ân,

Vận đại từ nhi dữ lạc vô đức.

Hoặc cầm hoặc túng, chỉ tại lâm cơ;

Hoặc dụng hoặc thi, hỗ vi quang sức.

Dụng tắc biến mãn thập phương,

Thi tắc bất di quỹ khắc.

Túng tắc phóng khoáng khoan dung,

Cầm tắc Tỳ-da đỗ mặc.

Thật bất tư nghì,

Khả hành khả chỉ.

Chỉ mục tiền hề nguy nguy mạc đổ,

Tại tiêm trần hề lạc lạc hà thị.

Hữu tác hữu năng,

Vô tâm vô ý.

Thượng trí văn hề sảng thần, 

Hạ sĩ kiến hề nhãn ế.

Tắc chi đỗ nguyên, 

Thông chi lưu thủy.

Minh bạch chỉ yếu tâm khai,

Bất quản cổ kim đạo lý.

Nhất niệm bất thông hữu tắc,

Miết nhĩ tâm khai vô trệ.

Tuy nhiên hào phát bất thâu,

Tằng dữ Không Vương đồng chí.

Trực ngôn phổ cáo nhân thiên,

Phân minh giá cá bất thị.

Phục vân: – Na cá thị?

Dich:

Bài ca pháp thân 

Toàn thân thênh thang,

Người trời nào biết.

Tuy không niệm với không tư, 

Lại có ân và có lực.

Duỗi đó chẳng ra,

Thâu vào không được.

Hiện ngàn loài sai biệt ở trời người,

Hóa muôn loại hằng bày nơi thái cực.

Trấn oai linh cõi nước vô biên,

chẳng ngại trăng sao; 

Hóa quần sanh trong cõi hữu thức,

đâu quên phép tắc.

Chẳng nói không công,

Đâu bàn vắng bặt,

Dấy đại bi để cứu khổ cho người có ơn,

Vận đại từ để ban vui cho kẻ không đức.

Hoặc bắt hoặc tha, chỉ tại lâm cơ;

Hoặc dùng hoặc bày, lẫn làm trang sức.

Dùng thì trùm khắp mười phương,

Bày thì chẳng dời bóng tấc.

Tha thì phóng khoáng khoan dung,

Bắt thì Tỳ-da nín bặt.

Thật chẳng nghĩ bàn,

Hoặc làm hoặc nghỉ.

Ở trước mắt chừ vòi vọi chẳng xem,

Tại mảy bụi chừ rỡ rỡ nào thấy.

Có tác có năng, 

Không tâm không ý.

Thượng trí nghe chừ thần an,

Hạ sĩ thấy chừ tối mắt.

Bít đó lấp nguồn, 

Khai đó sông chảy.

Rõ ràng chỉ cần tâm khai,

Chẳng thiết đạo lý kim cổ.

Một niệm bít lấp chẳng thông,

Bỗng nhiên tâm khai không ngại.

Tuy nhiên sợi tóc chẳng thâu,

Từng cùng Không Vương đồng chí.

Nói thẳng khắp cả trời người,

Rõ ràng cái này chẳng phải.

(Lại nói) Cái nào phải?

*

Thị phi ca 

Xuất gia học đạo tổng tu tri,

Tại chúng tùng lâm thiết mạc khuy; 

Tôn ấu cổ kim thuyên hữu đức,

Vật đồng ngu bối thị kiêm phi 

Văn thuyết hảo, tâm tiện hỷ,

Văn thuyết ố, hận bất tử; 

Hảo ố đô lai chỉ tự tâm,

Cương hướng kỳ trung mịch đạo lý. 

Thế gian nhân, đa vô trí,

Bất giải tư lương thị phi khỉ (khởi);

Đại trí chi nhân khán trước y,

Tự kỷ dung thân nhập vô địa; 

Tử Lộ tằng tao ngư phủ hạ,

Phu Tử tàm nhan túc vong lý. 

Xá-lợi tôn, đệ nhất ký, 

Diệc bị ngu phu thân chánh chỉ;

Như Lai từ nhãn thị chúng sanh,

Liễu đạt cổ kim minh bản tế.

Khán Châu Tần cập Hán Ngụy,

Bại quốc vong gia giai tổng thị

Lịch kiếp thị phi địa ngục nhân,

Văn thuyết thị phi tu thẩm tế.

Ngã văn thuyết, tâm bất khỉ,

Chỉ cá thị phi tiện thân chỉ.

Ta tử phù ngôn thượng bất tiêu,

Vấn thậm Tây lai Tổ sư ý.

Yếu phân minh, biện căn đới,

Hiểu cá thị phi chân hữu địa,

Cánh hữu nhân lai thuyết thị phi,

Hướng đạo dư kim thức đắc nhĩ.

Dịch:

Bài ca phải quấy 

Xuất gia học đạo thảy cần biết,

Ở chúng tùng lâm chớ nên thiếu; 

Xưa nay lớn bé nói đều nhường,

Chớ đồng bọn ngu sanh phải quấy.

Nghe nói tốt, tâm liền vui,

Nghe nói xấu, giận đến chết;

Tốt xấu thảy đều gốc từ tâm,

Gắng nhắm trong kia tìm đạo lý.

Người thế gian nhiều vô trí,

Không biết nghĩ suy, phải quấy khởi; 

Những bậc đại trí xem thấy y,

Tự mình nương thân vào đất rỗng;

Tử Lộ từng bị ngư phủ chê,

Phu tử hổ mặt chân quên dép. 

Ngài Xá-lợi nhớ bậc nhất,

Cũng bị kẻ ngu đến bày vẽ;

Như Lai mắt từ xem chúng sanh,

Thấu suốt xưa nay rõ bản tế.

Xem Châu, Tần và Hán, Ngụy,

Mất nước tan nhà đều như thế;

Phải quấy nhiều kiếp nhân khổ đau,

Nghe nói phải quấy cần xét kỹ.

Tôi nghe nói tâm chẳng khởi, 

Chỉ cái phải quấy bày yếu chỉ;

Đôi lời phù phiếm còn chẳng tiêu,

Hỏi gì ý chỉ Tổ sư đến. 

Cần phân minh rành cội rễ,

Hiểu ra mặt thật phải quấy; 

Nếu có người đến nói đúng sai,

Bảo rằng ta nay biết được vậy.

*

Ngoạn châu ca 

Hoảng hoảng viên châu biểu lý minh,

Trường cư trần thế bất chương hình;

Xúc vật dụng quang, quang bất tận,

Ứng duyên chiếu thế, thế vô sinh.

Thường kiểu khiết, thể vô hà,

Tùy cơ dẫn tiếp xứng tăng gia;

Bần khổ chi nhân thường tế bạt,

Hiền hào chi loại trợ anh hoa.

Bất cư địa, bất cư thiên,

Tỳ-lô tạng lý giải phương viên; 

Hữu ý sưu cầu chung bất kiến,

Vô tâm chúc vật chiếu ninh thiên.

Y trung bảo, dụng vô biên,

Tư-đa tằng hiến Tổ sư tiền; 

Anh Lạc thân truyền Mật-đa thủ,

Tây càn Đông độ hóa nhân thiên.

Như kim đắc, bất tu xan,

Đại bi triển thủ thí tâm khoan; 

Nhiều ích giải hành phương tiện tuệ,

Lợi tha tự lợi tất chu viên.

Dịch:

Bài ca xem châu 

Châu tròn rỡ rỡ thảy sáng ngời,

Thường ở cõi trần chẳng biết nơi;

Chạm vật sáng soi, soi chẳng hết,

Ứng duyên chiếu thế, thể không sanh.

Thường trong sạch, thể không nhơ, 

Tùy duyên dẫn dắt hợp người tu; 

Gặp người bần khổ thường cứu giúp, 

Thấy kẻ anh hào trợ tài hoa.

Chẳng đất, chẳng ở trời,

Trong kho Tỳ-lô biết vuông tròn;

Có ý kiếm tìm trọn chẳng thấy, 

Không tâm soi vật chiếu không chênh.

Báu trong y, dụng không cùng,

Tư-đa từng hiến trước Tổ sư; 

Anh Lạc thân truyền Mật-đa nhận, 

Tây thiên Đông độ hóa trời người.

Nếu nay được,

Chớ giữ riêng, 

Lòng thương tay mở giúp người yên.

Lợi ích hiểu tu phương tiện tuệ,

Lợi người lợi mình được chu viên.

*

Nhất tự ca 

Chư Phật vô pháp khả thuyết,

Phần Dương lược tuyên nhất tự,

Bất can chỉ mặc văn chương,

Khởi hiệu Duy-ma tuấn địa.

Tam thừa vị xứng ngô tông,

Vạn hạnh diệc phi tha ý,

Kiến tánh duy chỉ tự tâm,

Nhận trước y tiền bất thị.

Trần trung thế giới vô nhai, 

Tự tại tiêu dao hành lý,

Mao đầu hải nhạc vô biên,

Khoáng đãng du sơn ngoạn thủy.

Nhất tự ca, bách vạn kệ,

Đích đích tương truyền truyền tử tế,

Cú cú u vi vi hựu huyền, 

Chỉ cá huyền huyền huyền bản trí.

Ẩm Quang tôn, đồng minh chứng, 

Thuấn mục dục cung hành chính lệnh,

Chư đồ dị giải uống thi công,

Loạn hướng đồ trung nhận phàm thánh.

Bất dụng cầu, nguyên bất thất,

Vọng niệm tài sanh hắc tự tất,

Huyễn hóa phù vân tánh bản vô

Phương thốn mê chân tróc huyễn vật.

Lịch kiếp mê bất tằng tỉnh,

Biến kế hà sa vọng triền bệnh,

Như kim chứng đắc bản căn nguyên,

Linh trí khoách nhiên ly tà chánh.

Phần Dương trực thuyết thẩm tư lương,

Miết nhĩ duyên trần phao Phật tánh,

Bát tiết thiên, nhất tâm binh,

Mật mật Nagià thường tại định.

Thanh tiêu bích lạc thị gia phong,

Tín thủ niêm lai thiện chỉ ứng, 

Đầu châm nhập thất yếu thương lương,

Nhất tự ca trung minh tự kinh.

Dịch:

Bài ca một chữ 

Chư Phật không pháp để nói,

Phần Dương lược nêu một chữ,

Chẳng can giấy mực văn chương,

Đâu học Duy-ma xuất cách.

Tam thừa chưa xứng tông ta,

Muôn hạnh cũng không ý khác,

Thấy tánh chỉ là tâm mình,

Nhận lấy vẫn sai như trước.

Trong thế giới nhiều vô ngần,

Tiêu dao tự tại cất bước,

Đầu lông biển núi vô biên,

Bát ngát dạo non ngắm nước.

Ca một chữ, trăm ngàn kệ,

Rành rõ truyền nhau, truyền cẩn mật,

Câu câu mầu nhiệm, nhiệm lại huyền,

Chỉ cái huyền huyền huyền bản trí.

Ca-diếp tôn, đồng minh chứng,

Định muốn tuân hành chính lệnh,

Môn đồ hiểu khác uổng thi công,

Chạy loạn giữa đường nhận phàm thánh.

Chẳng nên cầu, vốn không mất,

Vọng niệm vừa sanh đen tợ mực,

Mây nổi huyễn hóa tánh vốn không,

Tấc vuông mê chân nắm huyễn vật.

Nhiều kiếp mê chẳng từng tỉnh,

Tính chấp hà sa bệnh vọng tưởng,

Hiện nay biết được cả cội nguồn,

Linh trí thênh thang lìa tà chánh.

Phần Dương nói thẳng xét kỹ càng,

Bất chợt theo trần bỏ Phật tánh,

Tám tiết dời, một tâm nắm,

Na-già miên mật thường trong định.

Trời xanh trong trẻo ấy gia phong,

Thuận tay dễ dàng khéo đáp ứng

Gieo kim, vào thất muốn luận bàn,

Bài ca một chữ sáng như kinh.

*

Tuế đán 

Dư kim chu Giáp Tý, 

Thục khả tri sanh tử.

Tứ đại mộng trung âu,

Nhất thân diệp thượng thủy.

Phù vân bất cửu đình,

Cam giá khởi trường mỹ.

Duy hữu nhất linh quang,

Khoảng kiếp hà tằng trụy.

II 

Dư kim lục thập nhất,

Bạch phát tương thôi xuất.

Huyễn chất tỷ phù vân,

Không tâm đồng tổ Phật.

Xuân lai bất tiện hoan

Thu khử khởi hiềm vật.

Cánh dữ tam thập niên,

Miết nhiên như điện phất.

Dịch:

Mùng một tết 

Nay tôi tròn Giáp Tý,

Ai biết được sanh tử. 

Bốn đại bọt trong mơ,

Một thân nước trên lá.

Mây nổi chẳng dừng lâu,

Vị ngọt nào còn mãi.

Chỉ có một linh quang, 

Nhiều kiếp đâu từng mất.

II 

Nay tôi sáu mươi mốt,

Tóc bạc đua nhau mọc.

Chất huyễn dường mây trôi,

Tâm không, đồng tổ Phật.

Xuân đến chẳng mê hoa,

Thu về nào ghét vật.

So với năm ba mươi,

Bỗng nhiên như điện chớp.

 *

Tọa thiền 

Bế hộ sơ dung tẩu,

Vi tăng nhạo tọa thiền.

Nhất tâm vô tạp niệm,

Vạn hạnh tự thông huyền. N

guyệt ấn thu giang tĩnh,

Đăng minh thảo xá tiên.

Kỷ nhân năng đảo thử, 

Đảo thử kỷ năng chân.

Dịch:

Ngồi thiền 

Đóng cửa dáng gầy nhác,

Làm tăng thích tọa thiền.

Nhất tâm không niệm tạp,

Muôn hạnh tự thông huyền. 

Trăng in sông thu lặng,

Đèn sáng tươi nhà tranh.

Bao người đến đây được,

Đến đây ai phân rành.

Thị chúng 

Xuân vũ dữ xuân vân, 

Tư sanh vạn vật tân.

Thanh thương sơn điểm điểm, 

Bích lục thảo quân quân.

Vũ tễ trường không tịnh,

Vân thâu nhất sắc chân.

Bảo ngôn tu đạo giả,

Hà vật cánh kham trần.

Dịch:

Dạy chúng 

Mưa xuân cùng mây xuân,

Nuôi dưỡng muôn vật mừng.

Trời xanh non điểm điểm, 

Xanh biếc cỏ bằng bằng.

Mưa tạnh bầu trời lặng,

Mây tan một màu chân.

Nói cùng người hành đạo,

Có gì phải nói năng.

(Phần Dương Vô Đức Thiền Sư Ngữ Lục – quyển hạ)

*

Thiền sư Duy Tắc hiệu Thiên Như 

Linh khê ca 

Linh nguyên hạo điểu vô đông tây,

Cửu uyên chi thâm tỷ bất tề;

Thừa cơ thừa thế hốt phát động,

Lưu xuất nhất phái vi Linh khê.

Linh khê tây lai thập vạn lý,

Quyết thạch bài sơn thùy cảm nghĩ;

Bôn thoan phiếm lạm quá Tào Khê,

Thập bát than đầu câu trướng khởi.

Linh khê chi trạm dã, 

Như hàm cổ kính chi quang,

Chiếu nhân diện mục nan phủ tàng.

Linh khê chi minh dã, 

Như tụ vạn cổ chi phát,

Huyên oanh hải nhạc thanh lãng lãng.

Đức Sơn chi bổng chấn phong vũ,

Kích trọc dương thanh vị khinh hứa;

Lâm Tế chi hát kinh lôi đình,

Trục lãng tùy ba thành thổ cử.

Yển Khê nhập xứ phi chân văn,

Hổ Khê thiệt tướng vưu vọng truyền; 

Cổ độ đả thấp Động Sơn cước,

Thiển than phiên khước Hoa Đình thuyền.

Đại địa quần linh âu sanh âu diệt,

Tam thế chư Phật đầu xuất đầu một.

Cấp lưu dũng thối vô tiên cơ,

Yêm tẩm hà chỉ thiên thất bách.

Hoặc vị khê vô linh,

Khê chi ác độc nan cụ trần; 

Hoặc vị khê hữu linh,

Khê chi diệu dụng như hữu thần.

Khê linh bất linh, ngô bất khả,

Dĩ trí tri nhi thức thức; 

Quân kỳ vấn thủ Tùng Giang, 

Giang thượng Linh khê nguyên thượng nhân.

Dịch:

Bài ca suối Linh 

Suối Linh bát ngát chẳng đông tây,

Dù sâu chín vực khó so tày; 

Thừa cơ thừa dịp bỗng tuôn chảy,

Một mạch thành dòng suối Linh đây.

Suối Linh tây lại mười muôn dặm,

Xoi đá dời non ai dám nghĩ, 

Bon bon chảy xiết qua Tào Khê,

Mười tám đầu ghềnh đều đầy dẫy.

Suối Linh thường lóng lặng,

Như ánh sáng của gương xưa,

Soi diện mục người khó che giấu.

Tiếng gầm của suối Linh,

Như gồm muôn trống đánh lên,

 Ầm ầm biển núi tiếng dồn dập. 

Gậy của Đức Sơn động gió mưa,

Quậy đục bày trong chưa dám hứa;

Hét của Lâm Tế hoảng lôi đình,

Theo mòi đuổi sóng thành nêu bày.

Yển Khê chỗ vào chẳng thật nghe,

Hổ Khê tướng lưỡi lại vọng truyền;

Bến xưa làm Động Sơn ướt gót,

Ghềnh cạn lật úp thuyền Hoa Đình.

Đại địa quần linh bọt sanh bọt diệt,

Chư Phật ba đời hiện đây mất kia; 

Chảy nhanh lùi mạnh không tính trước,

Thấm nhuần đâu chỉ ngàn bảy trăm.

Hoặc bảo suối không linh,

Ác độc của suối khó kể hết;

Hoặc bảo suối có linh,

Diệu dụng của suối như có thần.

Suối Linh chẳng linh, tôi không thể,

Dùng trí biết hoặc dùng thức hiểu;

Anh nên hỏi lấy Tùng Giang,

Thượng nhân nguồn suối Linh đầu sông.

(Sư Tử Lâm Thiên Như Hòa Thượng Ngữ Lục – quyển 4)

*

Thiền sư Tâm Nguyệt hiệu Thạch Khê 

Tư duy tướng Quan Âm 

Xuân cầm trú đề,

Thu trùng dạ ngâm, 

Hữu nhĩ giai văn,

Hà độc Quan Âm.

Như thị nhi tri, 

Như thị nhi giác,

Diện mục hiện tiền,

Siêu chư dư học.

Yến ngữ oanh ngâm, 

Nha minh thước táo,

Thanh hữu sai thù,

Văn vô điên đảo.

Văn tánh ký tịch,

Thanh trần diệc không,

Nhất điểm bị tâm,

Tại xứ viên thông.                            

Dich:

Nghĩ về Quan Âm 

Chim xuân ngày hót,

Dế thu đêm ngâm,

Có tai đều nghe,

Nào riêng Quan Âm.

Như thế mà biết,

Như thế mà hiểu, 

Mặt mày hiện tiền,

Vượt trên quả vị.

Yến hót oanh ngâm, 

Quạ kêu thước gọi,

Tiếng có sai thù,

Nghe không điên đảo.

Tánh nghe đã lặng,

Thanh trần cũng không, 

Một chút bi tâm,

Chỗ ấy viên thông.

(Thạch Khê Hòa Thượng Ngữ Lục – quyển hạ)

*

Thiền sư Hoành Xuyên Hành Củng 

Thử am ca 

Ngô kết thử am ký tàn ảnh, 

Hữu vấn thử am hoại bất hoại,

Nhất ngữ phát xuất thậm kỳ quái,

Tùy tha khẩu hạ đáp bất hoại.

Phàm thuộc hình tướng giai thị hoại,

Vi thậm thử am khước bất hoại?

Lục song câu thấu vô nhất vật,

Thường quang vô nội diệc vô ngoại.

Kiếp hỏa đỗng nhiên đại thiên hoại,

Ngô kết thử am thật bất hoại.

Hành trụ tọa ngọa ư kỳ trung,

Chỉ thị tầm thường cá cảnh giới,

Hữu thời tùng phong nhàn cử thoại,

Vạn tượng sâm la tề sảng khoái.

Dich:

 

Bài ca am này 

Tôi cất am này gửi bóng tàn,

Hỏi rằng am này hoại chẳng hoại? 

Một lời phát ra rất kỳ quái,

Theo lời người hỏi, đáp: Chẳng hoại.

Phàm thuộc hình tướng đều là hoại,

Vì sao am này lại chẳng hoại? 

Sáu cửa thông suốt không một vật,

Ánh sáng thường không trong không ngoài.

Kiếp hỏa cháy bừng đại thiên hoại,

Tôi cất am này thật chẳng hoại.

Đi đứng ngồi nằm ở trong ấy,

Chỉ là cảnh giới bình thường vậy,

Có khi tùng, gió nhàn cất tiếng,

Muôn tượng sum la đều sảng khoái.

(Hoành Xuyên Hòa Thượng Ngữ Lục – quyển hạ)

Thiền sư Liễu Am Thanh Dục (đời Nguyên)

Thái hư 

Thái hư vô môn tuyệt quan thược,

Khấu chi tác thanh minh bác bác,

Vạn tượng sâm la trắc nhĩ thanh,

Thạch nhân mộc nhân tề ứng nặc.

Kim ô đông thăng thố tây trụy,

Thiên phong xuy hoa lạc hương vũ,

Đạo nhân yến tọa tịch bất động,

Tiếu khán Tu-di đồng cổ vũ.

Ngã dữ Thái hư chân thể hợp,

Tuyệt điểm thuần thanh ly phấn tạp,

Điện quang ảnh lý cấp phiên thân,

Thạch hỏa tinh trung tử đằng đạo.

Vị minh thử chỉ thành lược hư

Khảo thật thuyết thoại nan đề trì,

Trực hướng hư trung liễu chân thật,

Thủy tri thật ngoại nguyên vô hư.

Hư hề thật hề kim phục cổ,

Hữu tướng vô tướng hà túc số, 

Thuyết dữ thông minh đạo giả trị,

Đả phá tương lai trùng niết tụ.

Dich:

Thái hư 

Thái hư không cửa chẳng cổng khóa,

Gõ đó ra tiếng kêu bóc bóc,

Vạn tượng sum la nghiêng tai nghe,

Người gỗ người đá đồng ứng dạ.

Mặt trời đông lên, trăng tây lặng

Gió trời thổi hoa rụng mưa hương,

Đạo nhân ngồi yên lặng chẳng động,

Cười xem Tu-di đồng cổ vũ.

Ta cùng Thái hư chân thể hiệp,

Cấu sạch toàn trong lìa lẫn tạp,

Trong ánh điện chớp gấp trở thân,

Giữa lửa đá nháng mặc bay nhảy.

Chưa rõ ý này thành nói càn, 

Nương thật nói ra khó giữ gìn,

Nhằm thẳng trong rỗng rõ thật chân,

Mới biết ngoài thật vốn không rỗng.

Rỗng chừ thật chừ nay lại xưa,

Có tướng không tướng nào đếm đủ,

Nói cùng đạo giả thông minh hay, 

Đập nát rồi sau vo tròn lại.

Tự mục 

Ngã hữu thủy cổ ngưu,

Sanh lai duy tự mục, 

Tiên thằng ký tại thủ,

Thả miễn đông tây xúc.

Nguyên thượng xuân thảo thanh,

Nguyên hạ xuân thủy lục,

Tùy nghi bất đa cầu,

Đắc bão ý tự túc.

Như thị tam thập tải,

Dưỡng chi phả thuần thục,

Khởi vô tha nhân giá,

Thị chi phi sở dục.

Mao sắc nhật dĩ hóa,

Đầu giác không tự toàn,

Ký bất nghịch nhân ý,

Hựu bất hề nhân điền.

Tam xuân nông sự bãi,

Nhất đề dương liễu yên,

Nhân ngưu lưỡng hà hữu,

Thứ dĩ chung thiên niên.

Dịch:

Tự chăn 

Tôi có một con trâu, 

Sanh ra chỉ tự chăn, 

Dây roi trong tay sẵn,

Mới khỏi chạy tây đông. 

Trên bãi cỏ xuân tươi,

Dưới suối nước xuân biếc,

Tùy nghi chẳng cầu nhiều,

Được no ý vừa đủ.

Như thế ba mươi năm,

Nuôi nó được thuần thục,

Đâu không lúa mạ người,

Dạy nó chẳng nên ham.

Sắc lông đã biến đổi,

Đầu sừng bỗng tự thành,

Ý người đã chẳng trái,

Lại không đạp lúa mạ.

Ba xuân việc nông hết,

Một bờ dương liễu xanh,

Người trâu hai nào có,

Ngõ hầu trọn ngàn năm.

(Liễu Am Hòa Thượng Ngữ Lục – quyển 7)

*

Thiền sư Ngốc Am Phổ Trang (đời Nguyên)

Ngốc am ca 

Ngã thử Ngốc am Ngốc đạo nhân,

Bất thức thế gian thu dữ xuân.

Ngột ngột si si chỉ ma quá, 

Vô vinh vô nhục vô sơ thân.

Hoặc bả tinh kim hòa thổ mại,

Hoặc thâu yến thạch tàng vi trận.

Tiểu đảo bàng quan linh lợi hán,

Tán diệc bất hỷ mạ bất sân.

Hữu vấn Ngốc am hà sở tác? 

Nhàn khán hồ lô huyền bích giác.

Đương dương niêm khởi độn thiết thiêu,

Nghĩ hướng hư không khứ xuyên tạc.

Môn hộ trường niên bát tự khai,

Thất lý tùng lai không sách sách.

Đa bị thời lưu mạch điện khi,

Nhất sanh mãng lỗ đô bất giác.

Khả quái ngốc nhân bách bất năng,

Đối nhân ngốc thoại hoàn khả tăng.

Cương đạo dạ thâm sô khuyển phệ,

Đại dương hải để nhân khiêu đăng.

Cánh hữu nhất ban ngốc kỹ lưỡng,

Lưỡng nhĩ trác sóc đầu bằng tăng.

Nhậm nhĩ khách tăng trình cơ xảo,

Đông hô tây hoán cừ bất ưng.

Dịch:

Bài ca Ngốc am 

Ngốc am tôi đây, Ngốc đạo nhân,

Chẳng biết thế gian thu với xuân.

Ngơ ngơ ngáo ngáo chỉ như thế,

Không vinh không nhục không sơ thân.

Hoặc nắm vàng ròng hòa đất bán,

Hoặc nhận yến thạch làm bảo trân.

Người khôn trông thấy liền cười ngất,

Khen cũng chẳng mừng, mắng chẳng buồn.

Người hỏi Ngốc am làm chi đấy?

Nhàn xem hồ lô treo góc tường.

Ban ngày vác lấy cây xuống lụt,

Toan đào bới mãi trong hư không.

Cửa nhà hằng năm chữ bát mở,

Trong nhà lâu nay rỗng trống không.

Thường bị người đời chê thẳng mặt,

Một đời lỗ mãng trọn chẳng thông.

Quái lạ người ngốc việc chẳng rành,

Bị người nói ngốc lại đáng ghét.

Bảo rằng đêm khuya chó rơm sủa,

Dưới đáy bể cả người mồi đèn.

Lại một nhóm ngốc đầy bản lĩnh,

Hai tai vảnh lên đầu rối nùi.

Mặc ông khách tăng trình khéo léo,

Kêu đông gọi tây y chẳng đáp.

*

Thiền duyệt ngâm 

Ngã ngâm thiền duyệt thùy chứng cứ,

Tự hữu tri âm tri lạc xứ, 

Ca-sa khinh quyển xuất trần lại,

Tức lật cao đảm nhập sơn khứ.

Thanh tùng hạ, bích nham tiền,

Nhàn khán phù vân hoành hiểu thiên,

Nhật luân sơ thăng chiếu tuyệt đảnh,

Đại địa tu du câu đỗng nhiên.

Thạch môn am, hoang thảo lộ,

Yếu hành tức hành trụ tức trụ,

Hữu thời ngột tọa phá sài sàng,

Khốn tắc hòa y thân cước thùy. 

Bần đạo nhân một sơ thân,

Đầu đầu ứng dụng giai thiên chân,

Sơn điểu hàm hoa hốt tương quá,

Định hồi bất giác nhân gian xuân.

Chư cảnh không, vạn duyên tuyệt,

Chiêm-bặc xuy hương mãn liêu huyệt,

Lăng-già độc bãi mặc vô ngôn,

Cử đầu dao vọng thiên biên nguyệt.

Thu diệp lạc, thu phong lương,

Tiểu khê lưu thủy thanh tự trường,

Bạc mộ kinh phùng thể tiều khách,

Nghĩ tầm quy lộ hà bàng hoàng.

Độc hư hy thường khánh khoái,

Tiệt đoạn thiên yêu tịnh bách quái,

Cùng đông tích tuyết biến sơn lâm,

Tuyệt thắng Phổ Hiền ngân thế giới.

Miêu bất tựu, họa bất thành,

Ngộ đắc vô sanh vô bất sanh,

Nhất bát trì lại Hương Tích phạn,

Tịnh Danh bất xuất Tỳ-da thành.

Thiền duyệt ngâm, ngâm bất triệt,

Bản sắc nạp tăng cơ dụng biệt,

Toàn phóng toàn thâu chánh thử thời,

Ký ngữ thông nhân hảo chân biệt.

Dich:

Ngâm thiền duyệt 

Tôi ngâm thiền duyệt ai người biết,

Chỗ vui tự có tri âm hiểu, 

Cuốn nhẹ ca-sa ra khỏi trần,

Cột trên đầu gậy quảy vào núi.

Dưới tùng xanh, trước núi biếc,

Nhàn xem mây nổi vắt ngang trời,

Vầng hồng vừa lên soi tột đảnh,

Quả đất phút chốc đều rạng ngời.

Am thạch môn, đường cỏ hoang,

Cần đi liền đi, đứng liền đứng,

Có khi ngơ ngáo ngồi giường xiêu,

Mệt thì nằm thẳng duỗi chân ngủ. 

Đạo nhân nghèo không thân,

Mỗi mỗi ứng dụng đều thiên chân,

Chim núi ngậm hoa bỗng bay thẳng,

Định dậy chợt biết nhân gian xuân.

Các cảnh không, muôn duyên bặt,

Hang vắng gió đầy hương Chiêm-bặc,

Đọc xong Lăng-già lặng không lời,

Ngẩng nhìn trời xa trăng một góc.

Lá thu rụng, gió thu mát,

Thường nghe khe chảy tiếng róc rách,

Sẩm tối chợt gặp lão tiều phu,

Toan tìm lối về sao ngơ ngác.

Một mình cười thường thích thú,

Chặt hết ngàn yêu cùng trăm quái,

Cuối đông tuyết đọng khắp núi rừng,

Vượt hơn Phổ Hiền thế giới bạc.

Tả chẳng được, vẽ chẳng thành,

Ngộ được không sanh không chẳng sanh,

Một bát mang đầy cơm Hương Tích, 

Tịnh Danh chẳng rời Tỳ-da thành.

Ngâm thiền duyệt, ngâm chẳng tốt,

Bản sắc thiền tăng cơ dụng biệt,

Toàn buông toàn nắm chính lúc này,

Kính gửi cho người khéo nhận biết.

(Ngốc Am Trang Thiền Sư Ngữ Lục – quyển 6)

*

Thiền sư Sở Thạch Phạm Kỳ 

Tiếu vân 

Sơn trung nhân tiểu vân lại khứ, 

Kỷ độ dục lưu lưu bất trụ,

Nhất phiến tây hề nhất phiến đông,

Vị thùy quải tại thanh tùng thụ.

Hữu thời quyển, bất luận cao đê tinh cận viễn

Hữu thời thư, nam bắc tây đông mãn thái hư.

Bản tự vô tâm hưu vấn tích,

Du dương tản mạn tùy phong lực,

Bạch y thương cẩu nhậm tung hoành, 

Phản tịch hoàn không hà xứ mịch?

Khước khủng sơn trung vân tiểu nhân,

Khu khu vị miễn tẩu hồng trần,

Đản năng phóng hạ tiện an lạc,

Sở dĩ trường tương vân dụ thân.

Dich:

Cười mây 

Trong núi người cười mây qua lại,

Mấy phen muốn giữ giữ không xong,

Một mảnh tây chừ đông một mảnh, 

Vì ai treo tại cội tùng xanh? 

Khi thì cuộn, chẳng luận thấp cao với xa gần.

Khi thì duỗi, nam bắc đông tây trời mênh mông.

Vốn tự không tâm thôi hỏi dấu, 

Giăng giăng tản mạn tùy sức gió,

Áo trắng chó xanh mặc tung hoành,

Lặng lẽ thành không chừ đâu tả?

Lại e trong núi mây cười anh,

Nhọc nhằn chưa thoát chốn hồng trần, 

Chỉ hay buông thõng liền an lạc,

Cho nên thường đem mây dụ thân.

(Sở Thạch Phạm Kỳ Thiền Sư Ngữ Lục – quyển 17)

*

Thị chư thiền nhân 

Đô duyên muội khước tự gia tâm,

Chỉ quản mang mang hướng ngoại tầm.

Bất thức thải kê hô tác phụng,

Hoàn tương hoàng diệp nhận vi câm (kim).

Cầu sư bạt thiệp sơn xuyên viễn,

Trục cảnh nhân tuần tuế nguyệt thâm.

Hữu vấn khước tu hướng y đạo,

Thùy gia thất lý một Quan Âm.

Dịch:

Dạy các thiền nhân 

Nhiều duyên mờ mất tâm nhà mình,

Chỉ nhắm xa xôi bên ngoài tìm.

Chẳng biết gà bông kêu là phụng,

Lại lầm lá đỏ với vàng ròng.

Cầu thầy, vượt suối trèo non khắp,

Theo cảnh trôi qua bao tháng năm.

Nếu ai hỏi đến cần nên nói,

Nhà nào mà chẳng có Quan Âm? 

(Sở Thạch Phạm Kỳ Thiền Sư Ngữ Lục – quyển 18)

*

Thiền sư Chơn Tịnh 

Thiền định hiên tập kệ 

Nhiếp tâm danh Tịnh giới,

Thiền định hiệu Ba-la,. 

Đảo ngạn nhưng lưu phiệt,

Hành từ phục độ tha.

Ngộ hoài sanh Cực lạc,

Kiến tánh thức Di-đà.

Tức thử minh hiên hạ,

Bồđề tát-ma-ha.

II 

Tuy nhiên mê ngộ biệt,

Bình đẳng nhất thiền tâm.

Mạc hướng Vân Môn mịch,

Hưu tùng Lâm Tế tầm.

Hà tiêu thành bạch ngọc,

Khoảng tận đắc hoàng kim.

Vô tỷ bất tư nghì,

Linh nguyên tối thậm thâm.

III 

Bản lại đồng tác Phật,

Vọng tưởng cộng lưu liên.

Thử nhật bất vi đạo,

Hà thời năng khử triền.

Tiện nghi quy Bảo sở, 

Hưu cảnh nhận không quyền.

Nhất nhất thiên chân tánh, 

Hoa khai hỏa lý liên.

IV 

Tây lai nguyên bất nhị,

Thiên hạ sở truyền sai.

Phật pháp vô đa tử, 

Môn đình hữu kỷ gia.

Chủ tân phân thế mã,

Bổng hát biện long xà.

Học giả nghi tường thẩm, 

Như kim chánh khả ta.

Chư tổ truyền tâm ấn,

Hà tằng biệt hữu thiền.

Tông thừa mê hữu dị,

Phật pháp ngộ vô thiên.

Bảo giác nhân nhân đại,

Linh cơ sự sự viên.

Mạc cầu kỳ đặc thuyết,

Hoang khước tự gia điền.

VI 

Tiểu thừa bất kiến tánh,

Tâm ngoại biệt hữu thiền.

Vọng hiện Niết-bàn lạc,

Mê tạo phiền não triền.

Khởi tri đàm để nguyệt,

Nguyên tại ốc đầu thiên.

Cánh bả cổ nhân ngữ, 

Tương vi kỳ đặc truyền. 

VII 

Thần thông du ký lực,

Nhất nhất bản vô sanh.

Bồ-tát năng thân chứng,

Như Lai cánh diệu minh.

Thanh văn văn vị tín,

Duyên giác giác du kinh.

Duy hữu đại thừa khí,

Linh nguyên phát tiện thanh.

VIII 

Phật tánh thiên chân sự,

Thùy ngôn biệt hữu sư.

Nam nhi đàn chỉ xứ,

Nữ tử xuất thiền thì.

Bất phí tiêm hào lực,

Hà tằng động sở tư.

Chúng sanh tổng bình đẳng,

Nhật dụng tự đa nghi.

IX 

Học đạo tiên tu minh hữu ngộ,

Pháp vương pháp ấn ấn vô thiên.

Niêm lai sự sự giai quá lượng,

Bả xuất tâm tâm tổng ly duyên.

Do thị chúng sanh điên đảo giải,

Bất quán chư tổ thượng lai truyền.

Liên hoa thế giới đồng du hý, 

Chủ bạn giao tham ảnh tượng tiền.

Long tượng triệu hôn thiền duyệt xứ,

U thâm nan thẳng thử hiên song.

Tâm vi du hý thần thông tạng, 

Thân thị quang minh trí chiếu tràng.

Tuần vật cao đê tuy hữu nhị,

Quy nguyên bản mạt thả vô song.

Đản năng tri kiến đồng chân chánh,

Ngoại đạo thiên ma khể thủ hàng.

Dịch:

Mười bài kệ Dưới hiên thiền định 

Nhiếp tâm gọi Tịnh giới,

Thiền định hiệu Ba-la.

Đến bờ bè vẫn giữ, 

Hành từ lại độ tha.

Tâm ngộ sanh Cực lạc,

Thấy tánh biết Di-đà.

Ngay đây dưới hiên sáng, 

Bồđề tát-ma-ha.

II 

Tuy nhiên mê ngộ khác,

Bình đẳng một tâm thiền.

Chớ nhằm Vân Môn kiếm, 

Thôi theo Lâm Tế tìm.

Vết sạch, thành bạch ngọc,

Khoáng hết, được vàng ròng.

Khôn sánh chẳng bàn nghĩ,

Nguồn linh sâu vô cùng.

III 

Xưa nay đồng làm Phật, 

Cùng vọng tưởng lưu liên.

Hôm nay chẳng hành đạo,

Khi nào hay thoát triền? 

Phải nên về Bảo sở,

Thôi chớ nhận tay không.

Tánh thiên chân sẵn có,

Lò lửa nở sen hồng.

IV 

Tổ ý vốn chẳng hai,

Thiên hạ đã truyền sai.

Phật pháp không nhiều lắm,

Môn đình có mấy nhà.

Thỏ ngựa, chủ khách biện,

Rắn rồng, gậy hét chia.

Người học nên xét rõ,

Hiện nay thật đáng chê.

Chư tổ truyền tâm ấn, 

Đâu từng riêng có thiền.

Mê tông thừa có khác,

Ngộ Phật pháp không riêng.

Bảo giác người người lớn,

Linh cơ việc việc tròn.

Chớ cầu lời kỳ đặc,

Bỏ hoang ruộng nhà mình.

VI 

Tiểu thừa chẳng kiến tánh,

Ngoài tâm riêng có thiền.

Vọng hiện Niết-bàn lạc,

Mê bị phiền não vàng.

Trăng đáy đầm chẳng biết,

Vốn ở trên nóc nhà.

Lại bám lời người trước,

Cho là kỳ đặc truyền.

VII 

Sức thần thông du ký,

Mỗi mỗi vốn vô sanh.

Bồ-tát hay thân chứng,

Như Lai càng điệu minh.

Thanh văn nghe còn ngại,

Duyên giác giác vẫn kinh.

Chỉ bậc Đại thừa ấy,

Trong suốt tận nguồn linh.

VIII 

Việc thiên chân Phật tánh,

Ai bảo riêng có thầy.

Người nam móng tay khảy,

Người nữ xuất định ngay.

Chẳng tốn mảy may sức,

Đâu từng động nghĩ suy.

Chúng sanh thảy bình đẳng, 

Hằng ngày tự đa nghi.

IX 

Học đạo biết ngộ việc đầu tiên,

Pháp ấn pháp vương ấn chẳng nghiêng.

Nêu lên việc việc đều quá lượng,

Nắm đến tâm tâm thảy lìa duyên. 

Bởi tại chúng sanh hiểu điên đảo,

Chẳng xem chư tổ trước nay truyền.

Thế giới liên hoa đồng du hý, 

Chủ bạn xen nhau trước bóng hình.

Long tượng sớm chiều chỗ thiền duyệt,

Lặng yên nào sánh chốn hiện này.

Tâm ấy kho thần thông du ký,

Thân kia cờ trí chiếu sáng ngời.

Theo vật thấp cao tuy có khác,

Về nguồn gốc ngọn vốn không hai.

Chỉ hay tri kiến đồng chân chánh,

Ngoại đạo thiên ma phải xá dài.

(Cổ Tôn Túc Ngữ Lục – quyển 45)

*

Thiền sư Trường Sa Cảnh Sầm 

Thị học nhân 

Học đạo chi nhân bất thức chân,

Chỉ vị tùng lai nhận thức thần,

Vô thủy kiếp lai sanh tử bản, 

Si nhân hoán tác bản lai nhân.

Dịch:

Dạy người hỏi đạo 

Học đạo mà không hiểu lẽ chân,

Chỉ tại xưa nay nhận thức thần,

Gốc nguồn sanh tử vô thủy kiếp,

Người ngu lại gọi đó chủ nhân.

(Ngũ Đăng Hội Nguyên – quyển 4)

*

Thiền sư Động Sơn Lương Giới 

Tương tịch thị chúng 

Học giả hằng sa vô nhất ngộ,

Quá tại tầm tha thiệt đầu lộ,

Dục đắc vong hình dẫn tung tích,

Nỗ lực ân cần không lý bộ.

Dịch:

Sắp viên tịch, dạy chúng 

Học giả hằng sa ngộ mấy người,

Lỗi tại tìm trên ngôn ngữ thôi,

Muốn được quên thân bặt dấu vết,

Gắng bước trong không chớ biếng lười.

(Quân Châu Động Sơn Ngộ Bản Thiền Sư Ngữ Lục)

Thiền sư Thuần Am Thiên Tịnh 

Phong phan bất động tụng 

Bất thị phong hề bất thị phan,

Bạch vân tận xứ kiến thanh san,

Khả lân vô hạn anh linh hán,

Khai nhãn đường đường nhập tử quan.

Dịch:

Tụng về gió động phan động 

Chẳng phải phong chừ chẳng phải phan,

Mây trắng tan rồi thấy núi xanh,

Đáng thương biết mấy người cao quý,

Mắt mở trừng trừng vào tử quan.

(Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập – quyển 7)

*

Thiền sư Lâm Tế 

Thị chúng 

Nhĩ nhược ái thánh tắng phàm,

Sanh tử hải lý trầm phù.

Phiền não do tâm cố hữu,

Vô tâm phiền não hà câu.

Bất lao phân biệt thủ tướng,

Tự nhiên đắc đạo tu du.

Dịch:

Dạy chúng 

Nếu ông mến thánh ghét phàm,

Trong biển sanh tử nổi chìm.

Phiền não do tâm nên có, 

Không tâm phiền não đâu kìm.

Chẳng nhọc phân biệt chấp tướng,

Phút giây đắc đạo tự nhiên.

(Trấn Châu Lâm Tế Huệ Chiếu Thiền Sư Ngữ Lục)

*

Thiền sư Nghĩa Vân (Nhật Bản)

Tọa thiền nghi -Khô mộc hoa khai 

Ngột ngột liêu liêu ỷ bồ đoàn,

Long ngâm vân khởi hắc man man,

Cá trung tiêu tức tuyệt tư nghị,

Sát hải tam thiên chỉ nhất ban.

Dịch:

Nghi thức tọa thiền -Cây khô trổ hoa 

Lặng lặng ngơ ngơ tựa bồ đoàn,

Rồng ngâm mây đấy tối mênh mang,

Trong đây tin tức bặt suy nghĩ,

Cõi nước ba ngàn chỉ một ban.

(Nghĩa Vân Hòa Thượng)

*

Thiền sư Đồng An Sát 

Đạt bản 

Vật ư trung lộ sự Không vương,

Sách trượng hoàn tu đạt bản hương.

Vân thủy cách thời quân mạc trụ,

Tuyết sơn thâm xử ngã phi vong.

Tầm tư khử nhật nhan như ngọc,

Ta thán hồi lại mất tự sương.

Tán thủ đáo gia nhân bất thức,

Cánh vô nhất vật hiến tôn đường.

Dịch:

Được gốc 

Chớ nên giữa lộ phụng Không vương,

Chống gậy cần về đến bản hương.

Khi mây nước cách, ông chớ trụ,

Chỗ núi tuyết sâu, ta không quên.

Nhớ thuở lên đường mặt tợ ngọc,

Than ôi! Ngày về tóc như sương.

Thõng tay đến nhà người chẳng biết,

Lại không một vật hiến tôn đường.

(Cảnh Đức Truyền Đăng Lục – quyển 29)

 

Thiền sư Nguyệt Pha (Nhật Bản

Huề phủ phá sài tam tử thúc,

Đề đao trạch thái lưỡng tam hành,

Đạo nhân nhật dụng chỉ như thị,

Hữu thậm Bồđề đạo khả thành.

Dich:

Vác búa bửa củi ba bốn bó,

Cầm dao cắt rau hai ba cọng,

Nhật dụng đạo nhân chỉ như thế,

Nào có Bồ-đề đạo khá thành.

Thiền sư Ưng Am Đàm Hoa 

Thị chúng kệ 

Kim tích bãi du lưu kháo bích,

Thảo hài càn sái đãi thu phong.

Thả na trường hạ thâm tư tỉnh,

Khán thị bình sinh hữu để công.

Chân thật hành tàng nghi bảo tích,

Hư đầu kỹ lưỡng tật tiêu dung.

Lão tăng khởi thị đa nhiêu thiệt,

Yếu dữ chư nhân khí vị đồng.

Dich:

Kệ dạy chúng 

Gậy thiền hết đi đem dựng vách,

Giày cỏ phơi khô đợi thu phong,

An cư cần xét ơn tín thí, 

Xem thử hàng ngày công có không?

Hành tàng chân thật nên tiếc giữ,

Dối gian khéo léo chóng tiêu dung,

Lão tăng há phải nhiều miệng lưỡi,

Cốt cùng các ông khí vị đồng.

*

Quốc sư Nhất Sơn họa 

Ngũ hồ long tượng thử tương tùng,

Lập chí ưng tu kế Tổ phong. 

Thế sự vô cùng nghi tự tỉnh,

Huyền quan vị thấu hiệp gia công.

Kiều dung chỉ dụng tinh cần nhiếp, 

Ngoan độn duy tương mãnh liệt dung,

Kỳ mãn cửu tuần như thiểu nghiệm,

Thân tâm hiểm dữ Thiết Vi đồng.

Dịch:

Bài họa của Quốc sư Nhất Sơn

Khắp nơi long tượng hợp nhau đông,

Lập chí cần nên nối Tổ phong.

Thế sự không cùng nên tự giảm,

Cửa huyền chưa thấu phải gắng công.

Biếng lười nên lấy siêng năng nhiếp,

Ngu dốt chỉ dùng mãnh liệt nung.

Ba tháng đã qua như chẳng tiến,

Thân tâm nghiệm với Thiết Vi đồng.

(Nhất Sơn Quốc Sư Diệu Từ Hoằng Tế Đại Sư Ngữ Lục)

*

Thiền sư Đại Dương Kinh Huyền 

Ngã tích sơ cơ học đạo mê,

Vạn thủy thiên sơn mịch kiến tri.

Minh kim biện cổ chung nan hội,

Trực thuyết vô tâm chuyển cánh nghi.

Mông sư điểm xuất Tần thời cảnh,

Chiếu kiến phụ mẫu vị sanh thì.

Như kim giác liễu hà sở đắc,

Dạ phóng ô kê đới tuyết phi.

Dịch:

Thuở trước cơ học đạo mê,

Ngàn núi muôn sông kiếm thấy nghe.

Vạch xưa bày nay không thể hội,

Nói thẳng vô tâm càng thêm nghi.

Nhờ thầy chỉ rõ gương Tần cũ,

Soi thấy ban đầu khi chưa sanh.

Ngày nay giác ngộ đâu sở đắc,

Đêm thả gà đen mang tuyết bay.

(Chỉ Nguyệt Lục – quyển 23)

*

Thiền sư Bảo Phong 

Tự đề tượng 

Vũ tẩy đạm hồng đào ngạc nộn,

Phong dao tiên bích liễu ty khinh,

Bạch vân ảnh lý quái thạch lộ,

Lục thủy quang trung cổ mộc thanh.

Di! Nhĩ thị hà nhân? 

Dich:

Đề ảnh của mình 

Mưa rửa nhụy non hồng đào sạch,

Gió đưa lá ngọc liễu tơ bay,

Trong bóng mây trắng bày đá lạ,

Giữa dòng nước biếc cây xưa xanh.

Ôi! Ngươi là người gì? 

(Chỉ Nguyệt Lục – quyển 28)

*

Tỳ-kheo-ni Vô Tận Tạng 

Chung nhật tầm xuân bất kiến xuân,

Mang hài đạp phá lãnh đầu vân, 

Quy lai ngẫu quá mai hoa hạ,

Xuân tại chi đầu dĩ thập phân.

Dich:

Suốt ngày tìm xuân chẳng thấy xuân,

Giày gai đạp nát đỉnh mây ngàn,

Trở về chợt đến vườn mai ấy,

Xuân đầu cành vẹn mười phân.

(Vô Tận Tạng Tỳ-kheo-ni)

*

Thiền sư Hoa Đình Thuyền Tử 

Thị học nhân kệ 

Tam thập niên lai hải thượng du,

Thủy thanh ngư hiện bất thôn câu,

Điếu can chước tận trùng tài trúc,

Bất kế công trình đắc tiện hưu. 

Thiên xích ty luân trực hả thùy,

Nhất ba tài động vạn ba tùy,

Dạ tĩnh thủy hàn ngư bất thực,

Mãn thuyền không tải nguyệt minh quy.

Dịch:

Bài kệ Dạy người hỏi đạo

Bềnh bồng mặt bể đã lâu rồi,

Nước trong cá lội chẳng ăn mồi,

Cần câu gãy hết trồng thêm trúc,

Chẳng tính công trình được mới thôi.

Sợi tơ ngàn thước buông thẳng dòng,

Một sóng dấy lên muôn sóng đồng,

Đêm khuya nước lạnh cá yên lặng,

Đầy thuyền về chở ánh trăng trong.

(Thiền Lâm Loại Tụ – quyển 15)

*

Thiền sư Tam Bình Nghĩa Trung 

Tức thử kiến văn phi kiến văn,

Vô dư thanh sắc khả trình quân,

Cá trung nhược liễu toàn vô sự,

Thể dụng hà phòng phân bất phân.

Dịch:

Ngay thấy nghe này chẳng thấy nghe,

Đâu còn thanh sắc để trình anh,

Trong ấy nếu liễu toàn vô sự, 

Thể dụng ngại gì phân chẳng phân.

(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 18)

*

Thiền sư Lạc Phổ 

Phù âu ca 

Vân thiên vũ lạc đình trung thủy, 

Thủy thượng phiêu phiêu kiến âu khỉ,

Tiền giả dĩ diệt hậu giả sanh,

Tiền hậu tương tục vô cùng dĩ.

Bản nhân vũ trích thủy thành âu,

Hoàn duyên phong kích âu quy thủy,

Bất tri âu thủy tánh vô thù,

Tùy tha chuyển biến tương vi dị.

Ngoại minh oánh, nội hàm hư, 

Nội ngoại linh lung nhược bảo châu, 

Chính tại trừng ba khán tự hữu,

Cập hồ động trước hựu như vô.

Hữu vô động tịnh sự nan minh,

Vô tướng chi trung hữu tướng hình,

Chỉ tri âu hướng thủy trung xuất,

Khởi tri thủy điệc tùng âu sinh.

Quyền tương âu thủy loại dư thân,

Ngũ uẩn hư toàn giả lập nhân,

Giải đạt uẩn không âu bất thật,

Phương năng minh kiến bản lai chân.

Dịch:

Bài ca bọt nổi 

Trời mây mưa nước rớt trong sân,

Trên nước lăn tăn thấy bọt sinh,

Bọt trước vừa tan bọt sau hiện,

Trước sau tiếp nối mãi không cùng.

Vì bởi giọt mưa nước thành bọt,

Bọt tan thành nước bởi gió xao,

Chẳng biết bọt -nước đồng một tánh,

Theo duyên chuyển biến mới khác nhau.

Ngoài sáng loáng, trong rỗng không,

Trong ngoài lóng lánh như bảo trân,

Đang khi lặng sóng xem dường có,

Bỗng dưng động đến lại như không.

Có không động tịnh khó phân minh, 

Trong cái không tướng hiện tướng hình,

Chỉ biết bọt kia từ nước khởi,

Đâu hay nước cũng từ bọt sinh.

Tạm đem bọt nước sánh thân này,

Năm uẩn đối gom giả lập người,

Hiểu thấu uẩn không bọt chẳng thật,

Mới hay thấy rõ người xưa nay.

(Thiền Môn Chư Tổ Sư Kệ Tụng)

*

Thiền sư Long Tế Thiệu Tu (Tu sơn chủ)

Dục thức giải thoát đạo, 

Chư pháp bất tương đảo,

Nhãn nhĩ tuyệt kiến văn,

Thanh sắc náo hạo hạo.

Sơ tâm vị nhập đạo,

Bất đắc náo hạo hạo,

Chung thanh lý tiến thủ,

Cổ thanh lý điên đảo.

Vạn pháp thị tâm quang,

Chư duyên duy tánh hiểu, 

Bản vô mê ngộ nhân,

Chỉ yếu kim nhật liễu.

Dịch:

Muốn biết đạo giải thoát,

Các pháp không đến nhau,

Mắt tai thấy nghe bặt,

Thanh sắc rộn lao xao.

Mới học chưa vào đạo,

Chẳng được quá ồn náo,

Tiếng chuông thì nhận ra,

Tiếng trống lại điên đảo.

Muôn pháp ánh sáng tâm,

Các duyên là tánh tỏ,

Vốn không người ngộ mê,

Chỉ cần ngày nay rõ.

*

Nhị phá bất thành nhất,

Nhất pháp trấn trường tồn,

Nhược nhân nhất nhị giải,

Vĩnh kiếp thọ trầm luân.

Dịch:

Bỏ hai chẳng thành một,

Một đó mãi thường còn,

Nếu cứ hiểu hai một,

Vĩnh kiếp chịu trầm luân.

(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 54)

*

Phong động tâm dao thọ, 

Vân sanh tánh khởi trần,

Nhược minh kim nhật sự,

Muội khước bản lai nhân.

Dịch:

Gió động tâm cây lay,

Mây sanh tánh bụi bay, 

Nếu rõ việc hiện tại, 

Quên mất người xưa nay.

(Ngũ Đăng Hội Nguyên – quyển 8)

Hòa thượng Vân Cái Trí Bổn 

Thượng đường 

Nhất niên xuân tận nhất niên xuân,

Dã thảo sơn hoa kỷ độ tân,

Thiên hiểu bất nhân chung cổ động,

Nguyệt minh phi vị dạ hành nhân.

Dịch:

Một năm xuân trọn một năm xuân,

Cỏ nội hoa đồng mấy độ xinh,

Trời sáng không do chuông trống động,

Trăng trong đâu bởi khách đi đêm.

(Tục San Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu – tập 4)

*

Thiền sư Thiên Tùng Đại Thiều 

Tuế triệu 

Kim triều tận đạo thiêm nhất tuế,

Ngô đạo như kim giảm nhất niên,

Tăng giảm khứ lai vô định số,

Duy năng tiêu tận thế gian duyên.

Tất tu thức đắc duyên trung chủ,

Bách thiên vạn kiếp thường như nhiên,

Vô tăng vô giảm như hà đạo,

Nhất cú hà tu dụng khẩu truyền. 

Dịch:

Năm mới 

Sáng nay đều nói thêm một tuổi,

Tôi bảo ngày này bớt một năm,

Thêm bớt lại qua số khôn tính,

Chỉ cần dứt sạch duyên thế gian.

Ắt phải chủ trong duyên biết được,

Trăm ngàn ức kiếp thường an nhiên,

Không bớt không thêm làm sao nói,

Một câu đâu cần dụng miệng truyền.

(Thiên Tùng Bút Ký)

*

Hòa thượng Quảng Giám Anh 

Thượng đường 

Khử niên phùng thanh xuân,

Châu nhan ảnh đào lý, 

Kim niên phùng thanh xuân,

Bạch phát áp song nhĩ.

Nhân sanh thất thập niên,

Tật nhược đông lưu thủy, 

Bất liễu bản lai tâm,

Sanh tử hà do ly.

Dịch:

Năm trước gặp thanh xuân,

Mặt hồng khoe đào lý,

Năm nay gặp thanh xuân,

Tóc bạc đầy cả mái.

Người đời tuổi bảy mươi,

Nhanh như dòng nước chảy,

Chẳng ngộ tâm xưa nay,

Sanh tử nào thoát khỏi.

(Tục San Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu – tập 6)

*

Thiền sư Khai Phước Đạo Ninh 

Khán tạng 

Phần hương đề khởi kinh lại độc,

Tiện thị niêm hoa phó chúc tâm,

Thử ngoại biệt cầu huyền diệu giải,

Du du thiên cổ thiểu tri âm.

Dịch:

Xem kinh 

Thắp hương thỉnh kinh mở ra đọc,

Chính là niêm hoa phó chúc tâm,

Ngoài đó mà cầu huyền diệu khác,

Xa xôi thiên cổ ít tri âm.

(Khai Phước Đạo Ninh Thiền Sư Ngữ Lục – quyển thượng)

*

Thượng đường 

Thu nhật diệu trường không,

Thu giang tẩm hư bích.

Thương ta môn ngoại nhân,

Xứ xứ tầm Di-lặc,

Mạch lộ hốt đài đầu,

Tương phùng bất tương thức.

Dich:

Trời thu sáng không mây,

Sông thu trong ngăn ngắt.

Than ôi! Người cổng ngoài,

Nơi nơi tìm Di-lặc,

Giữa đường chợt ngẩng đầu, 

Gặp nhau mà chẳng biết.

(Khai Phước Đạo Ninh Thiền Sư Ngữ Lục – quyển hạ)

*

Thiền sư Thử Am Thủ Tịnh 

Thượng đường 

Lưu thủy hạ sơn phi hữu ý, 

Phiến vân quy động bản vô tâm,

Nhân sanh nhược đắc như vân thủy,

Thiết thọ khai hoa biến giới xuân.

Dịch:

Nước tuôn xuống núi nào có ý,

Mây bay về động vốn không tâm, 

Người đời nếu được như mây nước,

Cây sắt trổ hoa khắp cõi xuân.

(Tục San Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu – tập 5)

*

Thiền sư Đơn Hà Tử Thuần 

Thượng đường 

Đình đình nhật ngọ du khuy bản,

Tịch tịch tam canh thượng vị viên,

Lục hộ bất tằng tri noãn ý, 

Vãng lai thường tại nguyệt minh tiền.

Dich:

Dừng dừng đúng ngọ còn kém nửa,

Lặng lặng canh ba vẫn chưa tròn,

Sáu cửa chẳng từng biết hơi ấm, 

Lại qua thường ở dưới trăng trong.

(Tăng Tập Đơn Hà Thuần Thiền Sư Ngữ Lục)

*

Thiền sư Tính Thiên Như Kiểu 

Lâm chung thị chúng 

Văn chương Phật pháp không trung sắc,

Danh tướng thân tâm liễu thượng yên,

Duy hữu tử sanh chân đại sự, 

Ân cần liễu biện mạc thiên điên.

Dịch:

Sắp tịch dạy chúng 

Văn chương Phật pháp sắc trong không,

Danh tướng thân tâm khói ngọn dương,

Chỉ có tử sanh thật việc lớn,

Ân cần biện rõ chớ lương ương.

(Tục Chỉ Nguyệt Lục – quyển 10)

*

Thiền sư Khẳng Đường Ngạn Sung 

Tức tâm tức Phật tụng 

Mỹ như Tây Tử ly kim khuyết,

Kiều tự Dương Phi hả ngọc lâu,

Chung nhật dữ quân hoa hạ túy,

Cánh hiềm hà xứ bất phong lưu.

Dịch:

Bài tụng Tức tâm tức Phật 

Đẹp như Tây Tử rời kim khuyết,

Dáng tợ Dương Phi xuống ngọc lâu,

Ngày ngày cùng anh say dưới nguyệt,

Chỗ nào lại trách chẳng phong lưu. 

(Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập – quyển 9)

*

Thị chúng 

Quán phương tri bị khứ, 

Khứ giả bất chí phương, 

Thảo hài ngận hốt đoạn,

Toàn thân tại để hương.

Dịch:

Dạy chúng 

Xem hướng biết kia đi,

Người đi không đến nơi,

Dưới chân giày chợt đứt,

Quê hương ngồi thảnh thơi.

(Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập – quyển 40)

*

Thiền sư Trí Đạt 

Tâm cảnh tụng 

Cảnh lập tâm tiện khởi,

Tâm không cảnh bất sanh,

Nhược tương tâm hệ cảnh 

Tâm cảnh lưỡng câu mạnh.

Cảnh tâm các tự trụ, 

Tâm cảnh lưỡng câu thanh,

Ngộ cảnh tâm vô khởi,

Mê tâm cảnh cộng hành.

Nhược mê tâm tác cảnh,

Tâm cảnh loạn tung hoành,

Ngộ cảnh tâm nguyên tĩnh,

Tri tâm cảnh bổn thanh.

Tri tâm vô cảnh tánh,

Liễu cảnh tâm vô hình, 

Cảnh hư tâm tịch tịch,

Tâm chiếu cảnh linh linh.

Dịch:

Bài tụng Tâm cảnh 

Cảnh lập tâm liền khởi,

Tâm không cảnh chẳng sanh,

Nếu đem tâm buộc cảnh,

Mù cả hai cảnh tâm.

Cảnh tâm mỗi tự trụ,

Tâm cảnh cả hai thanh,

Ngộ cảnh, tâm không khởi,

Mê tâm, cảnh đồng hành.

Nếu mê tâm làm cảnh,

Tâm cảnh chạy tung hoành,

Ngộ cảnh, tâm vốn lặng,

Biết tâm cảnh vẫn thanh 

Biết tâm không tánh cảnh,

Rõ cảnh, tâm không hình,

Cảnh rỗng tâm lặng lẽ,

Tâm soi cảnh lung linh.

(Tông Phạm – quyển thượng)

*

Cổ nhân tụng 

Mê thời tam giới hữu,

Ngộ hậu thập phương không,

Yếu tri thành đạo xứ, 

Chỉ tại tịnh tâm trung.

Dịch:

Khi mê đầy tam giới,

Ngộ rồi thảy đều không,

Muốn biết chỗ thành đạo,

Chỉ tại lòng sạch trong.

(Tông Môn Huyền Giám Đồ)

*

Hàn Sơn đại sĩ 

Ngô tâm tự thu nguyệt,

Bích đàm thanh kiểu khiết,

Vô vật kham tỷ luân,

Giáo ngã như hà thuyết.

Dịch:

Tâm ta dường trăng thu,

Đầm biếc trong veo veo,

Không vật có thể sánh,

Bảo ta nói gì nào?

(Hàn Sơn Tử Thi Tập)

*

Pháp sư Tăng Triệu 

Tứ đại nguyên phi hữu,

Ngũ ấm bản lai không,

Tương đầu lâm bạch nhẫn,

Nhất tự trảm xuân phong.

Dịch:

Tứ đại vốn chẳng có,

Năm ấm xưa nay không,

Đưa đầu kề gươm bén,

Dường như chém gió đông.

(Tử Bá Tôn Giả Biệt Tập – quyển 4)

*

Thiền sư Tiếu Ấn Đại Hân 

Trừ tịch thị chúng 

Thành cư tuế mộ tự thâm thôn,

Lão nạp gia phong đạo tự tồn.

Hải để nê ngưu canh bích lạc,

Vân trung cẩu phệ hoàng hôn.

Trần trần hàm nhiếp tam thiên giới,

Pháp pháp viên thành bất nhị môn.

Nhất nhậm tử thời như chuyển cốc,

Tu tri thiên địa bản đồng căn.

Dịch:

Đêm trừ tịch dạy chúng 

Thành vào năm hết tợ làng sâu,

Gia phong lão nạp đạo vẫn còn.

Cày trời, đáy bể con trâu đất,

Sủa tối, trong mây chú chó rơm.

Hạt bụi gồm thâu ba ngàn cõi,

Mỗi pháp viên thành bất nhị môn.

Bốn mùa thay đổi vành xe chuyển, 

Đất trời nên biết vẫn đồng nguồn.

(Tiếu Ẩn Hân Thiền Sư Ngữ Lục – quyển 1)

*

Cư sĩ Hoàng Sơn Triệu Văn Nhu 

Vọng tưởng nguyên lai bản tự chân,

Trừ thời hựu khởi nhất trùng trần,

Ngôn tư động tịnh thừa thùy lực,

Tử tế khán lại vô biệt nhân.

Dịch:

Nguồn vọng xưa nay đã là chân,

Trừ đi lại dấy một lớp trần,

Nói năng động tịnh sức nào chuyển,

Nhìn kỹ lại xem ai khác anh.

(Ngũ Đăng Nghiêm Thống – quyển 16)

Thiền sư Bảo Ninh Nhân Dũng 

Tuế đán thượng đường 

Tạc nhật khử niên khứ,

Kim nhật kim niên lai,

Khử niên khứ bất khứ, 

Kim niên lại bất lai.

Biến đã doanh xích tuyết,

Đại địa vong tiêm ai,

Vô danh vô tự nhân,

Cử mục liêu bồi hồi.

Dịch:

Đầu năm thượng đường 

Hôm qua năm cũ đi,

Ngày nay năm mới đến,

Năm cũ đi chẳng đi,

Năm mới đến chẳng đến.

Tuyết cả thước khắp đồng,

Đại địa bụi trần biến, 

Người không họ không tên,

Đưa mắt thoáng xao xuyến.

(Bảo Ninh Dũng Hòa Thượng Ngữ Lục)

Thiền sư Huệ Khai 

Nhân sự thượng đường 

Thị phi trường đoản nhĩ biên phong,

Thiết mạc ư trung mịch dị đồng.

Yếu đắc bát phong xuy bất động,

Phóng giao tâm địa đẳng hư không. 

Dịch:

Nhân có việc thượng đường 

Thị phi phải quấy gió qua tai,

Chớ nên trong ấy tìm dở hay.

Muốn được tám gió thổi chẳng động,

Buông thõng tâm đồng hư không ngoài.

(Vô Môn Huệ Khai Thiền Sư Ngữ Lục – quyển thượng)

*

Thiền sư Long Nha Cư Tuần 

Tại mộng na tri mộng thị hư, 

Tỉnh lai phương giác mộng trung vô.

Mê thời kháp tự mộng trung sự,

Ngộ liễu hoàn đồng thùy khởi phu.

Dich:

Đang mộng đâu hay mộng rỗng trơn,

Tỉnh ra mới biết mộng là không.

Khi mê dường thể việc trong mộng,

Lúc ngộ y như thức giấc nồng.

(Phổ Am Lục – quyển 2)

*

Thiền sư Hổ Khưu Thiệu Long (đệ tử Viên Ngộ)

Tham giá thượng đường 

Bệnh khởi vân sơn thảo mộc thu,

Phù hoa thế sự mạn du du,

Tùng lai vạn pháp bất vi lữ, 

Hà tự Thiều Dương lục bất thâu.

Dịch:

Nghỉ tham thượng đường 

Bệnh khởi, núi mây cây cỏ thu,

Việc đời phù phiếm luống mịt mù,

Xưa nay muôn pháp không làm bạn,

Nào giống Thiều Dương sáu chẳng thâu.

Thượng đường 

Thoát thân dĩ hiểu Nam Kha mộng,

Thủy giác nhân gian vạn sự không,

Xuy khởi hoàn hương vô khổng địch,

Tịch dương tà chiếu bích vân hồng.

Dịch:

Thoát thân đã hiểu Nam Kha mộng,

Mới biết nhân gian muôn việc không,

Thổi khúc hoàn hương sáo không lỗ,

Ánh chiều nghiêng chiếu ráng mây hồng.

(Hổ Khưu Thiệu Long Thiền Sư Ngữ Lục)

*

Hòa thượng Chân Như Suy Am 

Đương vấn tiểu tham 

Trú tư dạ mộng cảnh,

Dạ mộng trú tư duyên, 

Trần kiếp dữ kim nhật,

Tằng vô hữu gián nhiên.

Dịch:

Tiểu tham buổi tối 

Ngày suy cảnh đêm mộng,

Đêm mộng việc ngày suy,

Ngày nay cùng muôn kiếp, 

Chưa từng có cách ly.

(Vân Cư Súy Am Hòa Thượng Ngữ Lục)

*

Thiền sư Hoài Hải Nguyên Triệu 

Tự ông 

Vạn tượng cùng biên độc lộ thân,

Tùng sanh chí tử một thân,

Trước y khiết phạn tầm thường sự,

Thành hiện hà tằng vấn biệt nhân.

Dịch:

Tự ông 

Tột cùng vạn tượng riêng bày thân,

Từ sanh đến tử chẳng sơ thân,

Ăn cơm mặc áo tầm thường ấy,

Cần hỏi ai đâu, đã rõ ràng.

(Hoài Hải Nguyên Triệu Thiền Sư Ngữ Lục)

*

Thiền sư Vô Chuẩn Sư Phạm 

Trừ tịch tiểu tham 

Quang cảnh thông thông nhược thệ xuyên, 

Cựu niên khử liễu hựu tân niên,

Niên lai niên khứ tự lai khứ, 

Để sự hà tằng hữu biến thiên.

Dịch:

Đêm trừ tịch tiểu tham 

Cảnh đời vùn vụt tợ nước trôi,

Năm cũ qua, năm mới tới rồi,

Năm đi năm đến tự đi đến, 

Việc ấy đâu từng có đổi dời.

(Vô Chuẩn Sư Phạm Thiền Sư Ngữ Lục – quyển 3)

Thiền sư Thạch Điền Pháp Huân 

Trung thu thượng đường 

Thông thân vô mịch xứ, 

Biến giới bất tằng tàng,

Bế mục trung thu tọa,

Khước tiếu nguyệt vô quang.

Dịch:

Trung thu thượng đường 

Toàn thân không chỗ kiếm,

Hiện tiền khắp mọi nơi,

Trung thu ngồi khép mắt,

Lại cười trăng không soi.

(Thạch Điền Pháp Huân Thiền Sư Ngữ Lục – quyển 1)

*

Hòa thượng Tuyết Nham Tổ Khâm 

Chỉ cải cựu thời hành lý xứ,

Y tiền chỉ thị cựu thời nhân.

Dich:

Chỉ đổi chỗ bước chân ngày cũ,

Cũng vẫn là người khi xưa thôi.

(Tuyết Nham Hòa Thượng Ngữ Lục – quyển 3)

*

Thiền sư Tiên Đổ hiệu Vô Kiến 

Sơn cư thi 

Trang Sinh hữu ý năng tề vật,

Ngã đã vô tâm dữ vật tề,

Độc tọa bồ đoàn xuân nguyệt noãn,

Nhất thanh u điểu cách song đề.

Dịch:

Bài thơ ở núi 

Trang Chu có ý hay tề vật,

Ta chỉ vô tâm cùng vật tề,

Độc tọa bồ đoàn ngày xuân ấm, 

Một tiếng chim kêu xa vọng về.

(Vô Kiến Tiên Đổ Thiền Sư Ngữ Lục – quyển hạ)

*

Thiền sư Chánh ở Bá Trượng 

Bất muội nhân quả tụng 

Họa sư họa địa ngục,

Họa xuất bá thiên ban,

Trú bút tùng đầu khán,

Đặc địa cốt mao hàn.

Dịch:

Bài tụng không lầm nhân quả 

Họa sĩ vẽ địa ngục,

Trăm ngàn cảnh vẽ ra,

Dừng bút xem kỹ lại,

Cả người nổi da gà.

(Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập – quyển 10)

*

Thiền sư Thạch Thất Thanh Hồng 

Vạn duyên hưu kiệt bãi,

Nhất niệm tuyệt trung biên.

Tận nhật nhàn nhàn địa,

Trường niên thản thản nhiên.

Sơn không vân tự tại,

Thiên tịnh nguyệt cô viên.

Ma luyện công phu đáo,

Nan đồng tri giải thiền.

Dịch:

Muôn duyên buông hết sạch,

Một niệm bặt hai bên.

Trọn ngày hàng thong thả,

Suốt năm vẫn thản nhiên.

Núi không mây tự tại,

Trời trong trăng riêng tròn.

Luyện mài công phu đến, 

Đâu giống tri giải thiền.

*

Thâm sơn Tăng trụ xứ,

Đoan đích thắng Bồng Lai.

Địa thượng tịnh vô thảo, 

Viên trung khước hữu mai.

Nhàn đa chư tưởng diệt,

Tịnh cực tự tâm khai.

Nhất định phá thiền nạp,

Hòa vân sái thạch đài.

Dịch:

Núi sâu chỗ Tăng ở,

Quả là hơn Bồng Lai,

Trên đất trọn không cỏ,

Trong vườn lại có mai.

Nhàn nhiều các tưởng diệt,

Lặng tột tâm tự khai.

Một chiếc áo thiền rách,

Cùng mây phơi thạch đài.

*

Chân không trạm tịch duy thường tại,

Bất giác lương điền vọng sở mông,

Chân tánh hà tằng ly vọng hữu,

Hoa khai hoa lạc tự xuân phong.

Dịch:

Chân không lặng lẽ mãi thường còn,

Bỗng chợt lương điền vọng che lồng,

Chân tánh đâu từng lìa vọng có,

Hoa khai hoa rụng tự gió đông.

*

Sơn cư thi 

Liễu liễu thường tri tự bất trị,

Tiêu nhiên như ngột hựu như si.

Triền càn đảo nhạc trấn trường tịnh,

Nhất niệm vạn niên chung bất đi.

Hữu nhĩ thính thanh phong quá thọ,

Vô tâm ứng vật nguyệt lâm trì.

Hưu ngôn ngã độc năng minh liễu,

Thử sự nhân nhân tận khả vi 

Dịch:

Bài thơ ở núi 

Liễu liễu thường tri dường chẳng tri,

Ngơ ngơ như ngốc lại như si 

Xoay trời lật núi vẫn thường lặng,

Một niệm muôn năm trọn chẳng dời.

Có tai nghe tiếng cây gió thổi,

Không tâm ứng vật hồ trăng soi.

Thôi bảo riêng ta hay rõ biết,

Việc ấy người người cũng thế thôi.

Thị chúng kệ 

Thuyết thị thuyết phi hà nhật liễu, 

Vô minh hải khoát ngã sơn cao.

Tu thân như vị thanh tam hoặc,

Phàm sự tu đương diệt nhất hào.

Nhàn tịnh quang âm không quá liễu,

Hiện thành chúc phạn nhược vi tiêu.

Ân cần thuyết hướng chư thiền khách,

Mạc bả ca-sa hoán vũ mao.

Dịch:

Kệ dạy chúng 

Bàn nói thị phi ngày nào hết,

Vô minh biển rộng, núi ngã cao.

Tu thân chưa dẹp xong ba hoặc,

Gặp việc đừng lưu một chút nào.

Thong thả tháng ngày trôi qua mất,

Hiện nay cơm cháo làm sao tiêu.

Ân cần nói với chư thiền khách,

Cánh lông nỡ đổi ca-sa sao? 

(Thạch Thất Thanh Hồng Thiền Sư Ngữ Lục – quyển hạ)

*

Thiền sư Cao Phong Nguyên Diệu 

Tuế đán thị chúng 

Bách niên nan ngộ tuế triều xuân 

Xá nữ sơ trang việt dạng tân, 

Duy hữu đông thôn Vương đại tả

Y tiền mãn diện thị ai trần.

Dịch:

Đầu xuân dạy chúng 

Trăm năm khó gặp sáng ngày xuân

Cô bé chải đầu dáng thanh tân,

Chỉ có thôn đông chị Vương nọ 

Như xưa đầy mặt dính bụi trần.

*

Thị thiền nhân 

Hồng trần đôi lý học sơn cư,

Tịch diệt thân tâm đạo hữu dư,

Đản đắc hung trung tẳng ái tận,

Bất tham thiền diệc thị công phu.

Dịch:

Dạy người tham học 

Giữa chốn bụi hồng dường ở non,

Thân tâm lặng lẽ đạo hãy còn,

Chỉ cốt trong lòng yêu ghét sạch,

Tuy chẳng tham thiền đạo tự son.

(Cao Phong Nguyên Diệu Thiền Sư Ngữ Lục – quyển thượng)

*

Thử tâm thanh tịnh bản vô hà,

Chỉ vị tham cầu bị vật già,

Đột xuất nhãn tình toàn thể lộ,

Sơn hà đại địa thị không hoa.

Dịch:

Tâm này thanh tịnh vốn không mờ,

Vì bởi tham cầu bị che lòa,

Chợt mở con ngươi toàn thể hiện,

Đất đai sông núi thảy không hoa.

(Cao Phong Nguyên Diệu Thiền Sư Ngữ Lục – quyển hạ)

*

Thiền sư Linh Vân Chí Cần 

Tam thập niên lại tầm kiếm khách,

Kỷ hồi lạc diệp hựu trừu chi,

Tự tùng nhất kiến đào hoa hậu,

Trực chí như kim cánh bất nghi 

Dịch:

Ba mươi năm qua tìm kiếm khách,

Bao phen lá rụng lại đâm chồi,

Từ khi chợt thấy hoa đào nở,

Cho đến hôm nay nghi đã thôi.

(Ngũ Đăng Hội Nguyên – quyển 4)

*

Thiền sư Ngộ Ấn, đời Lý 

(Thiền phái Vô Ngôn Thông -Việt Nam)

Kệ thị tịch 

Diệu tánh hư vô bất khả phan, 

Hư vô tâm ngộ đắc hà nan,

Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận,

Liên phát lô trung thấp vị can.

Dịch:

Kệ thị tịch 

Tánh diệu rỗng không chẳng thể vin

 Rỗng không tâm ngộ việc dễ tin,

Tươi nhuần sắc ngọc trong núi cháy, 

Lò lửa hoa sen nở thật xinh.

(Thiền Uyển Tập Anh)

*

Thiền sư Hương Nghiêm Trí Nhàn 

Nhất kích vong sở tri,

Cánh bất giả tu trì,

Động dung dương cổ lộ,

Bất đọa thiểu nhiên kỵ.

Xứ xứ vô tông tích,

Thanh sắc ngoại oai nghi,

Chư phương đạt đạo giả, 

Hàm ngôn thượng thượng kỵ.

Dịch:

Một tiếng quên sở tri,

Đâu cần phải tu trì,

Đổi sắc đường xưa hiện,

Chẳng rơi cơ lặng yên.

Chốn chốn không tông tích,

Oai nghi ngoài sắc thanh,

Các nơi người đạt đạo,

Đều gọi bậc thượng cơ.

(Cảnh Đức Truyền Đăng Lục – quyển 11)

*

Thiền sư Cung ở Thạch Song 

Phật sanh nhật tụng 

Ngũ Thiên nhất chích bồng hao tiễn,

Giảo động Chi-na bách vạn binh,

Bất đắc Vân Môn hành chính lệnh,

Cơ hồ thố nhận định bàn tinh.

Dich:

Tụng ngày Phật đản 

Tên thần một mũi từ Thiên Trúc,

Dao động Trung Hoa trăm vạn binh,

Chẳng được Vân Môn hành chính lệnh, 

Cơ hồ lầm nhận định bàn tinh.

(Tùng Lâm Thạnh Sự – quyển hạ)

*

Thiền sư Bổn Dự, đời Thanh 

Thượng đường 

Ngũ uẩn sơn đầu tự tại thân,

Liễu nhiên vật vật ứng thiên chân,

Đốn giao trực hả vô tư nghị,

Huyền yếu toàn phân kiến bản nhân.

Dịch:

Đầu núi năm uẩn hiện pháp thân,

Rõ ràng mỗi vật hợp thiên chân,

Khéo hay liền đó không bàn nghĩ,

Huyền yếu toàn bày thấy bản thân.

(Ngũ Đăng Hội Nguyên Tục Lược – quyển 4)

*

Thiền sư Cổ Linh Thần Tán 

Phong tử đầu song tụng 

Không môn bất khẳng xuất,

Đầu song dã thái sin

Bách niên toàn cố chỉ,

Hà nhật xuất đầu thì.

Dịch:

Bài tụng Ong dùi cửa sổ 

Cửa trống chẳng chịu ra,

Quá ngu chui cửa sổ,

Giấy cũ trăm năm dùi,

Ngày nào mới ra khỏi.

(Ngũ Đăng Hội Nguyên – quyển 4)

*

Thiền sư Đông Sơn Pháp Diễn 

Không môn hữu lộ nhân giai đảo,

Đảo giả phương tri chỉ thủ trường,

Tâm địa bất sanh nhàn thảo mộc,

Tự nhiên thân phóng bạch hào quang.

Dịch:

Cửa Không đường ấy người đều đến, 

Đến đó mới hay chỉ thủ trường,

Đất tâm nếu chẳng sanh cỏ dại,

Tự nhiên thân phóng bạch hào quang.

Thiền sư Ẩn Tịnh Trí Nhu bình 

Không môn hữu lộ nhân giai đảo,

Đảo giả phương tri ngại xứ thông,

Thạch thượng tài hoa hoàn kết quả,

Đảo đầu nguyên bất giả xuân phong.

Dịch:

Cửa Không đường ấy người đều đến,

Đến đó mới hay các ngại thông,

Trồng hoa trên đá mà ra trái,

Rốt cùng lại chẳng mượn gió đông.

(Ngũ Đăng Toàn Thư – quyển 48)

*

Thiền sư Chiêu Khánh Tịnh Tu 

Thị tọa thiền phương tiện 

Tử oai nghi nội tọa vi tiên,

Trừng lự thân tâm tiệm thản nhiên.

Miết nhĩ hữu duyên tùy trược giới,

Đương tu mạc tục thị thiên niên.

Tu trì chỉ thoại tùng công lộ,

Chí lý ninh luận tại na biên.

Nhất thiết thời trung thường quản đới,

Nhân duyên tương tấu khoát thông huyền. 

Dịch:

Dạy phương tiện tọa thiền 

Trong bốn oai nghi ngồi ưu tiên, 

Lóng lặng thân tâm sẽ được yên.

Bất chợt nếu duyên theo cõi trược,

Chớ nên tiếp nối ấy thiên niên.

Tu trì chỉ nói theo đường chính,

Chí lý đâu bàn một bên.

Trong tất cả thời đều theo dõi,

Nhân duyên đưa đến bỗng thông huyền. 

(Cảnh Đức Truyền Đăng Lục – quyển 29)

*

Thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác 

Nhược dĩ tri tri tịch,

Thử phi vô duyên tri,

Như thủ chấp như ý,

Phi vô như ý thủ.

Nhược dĩ tự tri tri, 

Diệc phi vô duyên tri,

Như thủ tự tróc quyền,

Phi thị bất quyền thủ.

Diệc bất tri tri tịch,

Diệc bất tự tri tri,

Bất khả vi vô tri,

Dĩ tánh liễu nhiên cố. 

Bất đồng ư mộc thạch,

Như thủ bất chấp vật,

Diệc bất tự tác quyền,

Bất khả vi vô thủ,

Dich:

Dĩ thủ an nhiên cổ, 

Bất đồng ư thố giác.

Nếu lấy biết biết lặng,

Chẳng phải biết không duyên, 

Như tay cầm như ý,

Đâu phải không tay cầm.

Nếu lấy tự biết biết,

Chẳng phải biết không duyên, 

Như tay tự làm nắm,

Chẳng phải không tay nắm.

Cũng không biết biết lặng,

Cũng không tự biết biết,

Không thể là không biết,

Vì tánh rõ ràng vậy. 

Chẳng đồng như cây đá,

Như tay chẳng cầm vật,

Cũng chẳng tự làm nắm,

Không thể là không tay,

Bởi tay an nhiên vậy,

Chẳng đồng như sừng thỏ.

(Lâm Gian Lục – quyển hạ)

Cổ nhân tụng 

Nhược năng tĩnh tọa nhất tu du,

Thắng tạo hà sa thất bảo tháp, 

Bảo tháp tất cánh hóa vi trần,

Nhất niệm tịnh tâm thành chánh giác.

Dịch:

Nếu hay ngồi lặng một phút giây,

Hơn tạo hà sa tháp bảy báu,

Tháp báu rốt cuộc hóa vi trần,

Một niệm tâm tịnh thành chánh giác.

(Nhân Thiên Bảo Giám)

*

Thiền sư Tử Tâm Ngộ Tân 

Tán sư tượng 

Thất bách niên định,

Cuống hô lư diêm,

Nhất niệm siêu việt,

Thiên hạ hoành hành.

Dịch:

Tán ảnh tượng pháp sư Huệ Trì 

Bảy trăm năm định,

Dối gạt xóm làng, 

Một niệm siêu việt, 

Thiên hạ dọc ngang.

(Tuyết Đường Hạnh Hòa Thượng Thập Di Lục)

*

Thiền sư Động Sơn 

Ngũ Đài sơn đảnh vân chưng phạn,

Phật điện giai tiền cẩu niệu thiên 

Sát can đầu thượng tiễn chùy tử,

Tam cá hồ tôn dạ bá tiền.

Dịch:

Đảnh non Ngũ Đài mây nấu cơm, 

Trước thềm Phật điện chó đái trời,

Trên đầu cột phướn người nướng bánh,

Khi nhỏ ba con đêm rải tiền.

(Ngũ Đăng Toàn Thư – quyển 63)

*

Thiền sư Long Sơn Ẩn Sơn 

Sơn cư 

Tam gian mao thất tùng lại trụ,

Nhất đạo thần quang vạn cảnh nhàn.

Mạc bả thị phi lai biện ngã, 

Phù sinh xuyên tạc bất tương quan.

Dịch:

Ở núi 

Xưa nay nhà cỏ ba gian,

Một ánh thần quang muôn cảnh nhàn.

Chớ đem phải quấy cùng ta biện,

Hơn thua cõi tạm chẳng tương quan.

(Thiền Tông Tạp Độc Hải – quyển 8)

*

NGŨ VỊ TỤNG -TÔNG TÀO ĐỘNG 

Chánh trung thiên 

Tam canh dạ nguyệt minh tiền,

Mạc quái tương phùng bất tương thức,

Ẩn ẩn du hoài cựu nhật hiềm.

Dich:

Canh ba đầu đêm trước trăng sáng,

Chớ lạ gặp nhau mà chẳng biết,

Im im còn nhớ hiềm ngày xưa.

Một vị Chánh trung thiên chỉ một phen đại tử, chợt được tỉnh ngộ, thấy đạo nhập lý là chánh vị.

Nếu có bậc thượng sĩ chân chánh tham huyền, tích lũy công thầm tham, ngầm tu sức sung mãn, bỗng nhiên phát ngộ thì hư không tiêu mất, núi Thiết Vi nát tan, trên không mảnh ngói che đầu, dưới không tấc đất để chân, không phiền não, không Bồ-đề, không sanh tử, không Niết-bàn, một mảnh rỗng lặng như đầm trong không đáy, như thái hư bặt vết. Thường thường nhận được một vị này, cho là đại sự xong xuôi, bảo là Phật đạo thành mãn, tử thủ không buông. Nói đây là “Thiền trong nước chết” là “Con quỷ giữ thây chết trong hòm”. Dù cho đắm trước ba bốn mươi năm, cũng không thể thoát khỏi hang ổ nhỏ của Độc Giác tự ngộ.

Vì thế nói: “Cơ cảnh chẳng lìa vị rơi tại biển độc”, đây là kinh Pháp Hoa nói: “Chánh vị thủ chứng là người đại si.” Giả sử có chân trí rõ ràng bình đẳng không sai biệt, cũng không thể dấy sáng diệu trí vạn pháp sai biệt. Thế nên ở chỗ lặng lẽ vô vi nhàn tịch.

Tuy trong ngoài sáng suốt rành rẽ phân minh, song quán chiếu vừa kẹt trần duyên, dao động rối loạn, thương ghét sai biệt thì không có nửa điểm khí lực, các khổ ép ngặt. Vì cứu bệnh trầm kha này nên giả lập một vị Thiên trung chánh.

Thiên trung chánh 

Thất hiểu lão bà phùng cổ cảnh,

Phân minh địch diện cánh vô chân,

Hưu cánh mê đầu hoàn nhận ảnh.

Dịch:

Mất sáng lão bà gặp cổ kính,

Rõ ràng đối diện đâu riêng chân,

Thôi chớ quên đầu mà nhận bóng.

Hành giả nếu trụ trước vị “Chánh trung thiên” thì trí thường hướng bối, chỗ thấy thiên khô. Thế nên hàng thượng sĩ tham huyền thường nằm ngồi trong các thứ trần ai sai biệt, hãy đem muôn pháp trước mắt nào là già trẻ, lớn nhỏ, nhà gác, thiền chái, cỏ cây sông núi… lấy làm mặt mắt thanh tịnh chân chánh xưa nay đầy đủ của chính mình, như nhìn vào gương sáng thấy rõ mặt mắt mình. Ở tất cả chỗ quán chiếu như thế, thời gian lâu thì tự nhiên kia đây thành một mặt gương báu nhà ta. Nơi đây như hai mặt gương soi nhau, ở trong lòng gương không có một điểm bóng dáng, tâm cảnh nhất như, vật ngã không hai, như ngựa trắng vào hoa lau, chén bạc đựng tuyết. Đây gọi là Bảo cảnh tam-muội. Kinh Niết-bàn nói: “Như Lai mắt thấy Phật tánh” ấy vậy. Khi nhập được tam-muội này là con trâu trắng lớn đuổi chẳng đi, liền đó chứng được chân tục không hai, chỉ có Nhất thừa trung đạo thật tướng, Đệ nhất nghĩa đế, Bình đẳng tánh trí vận xuất trước mắt.

Nếu hành giả đến điền địa này tự cho là đủ, cũng là như trước rơi trong hầm sâu của tiểu quả Nhị thừa, chẳng biết oai nghi của Bồ-tát, chẳng rõ nhân duyên quốc độ của Phật. Vì thế, Tổ sư vì cứu hoạn nạn này lại giả lập vị Chánh trung lai.

Chánh trung lai 

Vô trung hữu lộ xuất trần ai,

Đản năng bất xúc đương kim huy,

Dã thắng tiền triều đoạn thiệt tài.

Dịch:

Trong không có đường thoát trần ai,

Nếu hay chẳng phạm hủy triều này, 

Cũng hơn tài cắt lưỡi triều trước.

Một vị này, rõ ràng hàng thượng thừa Bồ-tát chẳng thủ chứng chánh vị. Bồ-tát đã không sở chứng như trên là đủ, chuyển tiến chẳng thối, trong biển vô công dụng dấy sáng vô duyên đại bi, y tứ hoằng thệ thanh tịnh, đánh xe đại nguyện, trên cầu Bồ-đề, dưới hóa độ chúng sanh. Nên nói “nhằm trong đi lại đến, nhằm trong đến lại đi” ấy vậy.

Vì khiến biết thọ dụng sáng tối song song nên lập một vị Kiêm trung chí.

Kiêm trung chí 

Lưỡng nhẫn giao phong bất tu tỵ, 

Hảo thủ hoàn đồng hỏa lý liên,

Uyển nhiên tự hữu xung thiên khí.

Dịch:

Hai kiếm chạm nhau tránh chẳng nên,

Người tài lại như sen trong lửa,

Rõ ràng tự có khí xung thiên.

Một vị này, Bồ-tát lăn bánh xe pháp sáng tối không hai, đầu tro mặt đất ở trong đám bụi hồng, ở trong đội binh thanh sắc bảy cuồng tám điên, như hoa sen ở trong lò lửa, gặp lửa sắc hương càng xinh tươi, buông thõng tay vào chợ là tha thọ dụng. Cho nên nói: “Ở giữa đường chẳng lìa nhà cửa, lìa nhà cửa chẳng ở giữa đường.” Là phàm là thánh, ma ngoại không thể biện. Phật tổ không thể nắm tay, toan dấy tâm nghĩ thì sừng thỏ lông rùa qua núi khác. Trong đây vẫn là chẳng phải chỗ kia ngồi yên, nên nói: Rõ ràng tự có khí xung thiên. Cứu cánh thế nào? Nên biết còn có một vị Kiêm trung đáo.

Kiêm trung đáo 

Bất lạc hữu vô thùy cảm hòa,

Nhân nhân tận dục xuất thường lưu,

Chiết hợp hoàn quy thán lý tọa.

Dịch:

Chẳng rơi có không, ai dám hòa?

Người người trọn muốn thoát cõi tục,

Rốt cuộc trở về ngồi trong tro.

*

Hộc Hưu trước ngữ 

Đức Vân nhàn cổ trùy,

Kỷ hạ Diệu Phong đảnh, 

Hoán tha si thánh nhân,

Đảm tuyết cộng điền tỉnh.

Dịch:

Hộc Hưu bình 

Đức Vân chùy vô dụng, 

Mấy phen Diệu Phong xuống, 

Gọi thánh nhân si kia,

Gánh tuyết cùng lấp giếng.

Học giả muốn thấu được một vị Kiêm trung đáo của Động Sơn, trước phải tham cứu bài tụng này.

Đại sĩ Thiện Huệ 

HAI MƯƠI BÀI ĐI ĐƯỜNG KHÓ

Lời tựa

Tâm tánh rỗng lặng lượng đồng pháp giới, tùy thuận chân như, bặt hết các tướng. Không tạo tác, không nhân duyên. Lặng lẽ thường còn mà không trụ. Pháp tràn đầy thế giới mà thật lý không đổi dời. Diệu đạo trở về không mà khắp đồng vạn hữu. Đấng Pháp vương ngự nơi đây nên nói kinh Kim Cang. Cho nên xưa nói, muốn hiển bày tướng này mà chẳng phải là chỗ hiển bày của lời nói. Song chạm việc bao trùm mà không nhiếp thuộc việc. Tánh chẳng phải giải thoát, vốn không có thập triền. Gặp duyên chẳng dấy gọi đó là diệu. Lời nói chẳng đến nên nói tự nhiên. Thường cùng thế gian hòa hợp mà pháp thế gian chẳng nhiễm. Tướng thế tục làm thể của nó mà cũng chẳng bị thế tục ràng buộc. Thật là hư huyền tột diệu, bát ngát mênh mông chỉ mang tên rỗng.

Tâm không tướng trạng mà hiện hình, tuy có hình mà không tượng. Tan hợp không ngắn mà chẳng đi chẳng lại. Dù thu rút cũng chẳng hẹp, dù mở toang cũng chẳng rộng. Đây không phải vật mà có tiếng, đủ tiếng mà không có âm vang. Tánh lặng lẽ rỗng không, chẳng phải một chẳng phải hai. Rộng soi rành rõ hằng tự sáng rỡ, chưa từng tạm có mà toàn thể hiện tiền. Tuy hiện tiền mà khó tập khó bắt chước. Nhỏ bằng mảy lông mà chẳng nhỏ, lớn bằng tam thiên mà chẳng lớn. Lý không quyết định, không lắng không nghe, tuy không mà sáng rỡ. Sanh tử thản nhiên chẳng do nuôi dưỡng. Tất cả loài hàm thức chúng sanh đồng có pháp yếu này. Ngộ được gọi là Niết-bàn, còn người không biết gọi là ức tưởng. Đây là chân thật không nghi, có thể mềm có thể cứng. Trông xa thì thế giới chẳng dung, dứt niệm thì toàn thể đều đồng.

Đây là sắc mà không sắc, lặng lẽ rộng sâu. Dừng đó thì thể vô lượng vô cùng, hợp đó thì chẳng phải một chẳng phải hai. Một phen dấy khởi thì bủa khắp muôn nơi, chẳng chậm chẳng nhanh, chẳng dung mà dung, chẳng phàm chẳng thánh, chẳng trí chẳng ngu. Chỉ bậc thuần phác vô tâm mới hợp với tông rỗng rang này. Kẻ hội đó thì mở toang mờ tối, người chiếu soi thì sáng tỏ mê lầm. Pháp thân lặng lẽ không thêm không bớt. Loài tứ sanh tam hữu nghe đó liền cho là không, bởi vì nó u vi lặng lẽ khó thấy khó biết. Nếu lập một danh tướng thì chẳng hợp chẳng ly, chẳng phải đoạn chẳng phải thường mà đều thông cả hai bên, không sáng tối không tuệ không si. Đây chẳng phải trí khôn ngoan của người thế gian hay hiểu đến, mà là chỗ suy nghĩ sâu xa của hàng đạt tuệ vô sanh. Nếu người tự ngộ vô tâm thì hằng sống chẳng chết. Thấy mà chẳng thấy, không vướng không nương. Chín mươi sáu thứ ngoại đạo ở thế gian cũng không thể hiểu đến. Đây chính là nền tảng thiết yếu của Phật pháp vô thượng.

Tôi đã được nghe nên không thể làm thinh, dùng trí thô hiểu cạn thuật lời vụng về. Tuy chẳng hội diệu lý mà đại ý lời nói kia cũng trở về tự nhiên. Tâm tánh hôn mê kìm chế vọng lự, mong bậc cao minh chánh sĩ xem thấy đừng cười.

Bài một 

Rõ phi đoạn phi thường 

Anh thấy chăng, 

Tự tâm chẳng đoạn cũng chẳng thường,

Ở khắp các phương chẳng thuộc phương.

Lại cũng chẳng nương mé sau trước,

Mà chẳng ngắn dài cũng chẳng tròn.

Lặng lẽ không sanh cũng không diệt,

Chẳng trắng chẳng đen chẳng xanh vàng,

Tuy do niệm tự biết các pháp, 

Mà thật chẳng ở giữa niệm này.

Chúng sanh nhập mà không chỗ nhập,

Tuy duyên sáu cảnh chẳng tổn thương,

Người trí phân minh biết rõ nó,

Thế nên được hiệu là Pháp vương.

Tự ngộ pháp Biết không biết” ấy,

Nhân đây trí tuệ đồng kim cương,

Chẳng mượn duyên ngoài nuôi tâm phủ,

Giới định tuệ nhẹ nhàng giữ gìn.

Yên ở đỉnh Phổ Siêu tam-muội,

Nhớ tưởng điên đảo hằng sạch trơn,

Thấy rõ phiền não theo Như tướng,

Gọi cái Không này là đạo tràng.

Vì mọi người nói chân thường giáo,

Diệu nghĩa như thế chưa từng bày.

Đi đường khó,

Đường khó vi diệu rất khó đi,

Nếu lấy vô tri chiếu tri pháp,

Hiện tiền chứng được gốc vô sanh.

Bài hai 

Rõ chân chiếu không chiếu 

Anh thấy chăng, 

Chân chiếu rõ ràng tánh không chiếu,

Suốt soi cùng khắp lại không bình,

An trụ vô minh biết minh chiếu, 

Thấu rõ vô minh của minh chiếu. 

Một tâm hằng dứt tất cả hạnh,

Mới lại siêng làm việc chẳng làm,

Một tâm chẳng tâm cũng chẳng một 

Không một không tâm hành chẳng sanh.

Biết tâm tức là pháp vô sanh,

Chẳng lìa pháp sanh có vô sanh.

Nếu biết các duyên tánh không khởi, 

Tùy tâm điên đảo mặc tung hoành.

Hiểu rõ không tâm nào cách ngại,

Ngôn luận thế gian chẳng nhọc tranh,

Nếu còn cố muốn tranh ngôn luận, 

Sẽ bị tham si mù mắt mình.

Thế nên kinh nói ưa tri kiến, 

Năm ấm trần lao theo đó sanh,

Nếu có tuệ tâm gìn bản tế,

Tự được đường chánh rộng phẳng bằng.

Tánh chánh tâm bình không có chánh,

Giả lập bình chánh dẫn quần sanh.

Đi đường khó, 

Đường khó thường ở ngũ ấm sơn,

Niết-bàn hư huyền không phải lặng,

Tuy có sanh tử riêng thanh nhàn.

Bài ba 

Rõ tâm tướng là thật tướng 

Anh thấy chăng,

Tướng tâm vi tế rất kỳ tinh 

Chẳng tạo chẳng duyên chẳng sắc danh,

Tuy là điềm nhiên không có tướng, 

Hoặc phàm hoặc thánh, tánh linh mình.

Tánh linh không hình mà thường ứng,

Tuy là thường ứng thật không hình,

Tâm tánh không đi cũng không đến,

Duyên tự lưu chuyển thật chẳng dừng.

Chánh giác đây là chân thường giác,

Phương tiện Lộc Uyển lập tôn kinh,

Vì độ vọng tưởng các tà kiến,

Khiến biết tịch diệt được an ninh.

Rộng nói Bồ-đề cùng các hạnh,

Mà hai pháp này là âm thanh,

Thấu chỗ âm thanh chẳng phải chỗ,

Ba độc phiền não chẳng vơi đầy.

Lại đạt năm ấm đều không tịch,

Chánh tuệ vô sanh ngăn sáu tình,

Nơi đây sáu tình cùng niệm diệt,

Tức là thật đến Niết-bàn thành.

Đi đường khó, 

Đường khó không qua cũng không lại,

Tham sân chẳng ở trong lẫn ngoài,

Quả thật cũng không dừng giữa.

Bài bốn 

Rõ vô tướng rỗng suốt 

Anh thấy chăng,

Trong pháp quyết định không quyết định,

Hư vọng điên đảo là Bồ-đề,

Nếu tâm phân biệt Bồ-đề pháp,

Phân biệt Bồ-đề lại hoàn mê.

Nếu rõ mê này không phân biệt,

Mê cùng phân biệt tức Bồ-đề,

Phân biệt Bồ-đề chẳng một khác,

Hằng đồng một thể chẳng rời nhau.

An trụ tánh không là tánh thật,

Tánh không chẳng không cũng chẳng còn,

Đồng thể đại bi trùm tất cả,

Nên biết chân pháp chẳng trái mê.

Chỉ cái mê này tức không tánh,

Cũng lại chẳng luận bằng chẳng bằng, 

Nếu bỏ trần lao lại không pháp, 

Dụ như hoa sen sanh trong bùn.

Pháp thân Như Lai không chỗ khác,

Ba cõi địa ngục vẫn bao trùm,

Ba cõi địa ngục vốn chẳng có,

Vi diệu còn ai biết lối đi? 

Đi đường khó,

Đường khó uốn tự là Niết-bàn,

Thân tâm trong ngoài đều không tịch,

Chỗ nào có điên đảo tham sân? 

Bài năm 

Rõ phàm thánh chẳng một chẳng hai 

Anh thấy chăng,

Phiền não mênh mông chẳng phải một,

Tuy là chẳng một cũng chẳng nhiều,

Nếu hay soi biết bản tế nó,

Liền là chân thân Lô-xá-na.

Vào trong vi trần cũng không ngại,

Không ngại thể tịch khắp Ta-bà,

Phàm thánh đôi đường chẳng hai chỗ,

Sanh tử Niết-bàn thường cộng hòa,

Danh tự hòa cùng là gắng lập,

Chỉ cái ái si chân Phật-đà.

Bát-nhã sâu xa trí chẳng trí,

Do không tâm ý dẹp chúng ma,

Tôi đã thành tâm học thuật đó,

Đem chỗ tối đốt làm ca này.

Đi đường khó, 

Đường khó tâm tánh rộng thênh thang,

Tham dục xưa nay thường vắng lặng,

Người trí nơi đây vẫn bàng hoàng.

Bài sáu 

Rõ răn tâm tánh không nhiễm 

Anh thấy chăng, 

Người trí cầu tâm chẳng cầu Phật,

Các pháp tịch diệt tức tham dâm,

Ái dục tham dâm từ tâm khởi,

Ta cũng răn tâm nơi chẳng tâm.

Nếu mà cầu tâm lại chẳng được,

Tự nhiên không chỗ khởi tham dâm,

Tham dâm không khởi cũng không diệt,

Điên đảo chẳng cạn cũng chẳng sâu.

Lại cũng chẳng được chẳng tham dục,

Không được chẳng được diệu khó tầm,

Trong tánh tam độc hằng như thế,

Đầy đủ thường đồng rừng vững bền.

Tôi nhận tham dâm là Phật sự, 

Lại không tam độc xâm phạm nhau,

Nếu cầu xa lìa lại chìm lịm,

Phân biệt ra vào trở lại chìm.

Chư Phật khéo được nơi tam độc,

Chúng sanh hư vọng không thể kham,

Ta cũng siêng tu tánh tam độc, 

Lại chẳng nguyện cầu chư Phật tâm.

Đi đường khó,

Đường khó trong tâm vốn không vật,

Không vật tức là tịnh Bồ-đề,

Không thấy, trong tâm thường thấy Phật.

Bài bảy 

Rõ Bát-nhã không tranh 

Anh thấy chăng,

Nguồn chân Bát-nhã vốn thường tịnh,

Cội gốc sanh tử tự rỗng không,

Chính sanh tử này chân Bát nhã, 

Lìa nó tìm ngoài lại trái xa.

Nếu tâm phân biệt nơi sanh tử,

Các khổ độc nạn lại đuổi rong,

Nay nếu thờ nó làm thợ khéo,

Hư vọng điên đảo về không xong.

Mà đây chỉ mượn lời nói rỗng,

Nhơ sạch hai bên đều chẳng nương,

Không tâm bỏ lìa nơi sanh tử, 

Cũng chẳng theo Niết-bàn tâm không.

Niết-bàn không tâm tức sanh tử, 

Sanh tử không tâm Bát-nhã bừng,

Bát-nhã sáng tâm không chiếu dụng, 

Không chiếu không dụng đoạn ngữ ngôn.

Cũng lại không muốn có các kiến,

Tức là Vô thượng y Pháp vương,

Khéo hiểu được thuốc không tâm ấy, 

Các bệnh ba cõi trọn trị lành.

Đi đường khó,

Đường khó dẹp đó rồi lại dẹp,

Biết được tánh dẹp xưa nay không,

Không tâm trọn là Ma-ha-diễn (Đại thừa).

Bài tám 

Rõ bản tế không thể được 

Anh thấy chăng,

Ở trong bản tế lại không bản,

Không bản chân tế không người tri,

Nếu người vô tri rõ chân tế,

Thanh tịnh vi diệu chẳng lạ kỳ.

Tri cùng vô tri thường tự vậy,

Khổ vui thảy đồng cùng đại bi,

Chúng sanh ba cõi bèn mê việc, 

Nơi kia ghi thật là vô vi.

Cũng lại không pháp vô vi ấy,

Gắng tự sanh tâm quá nhọc đi,

Nhọc nhằn đều không, như vang bóng,

Sanh diệt chẳng dừng chẳng phân ly.

Hay biết tâm này không cách ngại,

Sanh tử hư vọng không thể kìm,

Mà một tâm này đều đầy đủ,

Tám muôn bốn ngàn các luật nghi.

Cũng lại chẳng rơi pháp siêu việt,

Hiểm trở nguy nan mà chẳng nguy

Trong tất cả pháp không có pháp,

Người đời vội chiếm toan làm gì?

Đi đường khó,

Đường khó trong tâm không thể xem,

Thuở xưa bảo rằng Phật xa tít,

Nay biết tham sân là Niết-bàn.

Bài chín 

Rõ không đoạn phiền não 

Anh thấy chăng, 

Văn-thù Diệu Đức đâu xa lắm,

Ba chướng ba độc tức ba không,

Năm phần pháp thân ràng năm ấm, 

Sáu nhập vô tri là lục thông.

Bốn đảo bốn quả đâu từng khác,

Tám tà tám chánh thể lại đồng,

Thất giác Bồ-đề tánh không khác

Bảy thức trôi lăn về chân tông.

Tất cả phiền não đều không tịch,

Các pháp của Phật ở trong tâm,

Hằng cùng pháp nhẫn thường khắn khít,

Chỉ tự so đo chẳng gặp cùng.

Chỗ nào chư Phật Như Lai ở,

Đều tại trong ái dục tham dâm, (4)

Nay khuyên đoạn tham dâm ái dục,

Chỉ là phương tiện độ trẻ con.

Bản tướng tham dục thật thanh tịnh,

Tạm nói danh suông, danh cũng không.

Đi đường khó, 

Đường khó trong tâm chẳng phải tâm,

Nhắn nhủ bậc chân tu vô niệm,

Dè dặt phân biệt hủy tham dâm.

Bài mười 

Rõ tịch diệt vô tâm thường hành tinh tấn 

Anh thấy chăng, 

Trong tánh tịch diệt không có diệt,

Trong giác chân thật không giác tri,

Lại cũng không không tri giác,

Lìa khuôn thước, lặng lẽ thanh hư.

Pháp tánh sẵn vậy không nhân đến, 

Nhớ tưởng điên đảo tánh vô vi,

Dù khiến trôi lăn khắp ba cõi,

Ở trong tâm kia thật chẳng dời.

Không đến không đi cũng không ở,

Khéo đặt không trụ cũng không khuy (thiếu),

Chư Phật thế hùng chẳng tôn trọng,

Tam độc tứ đảo cũng chẳng khi.

Lại tìm duyên tâm không chỗ được,

Không duyên trong tâm, duyên lại đầy,

Nếu muốn chóng cầu đạo vô thượng,

Sẵn trong tánh ba độc vô tri.

Ba độc sanh nơi ba giải thoát,

Thất thức lại sanh thất giác chi,

Tâm đảo đến đi không có thật,

Không chậm không mau khi đến đi.

Giác các phiền não xem cảnh trước,

Chỉ tự răn tâm dẹp tức thì,

Tâm vốn không, rễ nào có gốc,

Sáu trần năm dục không thể rời.

Đi đường khó,

Đường khó vi điệu thật lạ kỳ, 

Ngày xưa siêng năng gắng tinh tấn, 

Chẳng biết tinh tấn trái vô vị.

Bài mười một 

Rõ pháp thân được dụng tự tại 

Anh thấy chăng, 

Đại tự xem pháp trong thân,

Thân là Như Lai tịnh pháp thân,

Qua lại hư không thật nhanh chóng,

Riêng thoát tự tại chẳng do nhân (người).

Ra vào lỗ chân lông không ngại,

Khi ái thủ trần chẳng nhiễm trần,

Chỗ thấy phàm tình đồng chư thánh,

Lìa đây cầu đạo lại chẳng chân.

Dựng lập các pháp mà không pháp,

Tức là chân như vô thượng chân,

Ức kiếp sẵn có mà không cũ,

Hôm nay thấy giác chẳng thanh tân.

Thành tựu đại ngã mà vô ngã, 

Đầy đủ đại nhân ( 大人) không có nhân ( 人)

Thánh thể vô minh không thể nói,

Lại vì phương tiện gọi tâm thần.

Chính tâm này là chân thường pháp,

Cũng là thượng trân của Niết-bàn,

Mong các học nhân đồng nhận rõ,

Cửa nhà tự giữ tự cấm ngăn.

Đi đường khó,

Đường khó tên khác lý không phân,

Nếu hay hiểu thấu không sanh tử,

Liền được tiêu trừ mây tử sanh.

Bài mười hai 

Rõ Kim Cang giải thoát 

Anh thấy chăng, 

Ngữ cú Kim Cang chẳng chân thật,

Một Không đồng vạn tượng sum la,

Mà cái Không này là mẹ Phật,

Lại là châu vô thượng chân như.

Người đời chẳng biết cầu báu ấy,

Lang thang sáu nẻo nghèo xác xơ,

Chẳng thờ trong thân pháp thân Phật,

Mãi mãi nhằm ngoài đi lễ chùa.

Chợt nhìn dường thể người tinh tấn,

Xét kỹ trong thân đều hạnh thôn

Dùng cái tâm thô trình ngôn ngữ,

Chẳng rõ chân nguyên do đó ngu.

Theo tình nghĩ tưởng mà phân biệt,

Năm ấm sáu tặc đua trả thù,

Chẳng chịu tìm cầu đạo vô thượng,

Chỉ có dối lừa giữ danh suông.

Miệng tuy nói thiện lại sanh ác,

Nói suông chân thật trở thành hư, 

Nay tôi ngược dối nhìn chân thật,

Cũng chẳng chứng thật vào vô đư.

Đi đường khó,

Đường khó cả đời đều hư vọng,

Mười triền năm ấm tánh vô tri,

Người ngu ở trong tự sanh chướng.

Bài mười ba 

Rõ tịch tĩnh không chiếu không đắc 

Anh thấy chăng, 

Các pháp chỉ mượn Không bày lập,

Lặng lẽ Vô môn làm pháp môn,

Ở trong các pháp tâm là chủ,

Nay tôi lại chẳng được nguồn tâm.

Kiểm điểm nguồn tâm đã chẳng được,

Đâu biết các pháp gốc đều không,

Dùng tâm không gốc này chiếu cảnh,

Chiếu đó phân minh càng tối hơn.

Chính tâm tối này lại tự chiếu,

Chính lý chiếu ấy chưa từng còn,

Chiếu cùng với cảnh đều sai khác,

Thế nên người trí không thể bàn.

Người đời điên cuồng gắng phân biệt,

Trong không soi chiếu loạn tinh hồn,

Nếu hay trí chiếu quên chẳng chiếu, 

Phân biệt trí chiếu lại ruổi rong.

Các pháp sẵn vậy ai tạo tác,

Tịch tĩnh không tĩnh cũng không ồn,

Nên biết chúng sanh điên đảo tưởng,

Lại là chúng sanh Vô thượng tôn.

Đi đường khó,

Đường khó bỏ ngu mà lại ngu,

Cầm thú các loài ta khéo phục,

Chỉ có tâm giặc riêng khó trừ.

Bài mười bốn 

Rõ tam không vô tánh 

Anh thấy chăng,

Chư Phật thánh nhân tâm không ngại,

Vì giáo hóa chúng nói ba không,

Tuy nói ba không thật chẳng nói,

Tâm đối vạn cảnh mặc tình nương.

Dù cho điên đảo tạo ngũ nghịch,

Tùy tình tạo tác cũng về như,

Chân chất lắng thần niệm vô niệm,

Chẳng cần phân biệt thảy đều trừ.

Vì thế an tâm chẳng lựa chỗ,

Rõ biết chân tục thể không hai,

Dứt nghĩ tâm không chẳng bỏ việc,

Danh lý ngôn hạnh không trợ nhau.

Chẳng nương sáu trần tâm dao động,

Theo như, vô tác thuận không hư,

Không đi không đến thường chẳng trụ,

Tâm thần dứt sạch mà chẳng không.

Chẳng hoại thân này theo nhất tướng,

Chẳng đoạn tham dâm mà chẳng tùy,

Nếu bảo không khác thì tự trói,

Nói là thể khác càng tổn thương.

Ví như mộng huyễn không chân thật,

Xưa nay chẳng có làm sao trừ?

Đi đường khó,

Đường khó chóng vậy khôn sửa trị,

Phàm phu vọng thấy có sai thù,

Chân thật lắng tâm không bị thử. 

Bài mười lăm 

Rõ có không chẳng trái 

Anh thấy chăng,

Tà kiến phi biên chẳng lìa biên,

Điên đảo phân biệt cũng phi duyên,

Tự tâm phi tâm, niệm phi niệm,

Thường đến thường đi vẫn y nguyên.

Ví như Kim Cang khó phá hoại,

Chư Phật dùng đây làm Kim Cang,

Người đời khen ngợi Niết-bàn điệu,

Tôi nói sanh tử rất thâm huyền.

Tức là vô sanh sức thượng nhẫn,

Lại là ma-ha vô ngại thiền,

Chánh sĩ dùng tâm quán nơi đó,

Chẳng bị tám gió cuốn ngả nghiêng.

Nhạc trời cực vui tâm chẳng luyến,

Tài sắc đáng gì đâu thể ràng,

Dù gặp khổ vui tâm chẳng đổi,

Xa hẳn ức tưởng quên ưu phiền.

Tâm rỗng không nhân không ngã sở,

Mặc tánh chìm nổi dường như điên,

Soi rõ thường pháp biết không định,

Biết pháp không tánh gọi là hiền.

Đi đường khó,

Đường khó chẳng không lại chẳng có,

Có không đều dẹp vẫn còn hai,

Vẫn còn không dẹp cũng không thọ.

Bài mười sáu 

Rõ ma oán 

Anh thấy chăng,

Đại đạo vắng lặng khó suy tầm, 

Thâm sâu muôn tượng thủy dung thông, 

Tất cả điềm nhiên không khởi diệt,

Điên đảo phân biệt đều từ tâm.

Người trí cầu tâm không nơi chốn,

Lơ là sắc tướng lìa tham dâm,

Rành rẽ phân minh đâu chỗ thấy,

Như mắt bệnh thấy kim trong không.

Nếu người biết thấu tưởng điên đảo,

Chẳng bị khổ vọng làm đắm chìm,

Các pháp thế gian dường sóng nắng,

Hành giả dè dặt chớ oán hiềm.

Thường lấy không tâm mà phản chiếu, 

Phật đạo vô thượng cũng đảm đang.

Đi đường khó,

Đường khó vi diệu thật vô song,

Nếu biết sáu tình không chẳng có,

Chúng ma oán tặc tự nhiên hàng.

Bài mười bảy 

Rõ pháp tánh dụng bình đẳng 

Anh thấy chăng, 

Pháp tánh vô vi không thể nói,

Hữu lậu vô lậu đều suốt thông,

Tuy tạo chư địa có sai biệt,

Tìm cùng bản tế thảy đều đồng.

Cũng không pháp đồng khả đồng ấy,

Cũng chẳng lấy không giữ làm không,

Nếu cần biết đạo thù diệu đó,

Chỉ ngay năm ấm tìm tột cùng.

Như thật không đi cũng không đến,

Cũng chẳng ở tại trong sáu tình,

Tức chân pháp giới không nguồn gốc,

Lặng lẽ thường còn chẳng thủy chung.

Đi đường khó,

Đường khó khổ vui đâu đã hết,

Khi đến Tây phương vô lượng thọ,

Hoặc là thác hóa hiện Đông phương.

Bài mười tám 

Rõ Phật Mẫu bất tư nghì 

Anh thấy chăng,

Ái dục tham dâm mẹ chư Phật,

Chư Phật Thế Tôn con dục tham,(5)

Từ xưa Bồ-đề là thầy mỗ,

Ngày nay vì chúng, mỗ làm thầy.

Thuở trước đa đoan ngoài cầu Phật,

Phật trong áo nay mới hay, 

Vô lượng tâm si vốn là đạo,

Ba độc bốn đảo chẳng nghĩ nghì

Hư dối hành từ thương chúng khổ, 

Chẳng biết các khổ là từ bi,

Sân hận vô minh rất vi diệu,

Là chỗ người trí không thể suy.

Ngày trước chuyên cần học tri kiến,

Chẳng biết tri kiến tự vô tri,

Bốn cõi ba đường đều chẳng có,

Ba chướng ba thoát chẳng phân ly.

Đi đường khó,

Đường khó có không đều dẹp hết,

Rõ biết phiền não tưởng vô sanh,

Tức là Như Lai tọa đạo tràng.

Bài mười chín 

Rõ không giác tinh tấn 

Anh thấy chăng,

Các Phật tử chánh tâm,

Vì thấy phi tâm nên chẳng lo 

Biết tâm phi tâm, ý phi ý,

Tám gió bức não nào ưu sầu.

Theo gió đông tây không ngã sở,

Riêng thoát thong dong chẳng kẹt thuyền, 

Dù là khi trụ trọn chẳng trụ,

Dạo khắp mười phương mà chẳng trôi.

Khi chẳng thấy ngã nơi vô ngã,

Lành thay, theo tánh mặc phù trầm!

Thế gian vọng tưởng không chân thật,

Ta ở trong ấy có gì cầu?

Chỉ dụng phi tâm giác phi giác,

Cũng lại chánh tu nơi chẳng tu,

Nếu người chẳng biết chỗ như thế,

Chẳng nên xưng danh là Tỳ-kheo.

Vì cái tâm si làm nô bộc,

Ái kết cột ràng chẳng tự do,

Mà đây lại thêm các khổ não,

Vĩnh kiếp hằng ngồi tam giới tù.

Sanh tử nối liền càng quá lắm,

Trọn không cắt đứt được nghỉ ngơi.

Đi đường khó, 

Đường khó không khiến qua các niệm,

Niệm mà vô niệm mới là chân,

Chân niệm không chân tự sáng ngời.

Bài hai mươi 

Rõ thiện vi diệu 

Anh thấy chăng,

Vô thượng Bồ-đề thật là gần,

Bốn đại năm ấm đều thâm áo,

Thật là thanh tịnh diệu khó lường,

Chẳng ngộ tâm này đáng chết gấp. 

Trong tánh hòa hợp nào thật đâu,

Thế nên gọi là các pháp yếu, 

Trong ấy không vọng cũng không chân, 

Chỉ dùng vô vi làm vi diệu.

Tìm thể tịch ấy nên im thôi,

Tạm vì chúng sanh lập danh hiệu,

Nếu biết danh hiệu tức phi danh,

Hiểu rõ chúng sanh, biết Phật dạy.

Giác biết không nhân là chánh nhân,

Sẽ được không nhân không quả báo,

Khéo đạt tham ái được vô sanh,

Vô minh đến đi không động nhiễu.

Chẳng thấy thánh quả khác phàm tình,

Phân biệt thánh phàm lại điên đảo,

Nếu người không nguyện cũng không tu,

Quyết định vì người làm dẫn đạo.

Đi đường khó,

Đường khó chẳng uế cũng chẳng tịnh,

Phải quấy dứt sạch lại hằng còn.

(Thiện Huệ Đại Sĩ Lục – quyển 3)

*

Mười lăm bài đi đường dễ 

Bài một 

Phật Không đều một thể,

Không Phật xưa nay đồng,

Chạm mắt đều như thế,

Vô tâm trong tánh mình.

Đi đường dễ,

Đường dễ chẳng tu hành,

Tâm có không dứt bặt,

Chỉ thế là vô sanh.

Bài hai 

Chúng sanh là tổ Phật,

Phật là ông chúng sanh,

Tam bảo không lìa cách,

Bồ-đề đều chung đồng.

Đi đường dễ,

Đường dễ thật vô tác,

Trì kinh chẳng động môi,

Tọa thiền trọn ngày chơi.

Bài ba 

Vô sanh không nơi chốn,

Không chốn là vô sanh,

Vô sanh nếu tìm chỗ,

Vô sanh không chỗ sanh.

Đi đường dễ, 

Đường dễ bằng thênh thang, 

Vô tâm thật giải thoát,

Tự tánh mặc tung hoành.

Bài bốn 

Bồ-đề không xứ sở, 

Không xử là Bồ-đề,

Nếu tìm Bồđề xứ,

Trọn đời mãn kiếp mê.

Đi đường dễ,

Đường dễ thật chẳng hư, 

Thiện ác không phân biệt,

Đây tức là chân như. 

Bài năm 

Có không đều giải thoát,

Hằng nghỉ tại vô sanh, 

Bồ-đề là điên đảo, 

Sanh tử rất tinh vi.

Đi đường dễ, 

Đường dễ người chớ nghi,

Hiểu lời tôi nói thế,

Tu hành chẳng cần thầy.

Bài sáu 

Núi đông nổi trên nước,

Núi tây chẳng dừng bước,

Dưới Bắc đẩu Diêm phù,

Là chỗ chân giải thoát.

Đi đường dễ,

Đường dễ người chẳng biết,

Nửa đêm trời giữa trưa,

Chẳng ngộ thật quá mệt.

Bài bảy 

Gió mạnh cây chẳng lay,

Đánh trống tiếng không trổi,

Trời nắng không bóng cây, 

Mặt nước trâu bước tới.

Đi đường dễ,

Đường dễ đáng tiếc nuối,

Người tu hiểu ý này,

Nằm thẳng hai chân duỗi.

Bài tám 

Phật, Tâm và chúng sanh,

Là ba trọn chẳng dời,

Hư không hợp chân lý, 

Nhân ngã tại vô vi.

Đi đường dễ,

Đường dễ thật khôn lường,

Nhắn lời cùng hành khách,

Phải gắng sức thêm hơn. 

Bài chín 

Người nói đi đường khó,

Tôi bảo đường dễ đi,

Mười hai năm vào núi, 

Nằm duỗi chân ngủ khì.

Đi đường dễ,

Đường dễ chớ nghĩ suy,

Sátna tâm bất nhị,

Cực lạc vui trọn ngày.

Bài mười 

Tu-di cha hạt cải, 

Hạt cải bố Tu-di,

Núi biển đất bằng phẳng,

Đốt băng để nấu trà.

Đi đường dễ, 

Đường dễ thật mờ mịt, 

Tâm Bồ-đề ở trong, 

Người đời trọn chẳng biết.

Bài mười một 

Có không qua lại tâm hằng dứt,

Trong ngoài khoảng giữa tâm thảy không,

Muốn tìm chỗ Như Lai chân Phật,

Chỉ xem trâu đá sanh voi con.

Đi đường dễ,

Đường dễ sớm cho kịp,

Chẳng cần học thật nhiều,

Không lời mới là đạo.

Bài mười hai 

Không dùng nên không làm,

Không làm nên không tâm,

Chỗ không tâm không thấy,

Đáy nước hoa dương chìm.

Đi đường dễ, 

Đường dễ thật không được,

Ngàn thứ luận giảng bàn,

Chẳng bằng yên một chút.

Bài mười ba 

Vô tình chính là đạo,

Cây đá thảy chân như,

Khi đạt khắp cảnh phải,

Chẳng ngộ hằng trái xa.

Đi đường dễ,

Đường dễ thật vui thay! 

Sátna lên chánh giác,

Ba giáo chẳng cần bày.

Bài mười bốn 

Vô sự thật vô sự, 

Vô sự ít người hay,

Vô vi không nơi chốn, 

Không chốn là vô vị.

Đi đường dễ,

Đường dễ người chớ sợ,

Không có việc vô vi, 

Tên vô vi tạm có.

Bài mười lăm 

Không ngã không nhân thật xuất gia,

Đâu cần cạo tóc nhuộm cà-sa, 

Muốn biết tiêu dao chân giải thoát,

Chỉ xem ngà voi trâu sanh ra.

Đi đường dễ,

Đường dễ anh lắng nghe,

Không Bồđề không giác,

Không sạch cũng không nhơ.

(Thiện Huệ Đại Sĩ Lục – quyển 3)

*

Thiền sư Hưng Giáo Hồng Thọ 

Một hôm trong hội quốc sư Đức Thiều, Sư bửa củi, củi rơi xuống liền ngộ, làm kệ:

Phốc lạc phi tha vật,

Tung hoành bất thị trấn, 

Sơn hà cập đại địa 

Toàn lộ Pháp vương thân.

Dịch:

Bửa tét không vật khác,

Dọc ngang chẳng phải trần,

Núi sông và quả đất 

Toàn bày Pháp vương thân.

(Ngũ Đăng Hội Nguyên – quyển 10)

*

Thiền sư Dương Kỳ Phương Hội 

Sau một đêm mưa tuyết ướt cả am tranh, nói kệ:

Dương Kỳ tạc trú ốc bích sơ,

Mãn sàng tận tản tuyết trân châu,

Xúc khước hạng, ám ta hô 

Phiên ức cổ nhân thọ hạ cư. 

Dịch:

Dương Kỳ đêm qua nhà vách thưa,

Đầy giường tung vãi tuyết như mưa, 

Lạnh rút cổ, miệng hít hà, 

Nhớ lại cổ nhân dưới cội xưa.

(Thiền Tông Tạp Độc Hải – quyển 2)

*

Thượng đường 

Bạc phước trụ Dương Kỳ, 

Niên lai khí lực suy,

Hàn phong điêu bại điệp,

Du hỷ cố nhân quy.

La la lý, 

Niêm thượng tử sài đầu,

Thả hướng vô yên hỏa.

Dịch:

Phước mỏng trụ Dương Kỳ, 

Năm đến sức lực suy,

Gió lạnh cây trụi lá,

Vẫn mong cố nhân về.

La la lý,

Đưa lên khúc củi khô, 

Rốt cuộc không lửa khói.

(Dương Kỳ Phương Hội Hòa Thượng Ngữ Lục)

*

Thiền sư Chân Tịnh Khắc Văn 

Nhân trưởng lão Tiêu Dao đến thăm, Sư thượng đường:

Thanh sơn thâm xử nhân, 

Lai ngã hồng trần lý,

Hồng trần ngẫu bất kiến, 

Bạch vân dữ lưu thủy.

Nhĩ mục hà sở phân,

Phù danh dữ phù lợi,

Vi thị hồng trần phi,

Vi phục thanh sơn thị.

Thị phi lưỡng đồ gian,

Kỷ đa thù vị đĩ,

Hạnh ngộ tiêu dao nhân, 

Khả khả thuật đao lý.

Dịch:

Người ở trong núi xanh,

Đến chỗ ta hồng trần,

Hồng trần bỗng chẳng thấy,

Mây trắng, nước trôi nhanh.

Mắt tai nào phân biệt,

Bọt lợi cùng bèo danh,

Quấy là hồng trần vậy,

Phải lại là núi xanh.

Ở hai đầu phải quấy,

Bao sai khác chưa dừng,

Người tiêu dao may gặp,

Nên nói lý thanh nhàn.

(Liệt Tổ Đề Cương Lục – quyển 18)

*

hiền sư Tuyệt Chiếu Huy 

Công phu vị đảo phương viên địa,

Kỷ độ bằng lan độc tự sầu, 

Kim nhật thị tam minh nhật tử,

Tuyết sương dung dị thướng nhân đầu.

Dich:

Chỗ vuông tròn chưa đủ công phu,

Hằng tựa lan can luống tự sầu,

Hôm nay mùng ba mai mùng bốn, 

Tuyết sương đã vội phủ trên đầu.

(Sơn Am Tạp Lục – quyển hạ)

*

Cư sĩ Tô Đông Pha 

Tô Đông Pha đến Đông Lâm, luận về vô tình thuyết pháp bỗng ngộ, nói tụng:

Khê thanh tận thị quảng trường thiệt,

Sơn sắc vô phi thanh tịnh thân,

Dạ lai bát vạn tử thiên kệ, 

Tha nhật như hà cử tự nhân? 

Dịch:

Tiếng suối trọn là lưỡi rộng dài,

Dáng núi chính thân thanh tịnh đây,

Đêm nghe tám muôn bốn ngàn kệ,

Ngày khác làm sao kể với ai? 

(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 33)

*

Thiền sư Tiểu Nham Đức Bảo 

Bản lai chân phụ mẫu 

Lịch kiếp bất tằng ly,

Khởi tọa thừa tha lực,

Hàn ôn diệc cộng tri.

Tương phùng bất tương kiến, 

Tương kiến bất tương thức,

Vị vấn kim hà tại,

Phân minh trình tự Sư. 

Dịch:

Cha mẹ thật xưa nay,

Muôn kiếp chẳng rời tay,

Đứng ngồi nương sức đó,

Ấm lạnh cùng biết ngay.

Gặp nhau mà chẳng thấy,

Thấy nhau nào có hay,

Hỏi nay đâu chỗ ở?

Rõ ràng, trình với Thầy.

(Tục Chỉ Nguyệt Lục – quyển 16)

*

Phó chúc Quảng Thông thị giả kệ 

Nhất niệm bất sanh chư số diệt,

Vạn cơ hưu bãi thập phương không,

Giới không số diệt âu trừng hải,

Chư Phật chúng sanh ảnh hiện trung.

Dịch:

Kệ phó chúc cho thiền sư Quảng Thông 

Một niệm chẳng sanh các pháp diệt,

Muôn điều buông hết mười phương không,

Phương không pháp diệt biển lặng sóng,

Chư Phật chúng sanh bóng hiện trong.

(Tục Chỉ Nguyệt Lục – quyển 17)

*

Thiền sư Huyễn Hưu Thường Nhuận 

Sư đến tham vấn thiền sư Tông Cảnh. Tông Cảnh hỏi:

– “Ta nay chẳng phải y”, đã chẳng phải y, cứu cánh là người nào?

Sư trình kệ:

Nhược yếu thức thử nhân,

Hữu cá chân tiêu tức.

Vô tướng mãn hư không,

Hữu hình một tung tích.

Tằng vi Phật tổ sư, 

Vĩnh tác càn khôn tắc.

Quy mao phất tử thanh phong sanh,

Thố giác trượng đầu minh nguyệt xuất.

Dịch:

Nếu muốn biết người này,

Có cái tin tức thật.

Không tướng đầy hư không,

Có hình không dấu vết.

Là khuôn phép càn khôn,

Từng làm thầy Tổ Phật.

Phất tử lông rùa gió mát sanh,

Đầu gậy sừng thỏ trăng vằng vặc.

(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 70)

*

Thiền sư Hối Đài Nguyên Cảnh 

Thức phá bất trị bán văn tiền,

Khả lân mô sách kỷ đa niên,

Tông lưu tận thị khi tâm hán,

Thuyết thậm Tổ sư biệt hữu thiền.

Dịch:

Biết ra chẳng đáng nửa đồng tiền,

Thương thay tìm kiếm đã bao năm, 

Tông thừa toàn kẻ tâm lừa dối,

Nói gì Tổ sư riêng có thiền.(6)

(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 71)

*

Thượng tọa Tiểu Tĩnh 

Huyễn nghĩa kệ đáp 

Huyễn nhân hưng huyễn, huyễn luân vi,

Huyễn nghiệp năng chiêu huyễn sở trì,

Bất liễu huyễn sanh chư huyễn khổ,

Giác tri như huyễn, huyễn vô vị.

Dịch:

Kệ đáp nghĩa huyễn 

Người huyễn dấy huyễn, huyễn xoay vần,

Nghiệp huyễn hay vời quả lụy thân,

Mê lý huyễn sanh nhiều huyễn khổ,

Ngộ ra như huyễn, huyễn thành chân.

(Cảnh Đức Truyền Đăng Lục – quyển 21)

*

Thiền sư Hương Nghiêm Trí Nhàn 

Tam chiếu ngữ tụng 

Bản lai chiếu 

Nghĩ tâm khai khẩu cách sơn hà, 

Tịch mặc vô ngôn đã bị ha,

Thư triển vô cùng hựu vô tận, 

Quyển lai tuyệt tích dĩ thành đa.

Tịch chiếu 

Bất động như sơn vạn sự hưu, 

Trừng đàm triệt để vị tằng lưu, 

Cá trung chánh niệm thường tương tục,

Nguyệt kiểu thiên tâm vân vụ thâu.

Thường chiếu 

Tứ oai nghi nội bất tằng khuy,

Kim cổ sơ vô gián đoạn thì,

Địa ngục thiên đường vô biến dị,

Xuân hồi dương liễu lục như ty.

Dịch:

Tụng Tam chiếu 

Chiếu xưa nay 

Nghĩ vừa mở miệng cách sơn hà,

Nín lặng không lời cũng bị la,

Tung ra thôi thì vô cùng tận,

Thâu về tuyệt dấu cũng hà sa.

Chiếu vắng lặng 

Bất động như non muôn việc thôi,

Đầm lặng nước yên chưa từng trôi,

Trong đây chánh niệm thường tiếp nối,

Mây mù tan, trăng tỏ giữa trời.

Chiếu mãi 

Trong bốn oai nghi vẫn đủ đầy, 

Không hề gián đoạn tự xưa nay,

Thiên đường địa ngục không đổi khác,

Xuân về dương liễu biếc như tơ.

(Ngũ Gia Tông Chỉ Toản Yếu – quyển hạ)

*

Thiền sư Bạch Vân Thủ Đoan 

Nhân dẫn câu chuyện an tâm của tổ Bồ-đề-đạt-ma dạy tổ Huệ Khả, Sư làm tụng:

Chung thủy mịch tâm vô khả đắc,

Liêu liêu bất kiến Thiếu Lâm nhân,

Mãn đình cựu tuyết trùng tri lãnh,

Tỹ khổng y nhiên đáp thượng thần.

Dịch:

Sau trước tìm tâm không thể được,

Vắng tanh nào thấy người Thiếu Lâm,

Đầy sân tuyết cũ càng thêm lạnh, 

Lỗ mũi như xưa trên môi nằm.

(Bạch Vân Thủ Đoan Thiền Sư Ngữ Lục – quyển hạ)

*

Hòa thượng Phục Lễ 

Hòa thượng Phục Lễ đời Đường có làm bài kệ Chân Vọng hỏi chư cao đức:

Chân pháp tách bản tịnh 

Vọng niệm hà do khởi?

Tùng chân hữu vọng sanh 

Thử vọng hà sở chỉ? 

Vô sơ tức vô mạt 

Hữu chung ưng hữu thủy 

Vô thủy nhi vô chung 

Trường hoài mộng tư lý 

Nguyện vị khai huyền diệu 

Tích chi xuất sanh tử.

Dịch:

Chân pháp tánh vốn tịnh

Vọng niệm do đâu khởi?

Từ chân có vọng sanh 

Vọng này chỗ nào nghỉ?

Không gốc ắt không ngọn 

Có chung nên có thủy 

Không thủy mà không chung 

Hằng mờ mịt chân lý 

Mong vì mở huyền diệu 

Vạch ra thoát sanh tử.

Quốc sư Thanh Lương đáp: 

Mê chân vọng niệm sanh 

Ngộ chân vọng tức chỉ 

Năng mê phi sở mê 

An đắc trường tương tự 

Tùng lai vị tằng ngộ 

Cố thuyết vọng vô thủy

Tri vọng bản tự chân 

Phương thị hằng diệu lý

Phân biệt tâm vị vong 

Hà do xuất sanh tử?

Dịch:

Mê chân vọng niệm sanh

Ngộ chân vọng liền dứt

Mê chẳng phải bị mê 

Đâu dài lâu tương tự 

Xưa nay chưa từng ngộ 

Nên nói vọng vô thủy 

Biết vọng vốn tự chân 

Mới là hằng diệu lý 

Tâm phân biệt chưa quên 

Làm sao khỏi sanh tử?

Thiền sư Khuê Phong đáp: 

Bản tịnh bản bất giác

Do tư vọng niệm khởi

Tri chân vọng tức không 

Tri không vọng tức chỉ.

Chỉ xứ danh hữu chung

Mê thời hiệu vô thủy 

Nhân duyên như huyễn mộng 

Hà chung phục hà thủy? 

Thử thị chúng sanh nguyên, 

Cùng chi xuất sanh tử. 

Dịch:

Vốn tịnh mà chẳng giác,

Do đây vọng niệm khởi,

Biết chân, vọng liền không, 

Biết không, vọng chợt dứt.

Chỗ dứt gọi hữu chung,

Khi mê tên vô thủy, 

Nhân duyên như huyễn mộng,

Nào chung lại nào thủy? 

Đây là nguồn chúng sanh,

Tột đó ra sanh tử.

Khuê Phong lại làm bài kệ: 

Bất thị chân sanh vọng 

Vọng mê chân nhi khởi

Ngộ vọng bản tự chân 

Tri chân vọng tức chỉ.

Vọng chỉ tự chung mạt

Ngộ lai tự sơ thủy 

Mê ngộ tánh giai không 

Giai không vô chung thủy 

Sanh tử do thử mê 

Đạt thử xuất sanh tử. 

Dịch:

Chẳng phải chân sanh vọng,

Mê chân nên vọng khởi,

Ngộ vọng vốn tự chân,

Biết chân vọng liền dứt.

Vọng dứt dường rốt sau,

Ngộ ra tợ trước nhất

Tánh mê ngộ đều không

Đều không chẳng sau trước 

Sanh tử do mê này 

Thấu đây thoát sanh tử.

Thiền sư Đức Hồng tự Giác Phạm đáp: 

Chân pháp bản vô tánh 

Tùy duyên nhiễm tịnh khởi 

Bất liễu hiệu vô minh 

Liễu chi tức Phật trí.

Vô minh toàn vọng tình

Tri giác toàn chân lý

Đương niệm tuyệt cổ kim

Để xứ tầm chung thủy.

Bản tự ly ngôn thuyên

Phân biệt tức sanh tử.

Dịch:

Chân pháp tánh vốn không,

Tùy duyên nhiễm tịnh dấy,

Chẳng gọi vô minh,

Rõ đó tức Phật trí.

Vô minh toàn vọng tình,

Giác tri toàn chân lý,

Đương niệm bặt cổ kim,

Chỗ nào tìm chung thủy.

Vốn tự lìa nói năng,

Phân biệt liền sanh tử.

(Thạch Môn Hồng Giác Phạm Lâm Gian Lục)

*

Thiền sư Biện -Thê Hiền 

Thiền sư Biện ở Thê Hiền đi đến Đông Lâm gặp sư Hồn Dung chê là ăn mặc lang thang. Sư làm kệ đáp:

Vật vị Thê Hiền cùng,

Thân cùng đạo bất cùng,

Thảo hài mãnh tự hổ,

Trụ trượng hoạt như long.

Khát ẩm Tào Khê thủy,

Cơ thôn lật cức bồng,

Đồng đầu thiết ngạch hán 

Tận tại ngã sơn trung.

Dịch:

Chớ bảo Thê Hiền nghèo, 

Thân nghèo đạo chẳng nghèo,

Giày cỏ như cọp mạnh,

Gậy trúc tợ rồng bay.

Nước Tào Khê khát uống,

Đói ăn hạt cỏ gai,

Kẻ đầu đồng trán sắt 

Thảy ở trong núi này.

(Thiền Lâm Bảo Huấn – quyển 3)

*


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.