Mã Tổ sai thiền sư Phục Ngưu mang thư sang Quốc sư Huệ Trung. Quốc sư hỏi:
– Gần đây Mã Tổ dạy đồ chúng thế nào?
Phục Ngưu đáp:
– Tức tâm tức Phật.
– Là lời nói gì?
Giây lâu lại hỏi:
– Ngoài cái đó lại có gì dạy chúng?
– Chẳng phải tâm chẳng phải Phật, hoặc nói chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật.
– Cũng tạm được.
– Mã đại sư thế ấy, chẳng biết dạo này Hòa thượng dạy chúng thế nào?
Tam điểm như lưu thủy
Khúc tự ngải hòa liêm.
Dịch:
Ba điểm như nước chảy
Khúc cong tợ lưỡi liềm.
(Ngũ Đăng Hội Nguyên – quyển 3)
Nam Tuyền đi ngang phòng tắm, thấy Trưởng phòng đang nấu nước, hỏi:
– Làm gì?
Trưởng phòng thưa:
– Nấu nước.
– Nhớ kêu con trâu đực đi tắm nghe!
– Dạ!
Đến chiều Trưởng phòng vào phương trượng, Nam Tuyền hỏi:
– Làm gì?
Trưởng phòng thưa:
– Mời con trâu đực đi tắm.
Nam Tuyền hỏi:
– Có đem dây mũi theo không?
Trưởng phòng không đáp được.
Kịp Triệu Châu đến phương trượng thăm hỏi. Nam Tuyền thuật lại Triệu Châu nghe. Triệu Châu thưa:
– Con có câu đáp.
Nam Tuyền hỏi:
– Có đem dây mũi theo không?
Triệu Châu lại gần Nam Tuyền, nắm lỗ mũi kéo.
Nam Tuyền bảo:
– Phải thì phải, song rất thô.
(Cổ Tôn Túc Ngữ Lục – quyển 13)
*
Có vị tăng hiệu Sư Tổ đến hỏi Nam Tuyền:
– Ma-ni châu nhân bất thức, Như Lai tàng lý thân thâu đắc (Châu ma-ni người không biết, trong Như Lai tàng tự nhận được). Thế nào là tàng?
Nam Tuyền bảo:
– Vương lão sư cùng ông qua lại, ấy là tàng.
Sư hỏi:
– Nếu như không qua lại thì thế nào?
Nam Tuyền bảo:
– Cũng là tàng.
Sư hỏi:
– Thế nào là châu?
Nam Tuyền gọi: -Sư Tổ!
Sư: -Dạ!
Nam Tuyền bảo:
– Đi! Ngươi không hiểu ý ta.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 20)
*
Quy Sơn dạy chúng:
– Bậc cao sĩ đi hành cước, cần phải trong thanh sắc mà ngủ nghỉ, trong thanh sắc mà nằm ngồi mới được.
Sơ Sơn bước ra hỏi:
– Thế nào là câu chẳng rơi trong thanh sắc?
Quy Sơn dựng cây phất tử lên. Sơ Sơn thưa:
– Đây là câu rơi trong thanh sắc.
Quy Sơn trở về phương trượng.
Sơ Sơn đến từ giã Hương Nghiêm đi nơi khác. Hương Nghiêm hỏi:
– Sao chẳng ở đây?
Sơ Sơn đáp:
– Tôi không có duyên với Hòa thượng.
Hương Nghiêm hỏi lý do. Sơ Sơn kể lại lời trước. Hương Nghiêm bảo:
– Tôi có một câu.
Sơ Sơn bảo:
– Nói ra xem.
Hương Nghiêm nói:
– Nói ra chẳng phải tiếng, sắc trước mặt chẳng phải vật
Sơ Sơn nói:
– Hóa ra ở đây có người.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 39)
*
Quy Sơn ngồi tại pháp đường, Tri khố đánh bảng. Trưởng trù ném củi vào lò, vỗ tay cười to. Quy Sơn bảo:
– Trong chúng cũng có người thế ấy.
Bèn gọi lại hỏi:
– Ông làm gì?
Trưởng trù thưa:
– Con khi sáng không ăn cháo, bụng đói, nghe bảng mừng quýnh.
Quy Sơn gật đầu.
(Quy Sơn Linh Hựu Thiền Sư Ngữ Lục)
*
Tăng hỏi Triệu Châu:
– Chỉ đạo vô nan, duy hiềm giản trạch. Thế nào được chẳng giản trạch?
– Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn.
– Đây vẫn là giản trạch.
– Kẻ quê mùa! Giản trạch chỗ nào?
(Thiền Lâm Loại Tụ – quyển 5)
*
Tăng hỏi Đức Sơn:
– Thế nào là việc kỳ đặc trong Tông môn?
Đức Sơn đáp:
– Tông ta không ngữ cú, không một pháp cho người.
(Cổ Tôn Túc Ngữ Lục – quyển 29)
*
Tăng hỏi Tuyết Phong:
– Hòa thượng gặp Đức Sơn được cái gì liền trở về?
Tuyết Phong đáp:
– Ta khi ấy đi tay không về tay không.
(Cổ Tôn Túc Ngữ Lục – quyển 29)
*
Thiền sư Mông Khê hỏi tăng:
– Thượng tọa ở đâu đến?
Tăng thưa:
– Từ Định Châu đến.
– Định Châu gần đây có việc gì kỳ đặc?
– Con khi sáng đi qua đó chỉ nghe nói muối mắc, gạo rẻ, trọn không có việc gì kỳ đặc.
– Ta ở đây cũng thế thôi, chỉ là cháo thô cơm lạt cùng thiền tăng tùy phần qua thời, cũng không có việc kỳ đặc. Ông lại tới đây tìm cái gì?
Tăng thưa:
– Con chẳng hội.
– May là ông không hội, nếu ông hội liền bị thâu hết nửa đạo lý.
(Chỉ Nguyệt Lục – quyển 9)
*
Tăng hỏi Động Sơn:
– Thế nào là hạnh Sa-môn?
Động Sơn đáp:
– Từ nhỏ nuôi một đứa bé, đầu dài ba thước, cổ ngắn hai tấc,(1) cho đến ngày nay chẳng thế ấy.
Tăng đem câu ấy hỏi Tào Sơn, Tào Sơn bảo:
– Xà-lê tự nói xem.
Tăng thưa:
– Đâu không giải quyết việc?
Tào Sơn gọi: -Xà-lê!
Tăng: – Dạ!
Tào Sơn bảo:
– Vừa rồi hỏi việc gì? Đem thước tấc đến đây xem.
Tăng không đáp được.
Người sau làm kệ:
Đầu trường hạng đoản thị thùy nhan?
Vấn trước toàn nhân cảm diện khan.
Tùng thử hoài tàm trường yểm hộ,
Bất tương tiêu tức đảo nhân gian.
Dịch:
Đầu dài cổ ngắn mặt mày ai?
Hỏi hết mọi người dám nhận xem.
Từ đó thẹn lòng thường đóng cửa,
Chẳng đem tin tức đến nhân gian.
(Trùng Biên Tào Động Ngũ Vị – quyển thượng)
*
Tăng hỏi thiền sư Thanh Khoát:
– Khi nhà nghèo bị cướp thì thế nào?
Tào Sơn đáp:
– Không thể lấy hết.
– Tại sao không thể lấy hết?
– Vì cướp là người thân trong nhà.
– Đã là người thân trong nhà vì sao trở thành kẻ cướp?
– Nếu ở trong không ứng thì bên ngoài làm gì được.
– Bỗng nhiên bắt được thì thế nào?
– Trong ngoài bặt tin tức.
– Khi bắt được công về chỗ nào?
– Thưởng cũng chưa từng nghe.
– Thế ấy thì nhọc mà không công?
– Công thì chẳng không, thành mà chẳng trụ.
– Đã thành tại sao chẳng trụ?
– Đâu chẳng nghe nói:
Thái bình uốn do công tướng quân
Chẳng cho tướng quân thấy thái bình.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 47)
*
Mục Châu dạy chúng:
– Đại sự chưa sáng như đưa ma cha mẹ, đại sự đã sáng như đưa ma cha mẹ.
Thanh Phong Sở bình rằng:
Bất đắc xuân phong hoa bất khai,
Cập chỉ hoa khai hựu xuy lạc.
Dịch:
Chẳng có gió xuân hoa chẳng nở,
Đến khi hoa nở lại thổi rơi.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 23)
*
Tam Bình hỏi thị giả:
– Ông họ gì?
Thị giả thưa:
– Cùng Hòa thượng đồng họ.
– Ta họ gì?
– Câu hỏi ở đâu?
– Từng hỏi ông bao giờ?
– Họ ấy là gì?
– Nghĩ ông là kẻ sơ cơ tha ông ba mươi gậy.
(Niêm Bát Phương Châu Ngọc Tập – quyển thượng)
Có vị tăng đi tham vấn hòa thượng Mễ Hồ, trên đường gặp một bà già. Tăng hỏi bà:
– Bà có quyến thuộc chăng?
– Có.
– Ở chỗ nào?
– Sơn hà đại địa, hoặc cỏ hoặc cây đều là quyến thuộc của tôi.
– Bà đã từng làm Sư cô chăng?
– Thầy thấy cái gì?
– Người thế tục.
– Thầy đâu chẳng phải là tăng?
– Bà chớ lẫn lộn Phật pháp.
– Tôi chẳng làm lẫn lộn Phật pháp.
– Bà thế ấy đâu không lẫn lộn Phật pháp?
– Thầy là nam, tôi là nữ, lẫn lộn chỗ nào?
(Niêm Bát Phương Châu Ngọc Tập – quyển hạ)
*
Có vị tăng đi tham vấn hòa thượng Phúc Thuyền, trên đường gặp một ông già bán muối. Tăng hỏi:
– Đến Phúc Thuyền đi đường nào?
Ông già lặng thinh giây lâu. Tăng lại hỏi:
– Đến Phúc Thuyền đi đường nào?
Ông già bảo:
– Ông điếc sao?
– Ông nói với tôi cái gì?
– Nói với ông con đường Phúc Thuyền.
– Ông hội thiền chăng?
– Chớ nói thiền, Phật pháp cũng hội hết.
– Ông thử nói xem?
Ông già xới muối lên. Tăng nói:
– Khó.
– Thầy gọi cái gì?
– Muối.
– Có gì dính dáng?
– Phải nói thế nào?
– Chẳng thể lại nói với Thầy là muối.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 72)
*
Tăng hỏi hòa thượng Thạch Cựu:
– Thế nào là hạt châu trong tay Địa Tạng?
Thạch Cựu đáp:
– Trong tay ông lại có chăng?
– Chẳng hội.
– Ông chớ dối đại chúng.
Ngài tụng:
Bất thức tự gia bảo,
Tùy tha nhận ngoại trần,
Nhật trung đào ảnh chất,
Cảnh lý thất đầu nhân.
Dịch:
Báu nhà mình chẳng biết,
Theo người nhận ngoại trần,
Giữa trưa chạy trốn bóng,
Kẻ nhìn gương mất đầu.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 14)
*
Thiền sư Tùng Chí ở Kim Phong, có vị tăng hỏi:
– Thân này vô tri như đất gỗ ngói đá, còn ý này thế nào?
Sư bước xuống giường thiền nắm lỗ tai vị tăng vặn mạnh. Tăng đau điếng la thất thanh. Sư nói:
– Ngày nay mới bắt gặp kẻ vô tri.
Tăng lễ bái lui ra. Sư gọi:
– Xà-lê!
Tăng xoay đầu ngó lại. Sư bảo:
– Nếu đến nhà tăng không nên thuật lại.
Tăng hỏi:
– Vì sao?
Sư bảo:
– Sẽ có nhiều người cười Kim Phong tâm lão bà.
(Thiền Tông Chính Mạch – quyển 7)
*
Thiền sư Thạch The (cháu Nam Tuyền), thị giả mời đi tắm. Sư bảo:
– Đã chẳng rửa bụi, cũng chẳng rửa lợn, tắm làm gì?
Thị giả thưa:
– Hòa thượng đi trước, con đem xà phòng đến sau.
Sư cười.
Một hôm thấy thị giả ôm bát đi đến trai đường, Sư hỏi:
– Đi đâu?
Thị giả thưa:
– Con đến trai đường.
Sư bảo:
– Ta đâu không biết ngươi đi đến trai đường?
– Trừ ngoài việc này, riêng nói cái gì?
-Ta chỉ hỏi việc bổn phận của ngươi.
– Nếu hỏi việc bổn phận, con thật đi đến trai đường.
– Không hổ là thị giả của ta.
(Phật Tổ Cương Mục – quyển 33)
*
Thiền sư Bổn Nhân ở viện Bạch Thủy (đệ tử Động Sơn) nói:
– Trong con mắt dính cát chẳng được, trong lỗ tai dính nước chẳng được.
Tăng hỏi:
– Tại sao trong con mắt dính cát chẳng được?
Sư đáp:
– Hợp chân không sánh.
– Tại sao trong lỗ tai dính nước chẳng được?
– Trắng sạch không nhơ.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 64)
*
Tú tài Trương Chuyết đến hỏi đạo Thạch Sương, thấy Thạch Sương thân thể gầy ốm, nói năng bình dị, ông không thích bỏ đi. Đến liêu Tri khách gặp điển tọa Thiền Nguyệt, Tề Kỷ, Thái Bố Nạp nghị luận thao thao. Trương Chuyết nói:
– Trong ba vị đây nên chọn một vị làm trưởng lão. Thiền Nguyệt biết ý Trương Chuyết khinh Thạch Sương, bèn bảo:
– Trong chùa này có năm trăm chúng, tương tự với tệ tăng có hai trăm năm mươi vị, hơn tệ tăng có hai trăm năm mươi vị, còn Hòa thượng đường đầu là nhục thân Bồ-tát.
Trương Chuyết nghe rồi mới nghiêm chỉnh oai nghi đến hỏi đạo Thạch Sương. Thạch Sương thấy ông đến liền hỏi:
Ông tên gì?
Trương Chuyết thưa:
– Trương Chuyết.
Thạch Sương bảo:
– Tìm xảo còn không có huống là chuyết. Trương Chuyết liền ngộ, trình kệ:
Quang minh tịch chiếu biến hà sa,
Phàm thánh hàm linh cộng ngã gia.
Nhất niệm bất sanh toàn thể hiện,
Lục căn tài động bị vân già.
Dục trừ phiền não trùng tăng bệnh,
Thú hướng chân như tổng thị tà.
Tùy thuận chúng duyên vô quái ngại,
Niết-bàn sanh tử đẳng không hoa.
Dịch
Sáng soi lặng lẽ khắp hà sa,
Phàm thánh hàm linh chung một nhà.
Một niệm chẳng sanh toàn thể hiện,
Sáu căn vừa động bị che lòa.
Muốn trừ phiền não càng thêm bệnh,
Hướng đến chân như thảy đều tà.
Tùy thuận các duyên không quái ngại,
Niết-bàn sanh tử thảy không hoa.
(Tục San Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu – quyển 2)
*
Tam Thánh Huệ Nhiên đến hỏi đạo thiền sư Trường Sa:
– Thế nào là mặt trăng thứ hai?
Trường Sa đáp:
– Chẳng thật có.
Tam Thánh lễ bái.
Trường Sa nói tụng:
Dã đại kỳ, đã đại kỳ!
Nhất nguyệt chân trung lưỡng nguyệt nghi.
Kiến dữ kiến duyên vô tự tánh,
Tịch thường thùy thị phục thùy phi?
Dịch:
Thật kỳ thay! Thật kỳ thay!
Trong một trăng thật nghi có hai.
Thấy và bị thấy không tự tánh,
Thường lặng thì ai đúng ai sai?
(Niêm Bát Phương Châu Ngọc Tập – quyển trung)
*
Thiền sư Duyên Quán ở Lương Sơn, thầy Tri viên hỏi:
– Khi giặc nhà khó giữ thì thế nào?
Sư đáp:
– Biết được chẳng phải oan gia.
– Sau khi biết được thì sao?
– Đày đến nước vô sanh.
– Đâu không phải chỗ y an thân lập mạng?
– Nước chết không chứa được rồng.
– Thế nào là nước sống chứa rồng?
– Dậy mòi mà không thành sóng.
– Bỗng khi đầm nghiêng núi đổ thì thế nào?
Sư bước xuống giường thiền nắm đứng lại bảo:
– Chớ nói ướt góc cà-sa của lão tăng.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 68)
*
Tăng hỏi thiền sư Lạc Phố:
– Cúng dường trăm ngàn đức Phật không bằng cúng dường một đạo nhân vô tâm. Chưa biết trăm ngàn đức Phật có lỗi gì? Đạo nhân vô tâm có đức gì?
Sư đáp:
Nhất phiến bạch vân hoành cốc khẩu
Kỷ đa quy điểu tận mê sào.
Dịch:
Một áng mây trắng che cửa hang
Bầy chim bay về đều quên tổ.
Có vị tăng khác hỏi:
– Khi con nghĩ trở về quê thì sao?
Sư đáp:
– Nhà tan người mất ngươi trở về chỗ nào?
– Thế ấy thì không trở về?
Đình tiền tàn tuyết nhật luân tiêu
Thất nội du trần khiển thùy tảo?
Dịch:
Mặt trời lên tan tuyết trước sân
Ai quét được bụi vờn trong thất?
Sư nói tụng:
Quyết chí quy hương khứ,
Thừa chu phiếm Ngũ hồ.
Cử cao tinh nguyệt ẩn,
Đình trạo nhật luân cô.
Giải lãm ly tà ngạn,
Trương phàm xuất chánh đồ.
Đáo lai gia đãng tận,
Miễn tác ốc trung ngu.
Dịch:
Quyết chí trở về quê,
Thuyền con dạo Ngũ hồ.
Giở chèo trăng sao lặn,
Dừng chèo trời giữa trưa.
Nhổ neo rời bờ vạy,
Giương buồm nhắm đường ngay.
Về đến nhà hết sạch,
Khỏi làm kẻ quê mùa.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 65)
*
Tăng hỏi thiền sư Cư Tuần ở Long Nha:
– Trong mười hai giờ dụng sức thế nào?
Sư đáp:
– Như người không tay muốn đánh.
*
Có vị tăng khác hỏi:
– Người xưa được cái gì liền thôi?
Sư đáp:
Như giặc vào nhà trống.
(Chỉ Nguyệt Lục – quyển 18)
*
Huyền Sa ăn trái vải, hỏi chúng:
– Trái vải này vì sao mà ửng hồng, trái vải kia vì sao mà đỏ tươi? Tất cả các ông hãy nói vì sao. Nếu nói một màu bèn thành lộn xộn. Nếu nói nhiều màu thì thành đoạn thường. Các ông phải làm sao?
Ngạn Thao thưa:
– Cũng chỉ tại Hòa thượng phân biệt.
Sư bảo:
– Đây là lộn xộn ngu si có dính dáng gì đâu?
Trùng Cơ thưa:
– Đại khái chỉ là một màu.
Sư bảo:
– Thảy đồng lộn xộn, có khi nào liễu ngộ!
Sư xoay lại hỏi Kiểu Nhiên:
– Ngươi nói thế nào?
Kiểu Nhiên thưa:
-K hông thể chẳng biết trái vải.
Sư nói:
– Chỉ là trái vải.
(Huyền Sa Sư Bị Thiền Sư Quảng Lục – quyển trung)
*
Tăng hỏi Vân Môn:
– Thế nào là pháp thân?
Sư đáp:
-Sáu chẳng thâu.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 48)
*
Vị tăng khác hỏi Vân Môn:
– Chẳng khởi một niệm lại có lỗi hay không?
Sư đáp:
– Núi Tu-di.
Sư nói kệ:
Cử bất cố
Tức sai hỗ
Nghĩ tư lương
Hà kiếp ngộ?
Dịch:
Nếu chẳng đoái
Liền sai lẫn
Toan nghĩ suy
Bao giờ ngộ?
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 49)
Huyền Sa dạy chúng:
– Những bậc lão túc ở các nơi nói là tiếp vật lợi sanh, bỗng gặp người có ba thứ bệnh đến làm sao tiếp? Mù thì cầm chùy dựng phất y chẳng thấy, điếc thì ngữ ngôn tam-muội y chẳng nghe, câm thì dạy y nói lại nói chẳng được, phải làm sao tiếp? Nếu tiếp không được người này thì Phật pháp không còn linh nghiệm.
Có vị tăng đem việc trên hỏi Vân Môn. Vân Môn bảo:
– Ông lễ bái đi.
Tăng lễ bái đứng dậy. Vân Môn lầm gậy đẩy tới. Tăng lùi lại sau. Vân Môn bảo:
– Ông chẳng phải bệnh mù.
Vân Môn gọi:
– Lại gần đây.
Tăng lại gần. Vân Môn bảo: -Ông chẳng phải bệnh điếc.
Vân Môn dựng gậy lên, hỏi:
– Hội chăng?
Tăng thưa:
– Chẳng hội.
Vân Môn bảo:
– Ông chẳng phải bệnh câm.
Tăng liền tỉnh ngộ.
(Thiền Lâm Loại Tụ – quyển 13)
*
Thiền sư Quy Tỉnh, có vị tăng vào thất hỏi về “Cây bá trước sân” của Triệu Châu. Sư bảo:
– Tôi chẳng tiếc nói cho ông, ông tin chăng?
Tăng thưa:
– Lời của Hòa thượng quý trọng, con đâu dám chẳng tin.
Sư bảo:
– Ông nghe giọt mưa rơi mé thềm chăng?
Vị tăng bỗng nhiên khai ngộ, bất giác thốt lên:
– Chao!
Sư hỏi:
– Ngươi thấy đạo lý gì?
Tăng nói kệ đáp:
Thiềm đầu thủy đích
Phân minh lịch lịch,
Đả phá càn khôn
Đương hạ tâm tức.
Dịch:
Giọt mưa mê thềm
Rõ ràng từng giọt,
Đập nát càn khôn
Liền đó tâm dứt.
Sư vui vẻ.
*
Có thiền khách hỏi:
– Con định ngày mai vào đế kinh. Khi đế vương chẳng đoái thì sao?
Sư đáp tụng rằng:
Nhất niên xuân tận nhất niên xuân,
Xúc nhật vô tư biến càn khôn.
Thời nhân tận xướng vô tư khúc,
Hãn ngộ tri âm đối giả hy!
Dich:
Một năm xuân trọn một năm xuân,
Vầng nhật chung soi khắp đất trời.
Thời nhân thủy xướng vô tư khúc,
Khó gặp tri âm đối, hiếm thay!
(Cổ Tôn Túc Ngữ Lục – quyển 23)
*
Thiền sư Cảnh Thanh hỏi vị tăng:
– Ngoài cửa có tiếng gì?
Tăng thưa:
– Tiếng nhái bị rắn cắn kêu.
Sư bảo:
– Tưởng rằng chúng sanh khổ, lại có khổ chúng sanh.
*
Sư hỏi vị tăng khác:
– Ngoài cửa có tiếng gì?
Tăng thưa:
– Tiếng mưa rơi.
Sư bảo:
– Chúng sanh điên đảo quên mình theo vật.
– Hòa thượng thế nào?
– Vẫn chẳng quên mình.
– Vẫn chẳng quên mình ý nghĩa thế nào?
– Xuất thân còn là dễ, thoát thể nói rất khó.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 46)
*
Có vị tăng hỏi thiền sư Pháp Nhãn:
– Trước đền cổ Phật người nào đến trước?
Sư đáp:
– Người không cất bước.
*
Có vị tăng khác hỏi:
– Làm sao thấu được hai chữ thanh sắc?
Sư gọi đại chúng bảo:
– Chư thượng tọa hãy nói, vị tăng này thấu được hay chưa? Nếu hội được câu hỏi này thì thấu thanh sắc chẳng khó.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 54)
*
Thiền sư Đạo Giai ở Phù Dung nói:
– Khuyên các ông chẳng cần cầu chân chỉ nên dứt kiến. Các kiến dứt hết thì mù tối chẳng sanh, trí tự nhiên soi sáng, lại không có vật khác. Các ông hội chăng?
Sư im lặng giây lâu nói:
Châu trung hữu hỏa quân tu tín,
Hưu hướng thiên biên vấn thái dương.
Dịch:
Trong châu có lửa anh tin lấy,
Thôi đến bên trời hỏi thái dương.
(Chỉ Nguyệt Lục – quyển 12)
*
Thiền sư Thiệu Tu (Tu sơn chủ) nói:
– Đầy đủ pháp phàm phu, phàm phu chẳng biết. Đầy đủ pháp thánh nhân, thánh nhân chẳng hội. Thánh nhân nếu hội tức là phàm phu. Phàm phu nếu biết tức là thánh nhân.
(Ngũ Đăng Hội Nguyên – quyển 8)
*
Thiền sư Duy Tín nói:
– Trước ba mươi năm khi chưa tham thiền, lão tăng thấy núi là núi, thấy nước là nước. Sau gần gũi thiện tri thức có chỗ thâm nhập, thấy núi không phải núi, thấy nước không phải nước. Nay được chỗ dứt sạch, thấy núi chỉ là núi, thấy nước chỉ là nước.
(Ngũ Đăng Hội Nguyên – quyển 17)
*
Úc Sơn Chủ, nhân hóa sĩ ở Lô Sơn đến dạy khán câu “Tăng hỏi Pháp Đăng: Đầu sào trăm trượng làm sao tiến bước? Pháp Đăng: Ối!” Sư khán đã ba năm. Một hôm cưỡi ngựa qua cầu đạp lủng tấm ván, người ngựa té nhào, bỗng nhiên Sư đại ngộ làm tụng:
Ngã hữu minh châu nhất khỏa,
Cửu bị trần lao quan tỏa,
Kim triều trần tận quang sanh,
Chiếu phá sơn hà vạn đóa.
Dịch:
Ta có một viên minh châu,
Đã lâu bị bụi vùi sâu,
Hôm nay bụi sạch phát sáng,
Soi thấu núi sông làu làu.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 31)
Thiền sư Nhân Dũng ở Bảo Ninh nói:
– Nếu nói Phật pháp cúng dường đại chúng chưa khỏi râu mày rụng sạch, nếu nói thế pháp cúng dường đại chúng vào địa ngục nhanh như tên bắn. Dẹp hai lối này hãy nói cái gì?
Tam thốn thiệt đầu vô dụng xứ,
Nhất song không thủ bất thành quyền.
Dich:
Đầu lưỡi ba tấc không chỗ dụng,
Hai tay buông thõng nắm chẳng thành.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 31)
*
Thiền sư Pháp Diễn ở Ngũ Tổ, thượng đường nói:
– Hôm qua sơn tăng vào thành thấy một giàn con rối, bèn đi đến trước xem, hoặc thấy nghiêm trang kỳ đặc, hoặc thấy xấu xí ghê gớm, tới lui đi đứng, xanh vàng đỏ trắng, rành rõ mỗi thứ. Xem kỹ thấy có người ở trong màn vải xanh điều khiển. Sơn tăng nhịn không nổi, bước tới hỏi: Ông tên họ gì? Y bảo: Hòa thượng già này xem rồi thì thôi, hỏi tên họ làm gì? Sơn tăng bị câu nói của y khiến câm họng, không lý để giãi bày. Lại có người vì sơn tăng nói được chăng?
Hôm qua trong ấy bị thua,
Ngày nay nơi này gỡ vốn.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 33)
Pháp Diễn nói:
– Ta có một vật chẳng thuộc phàm chẳng thuộc thánh, chẳng thuộc tà chẳng thuộc chánh, khi muôn việc đến tự nhiên hiệu lệnh.
Pháp Diễn nói:
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 32)
*
– Hôm qua có một tắc nhân duyên định nêu cho đại chúng nghe, lại vì lão tăng muôn việc thường quên, nhất thời suy nghĩ chẳng ra.
Sư lặng thinh giây lâu nói:
– Quên mất rồi! Quên mất rồi!
Lại nói:
– Trong kinh có bài chân ngôn tên Thông Minh Vương, có người quên, niệm liền nhớ lại.
Sư đọc:
– Án a lồ lặc kế ta bà ha.
Bèn vỗ tay cười to nói:
– Nhớ được rồi! Nhớ được rồi!
Sư nói kệ:
Tìm Phật chẳng thấy Phật,
Luận Tổ chẳng thấy Tổ.
Dưa ngọt tột gốc ngọt,
Dưa đẳng tận rễ đẳng.
Nói xong, Sư liền bước xuống tòa.
(Cổ Tôn Túc Ngữ Lục – quyển 20)
*
Trung thu, Sư thượng đường:
Trung thu nguyệt trung thu nguyệt,
Cổ kim tận vị tầm thường biệt.
Biệt bất biệt,
Kiểu kiểu thanh quang biến đại thiên,
Nhậm tùng thiên hạ vân vân thuyết.
Dịch:
Trăng trung thu trăng trung thu,
Xưa nay đều nói khác bình thường.
Khác chẳng khác,
Rỡ rỡ sáng soi khắp đất trời,
Mặc tình thiên hạ lăng xăng nói.
(Cổ Tôn Túc Ngữ Lục – quyển 21)
*
Kệ tụng:
Bệnh khởi
Bệnh lai hựu bệnh bì niêm cốt,
Đẩu tẩu khởi lai vô nhất vật.
Hành bất thành bộ, ngữ thanh đê,
Tỹ khổng y tiền không đột ngột.
Dịch:
Bệnh rồi lại bệnh, da xương dính,
Phấn phát đứng lên không một vật.
Bước đi chập choạng nói thều thào,
Lỗ mũi như xưa cao chất ngất.
(Cổ Tôn Túc Ngữ Lục – quyển 22)
*
Bà già bán bánh rán, sau khi ngộ đạo đến Lang Nha. Lang Nha nhìn, biết cảnh giới của bà, hỏi:
– Vô vị chân nhân ở đâu?
Bà ứng thanh đọc:
Hữu nhất vô vị chân nhân,
Lục tý tam đầu nỗ lực sân,
Nhất phách Hoa sơn phân lưỡng lộ,
Vạn niên lưu thủy bất tri xuân.
Dịch:
Có một vô vị chân nhân,
Ba đầu sáu tay nỗ lực sân,
Một chẻ Hoa sơn chia hai nẻo,
Nước chảy muôn năm chẳng biết xuân.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 34)
*
Hối Đường Tổ Tâm cùng Hạ Ý Công đang bàn về ý “Hội vạn vật vi tự kỷ” và “Tình dữ vô tình cộng nhất thể” trong Triệu Luận. Khi ấy có con chó nằm dưới gầm bàn, Sư lấy cây thước gõ con chó, lại gõ cái bàn nói:
– Con chó hữu tình nên đi, cái bàn vô tình ở lại, vậy thì tình cùng vô tình làm sao đồng một thể?
Ý Công suy nghĩ không đáp được. Sư bảo:
– Vừa dính suy nghĩ liền thành pháp dư, đâu thể “Hội vạn vật vi tự kỷ”.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 32)
*
Thiền sư Chân Tịnh ở trong thất hỏi vị tăng:
– Xong hay chưa?
Tăng thưa:
– Chưa xong.
– Ông ăn cháo xong hay chưa?
– Xong.
– Sao nói chưa xong?
Sư lại hỏi:
– Ngoài cửa tiếng gì?
– Tiếng mưa rơi.
– Sao nói chưa xong?
Sư lại hỏi:
– Trước mặt là cái gì?
– Bình phong.
– Sao nói chưa xong?
Sư lại hỏi:
– Hiểu chưa?
– Chưa hiểu.
Sư bảo:
– Hãy nghe bài tụng:
Tùy duyên sự sự liễu,
Nhật dụng hà khiếm thiếu!
Nhất thiết đản tầm thường,
Tự nhiên bất điên đảo.
Dịch:
Tùy duyên mọi việc xong,
Hằng ngày dùng đâu thiếu!
Tất cả chỉ bình thường,
Tự nhiên hết điên đảo.
(Chỉ Nguyệt Lục – quyển 26)
*
Có vị tăng hỏi thiền sư Thủ Trừng:
– Thế nào là cha mẹ xưa nay?
Sư đáp:
– Người đầu không bạc.
– Làm sao dâng hiến?
– Ân cần không cơm gạo, trước nhà chẳng hỏi thăm.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 67)
*
Có vị tăng hỏi thiền sư Trí Hồng:
– Sắc thân bại hoại, thế nào là pháp thân kiên cố?
Sư đáp:
Sơn hoa khai tợ cẩm,
Giản thủy trạm như lam.
Dịch:
Hoa núi nở đường gấm,
Nước khe trong tợ chàm.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 47)
*
Thiền sư Chí Đoan sắp tịch, trưởng lão Viên Ứng ra thưa:
Mây sầu ráng thảm,
Đại chúng thở than.
Mong thầy ban lời,
Chưa nên cáo biệt.
Sư duỗi một chân. Viên Ứng hỏi:
Gương pháp chưa đến xứ này,
Trăng báu lại soi chốn nào?
Sư bảo:
– Chẳng phải cảnh giới của ông.
– Thế là,
Bọt sanh bọt diệt trở về nước,
Thầy đến thầy đi việc vốn thường.
Sư hừ một tiếng.
(Ngũ Đăng Hội Nguyên – quyển 8)
*
Có đạo giả đến hỏi Ngọa Long Tổ Tiên:
– Con khỉ nắm không đứng, cúi xin chỉ dạy?
Sư bảo:
– Dùng nắm làm gì? Như gió thổi nước tự nhiên thành gợn sóng.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 35)
*
Thiền sư Nguyên Trường ở Thiên Nham hỏi vị tăng:
– Từ đâu đến?
Tăng thưa:
– Chiết Tây đến.
– Trong đây không có cơm đến làm gì?
– Đến xin Hòa thượng Phật pháp.
– Lại gần đây.
Tăng lại gần. Sư liền đấm một đấm, hỏi:
– Hiểu chăng?
– Chẳng hiểu.
– Kẻ si, cái đấm cũng chẳng hiểu.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 35)
*
Vạn Phong Thời Úy đến, Sư hỏi:
– Đem cái gì cùng lão tăng thấy nhau?
Thời Úy đưa nắm tay lên thưa:
– Cái này cùng Hòa thượng thấy nhau.
– Chết rồi, thiêu rồi, đến chỗ nào an thân lập mạng?
– Âu sanh âu diệt thủy hoàn tại,
Phong tức ba bình nguyệt ảnh đàm.
Dịch:
Bọt sanh bọt diệt nước nguyên vẹn,
Gió dừng sóng lặng trăng soi đầm.
Thiên Nham thượng đường nói:
Không gió lá sen lay,
Quyết định có cá lội.
Thời Úy hét một tiếng, phủi áo đi.
Thiên Nham nói kệ:
Uất uất hoàng hoa mãn mục thu,
Bạch vân đoan tọa Bích Phong đầu.
Vô tân chủ cú khinh niêm xuất,
Nhất hát thiên giang thủy nghịch lưu.
Dịch:
Đầy mắt mùa thu rợp cúc vàng,
Mây trắng ngồi yên ngọn Bích Phong.
Câu không chủ khách nêu nhè nhẹ,
Một hét ngàn sông chảy ngược dòng.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 36)
*
Thiền sư Tùng Triển ở Bảo Phước. Sư bệnh hỏi vị tăng:
– Tôi với ông biết nhau đã lâu năm, có thuốc gì cứu nhau, cứu nhau!
Tăng thưa:
– Thuốc thì có sẵn, nghe nói Hòa thượng không chịu kiêng cữ.
*
Sư bảo vị tăng đứng hầu:
– Ông tại sao thô tâm?
Tăng thưa:
– Chỗ nào là chỗ con thô tâm?
Sư đưa một cục đất, bảo:
– Ném ra trước cửa.
Tăng ném xong lại hỏi:
– Chỗ nào là chỗ con thô tâm?
Sư nói:
– Ta thấy chạm đến là va là kêu nên nói ông thô tâm.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 46)
*
Bà già đốt am
Bà cúng dường một vị tăng nhập thất hai mươi năm, thường sai con gái mang vật thực sang cung cấp cho vị tăng. Hôm nọ bà bảo con gái ôm cứng vị tăng hỏi: “Chính khi này thế nào?” Vị tăng đáp:
Khô mộc ỷ hàn nham
Tam đông vô noãn khí.
Dịch:
Cây khô tựa núi lạnh
Ba đông không hơi ấm.
Cô gái về thưa lại. Bà bảo:
– Ta hai mươi năm chỉ cúng dường kẻ thế tục.
Bà bèn đuổi đi rồi đốt am.
(Giáo Ngoại Biệt Truyền – quyển 16)
*
Có vị tăng hỏi thiền sư Duy Giản:
– Phật và chúng sanh là một hay hai?
Sư đáp:
Hoa khai mãn thọ hồng
Hoa lạc vạn chi không.
Dịch:
Hoa nở khắp cây hồng
Hoa rơi muốn cành không.
Tăng hỏi:
– Rốt cuộc là một hay hai.
Sư đáp:
Duy dư nhất đóa tại,
Minh nhật khủng tùy phong.
Dịch:
Chỉ còn thừa một đóa,
Ngày mai ngại gió rơi.
(Tục Truyền Đăng Lục – quyển 5)
Có vị tăng hỏi thiền sư Khánh Tường:
– Trên đường hiểm ác lấy gì làm cầu đò. Sư đáp:
– Lấy đây làm cầu đò.
– Thế nào là đây?
– Nắm lấy lỗ mũi ông.
(Thiền Tông Chính Mạch – quyển 5)
*
Vua Tống Hiếu Tông hỏi thiền sư Phật Chiếu:
– Phật Thích-ca vào núi sáu năm thành được việc gì?
Sư đáp:
– Tưởng đâu Bệ hạ quên mất.
(Giáo Ngoại Biệt Truyền – quyển 16)
*
Thiền sư Ngộ An xem kinh Lăng-nghiêm đến câu “Tri kiến lập tri tức vô minh bản, tri kiến vô kiến tư tức Niết-bàn”, Sư bèn sửa câu đọc: “Tri kiến lập, tri tức vô minh bản, tri kiến vô, kiến tư tức Niết-bàn”. Nơi đây Sư tỉnh ngộ.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 54)
*
Bồ-tát Văn-thù hỏi Am-đề-già nữ:
– Sanh lấy gì làm nghĩa?
Am-đề-già nữ đáp:
– Sanh lấy chẳng sanh sanh làm nghĩa sanh.
Văn-thù hỏi:
– Thế nào là sanh lấy chẳng sanh sanh làm nghĩa sanh?
Am-đề-già nữ đáp:
– Nếu hay biết rõ bốn duyên đất nước gió lửa chưa từng tự có hòa hợp, mà hay tùy duyên kia, ấy là nghĩa sanh.
Văn-thù hỏi:
– Tử lấy gì làm nghĩa?
Am-đề-già nữ đáp:
– Tử lấy chẳng tử tử làm nghĩa tử.
– Thế nào là tử lấy chẳng tử tử làm nghĩa tử?
– Nếu hay biết rõ bốn duyên đất nước gió lửa chưa từng tự có ly tán, mà hay tùy duyên kia, ấy là nghĩa tử.
Am-đề-già nữ hỏi lại Văn-thù:
– Biết rõ sanh là pháp chẳng sanh, vì sao lại bị sanh tử lôi cuốn?
Văn-thù đáp:
– Vì sức kia chưa đủ.
(Thiền Tông Chính Mạch – quyển 3)
*
Kinh Hoa Nghiêm phẩm Thập Định:
Bồ-tát Phổ Nhãn muốn thấy Phổ Hiền mà không thể thấy được, cho đến ba phen nhập định xem khắp tam thiên đại thiên thế giới tìm Phổ Hiền cũng không thấy, đến bạch Phật. Phật bảo: “Ông nên ở trong chánh định khởi một niệm liền thấy Phổ Hiền!” Phổ Nhãn khi ấy ở trong chánh định vừa khởi một niệm, liền thấy Phổ Hiền ở trong hư không cưỡi voi trắng sáu ngà.
(Kinh Hoa Nghiêm – quyển 40/80)
*
Thế Tôn chỉ hạt châu ma-ni hỏi năm vị thiên vương trấn giữ năm hướng:
– Hạt châu này màu gì?
Năm vị thiên vương mỗi vị nói màu khác nhau. Thế Tôn cất hạt châu, đưa tay lên hỏi:
– Hạt châu này màu gì?
Thiên vương thưa:
– Tay Phật không châu chỗ nào có màu?
Thế Tôn bảo:
– Tại sao các ông điên đảo lắm vậy? Ta đem thế châu chỉ đó, liền gắng nói có màu xanh, vàng, đỏ, trắng. Ta đem chân châu chỉ đó, thảy đều không biết.
Năm vị thiên vương thảy đều khế ngộ.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 2)
*
Ni sư Viên Ấn đến tham vấn thiền sư Chân Diễn ở Trúc Am. Sự hỏi:
– Thế Tôn đưa cành hoa, ngài Ca-diếp cười chúm chím là cười cái gì?
Ni hét một tiếng. Sư bảo:
– Một tiếng hét này rơi ở chỗ nào?
Ni thưa:
– Chẳng cần nghi.
Sư dựng phất tử hỏi:
– Cái này là gì?
– Chẳng được vọng thông tin tức.
– Vừa rồi sơn tăng nói gì?
– Lời trước đâu còn.
– Sơn tăng tuổi già.
– Tuổi già thì được.
Ni liền lễ bái.
(Kính Thạch Trích Nhũ Tập – quyển 5)
*
Thiền sư Huyền Thiết Dung thượng đường, chúng vừa nhóm đủ, Sư xuống tòa. Tri sự chặn lại hỏi:
– Hòa thượng vì sao không dạy một lời liền xuống tòa?
Sư bảo:
– Sáng sớm ăn hai chén cháo nguội, trong bụng có chút bất an, hãy đợi đi cầu một chút trở lại, vì các ông nói.
Chúng ngơ ngác. Sư trở về phương trượng. Hôm khác Sư thượng đường:
– Sơn tăng hôm qua đi thọ trai nhà trong xóm, nhai nhằm một hạt sạn cho đến sáng nay mà răng vẫn còn đau, không thể cùng chư huynh đệ nói vàng nói trắng.
Liền xuống tòa.
Hôm khác, Sư hỏi một vị tăng:
– Người xưa nói “Ăn cháo xong, rửa bát đi”, ý thế nào?
Tăng thưa:
– Khi hôm trong mộng, có người hỏi con câu này, vì con mê ngủ nên không đáp cho y.
Sư bèn thôi.
(Kính Thạch Trích Nhũ Tập – quyển 5)
*
Thiền sư Quảng Thanh, đầu mùa xuân năm Canh Thân đời Khang Hy thọ bệnh. Tháng tư, đệ tử Viên Tịnh dẫn chúng đến phương trượng hỏi thăm Sư và cầu chỉ dạy. Sư bảo:
– Sơn tăng xưa nay không dính mê ngộ, bị bệnh kiết ba tháng khiến thân gầy bày xương. Nếu người hiểu được như thế, bảo đảm siêu Phật vượt Tổ. Người xưa nói: “Pháp thân bệnh, sắc thân tức là pháp thân. Sắc thân bệnh, pháp thân tức là sắc thân.” Nay nhờ đại chúng hỏi ta gốc bệnh, sơn tăng quán khắp pháp giới tìm chỗ gốc bệnh khởi trọn không thể được. Cho nên nói: Bệnh vào cao hoang, thần y bó tay.
Nói xong, Sư hét một tiếng, nằm kiết tường thị tịch.
(Kính Thạch Trích Nhũ Tập – quyển 5)
*
Thiền sư Tiếu Ẩn Đại Hân bình bài tụng của Tam Bình Nghĩa Trung bằng hai câu thơ:
Thủy lưu hoàng diệp lai hà xứ,
Ngưu đới hàn nha quá biệt thôn.
Dịch:
Nước cuộn lá vàng đến chốn nào,
Trâu mang chim quạ qua thôn khác.
(Tiếu Ẩn Hân Thiền Sư Ngữ Lục – quyển 1)
*
Thiền sư Tổ Tiên ở Phá Am nói:
Linh Sơn hữu lộ bình như chỉ,
Nguyệt hộ vô nhân lãnh tự thu.
Dịch:
Linh Sơn có đường phẳng như mài,
Nhà trăng không người lạnh tự thu.
(Phá Am Tổ Tiên Thiền Sư Ngữ Lục)
*
Ví như người sợ bóng mà chạy trong trời nắng, chạy càng nhanh thì bóng đuổi theo càng lẹ, dừng nghỉ trong bóng cây thì bóng tự mất, đứa bé mười tuổi cũng biết. Người học đạo sợ sanh tử mà chẳng dứt vọng tâm, thì chẳng bằng đứa bé kia. Lại, thân quân tử thì tiểu nhân tự sợ, gần tiểu nhân thì quân tử tự xa, kẻ mua bán ngoài chợ, người quê mùa đều biết. Người học đạo sợ khổ lưu chuyển mà tùy thuận vô minh, là đầu Việt mà đuôi Yên đó vậy.
Người biết tâm lặng lẽ thì không cố khởi hiện hạnh, chẳng cùng vọng hiệp thì tự nhiên bản trí hiện tiền. Hai thứ này là thúc liễm tâm, chẳng phải gia công vậy.
(Trí Chứng Truyện – Huệ Hồng Giác Phạm tuyển)
*
Hoàng Long Huệ Nam dạy:
– Người người trọn nắm hạt châu Linh Xà, mỗi mỗi tự ôm hòn ngọc Kinh Sơn mà không tự hồi quang phản chiếu, nhớ báu quên xứ. Đâu không nghe nói: Khi ứng lỗ tai dường hang trống, tiếng lớn tiếng nhỏ đều đầy đủ. Khi ứng con mắt như ngàn mặt trời, muôn tượng không thể trốn hình bóng. Cứ theo thanh sắc mà tìm, tổ Đạt-ma từ Ấn Độ sang cũng chịu thua.
(Hoàng Long Huệ Nam Thiền Sư Ngữ Lục)
*
Có vị tăng đến hỏi Mã Tổ:
– Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang?
Mã Tổ bảo:
– Lại gần đây sẽ nói với ông.
Tăng lại gần. Tổ tát một bạt tai, bảo:
– Chỗ đông người không tiện nói.
(Mã Tổ Đạo Nhất Thiền Sư Quảng Lục)
*
Tổ Huệ Khả một hôm bỗng đại ngộ, bạch tổ Đạt-ma:
– Từ đây trở đi con dứt hết các duyên.
– Chớ rơi vào đoạn diệt!
– Không rơi.
– Con làm thế nào?
– Con thường biết rõ ràng, nói không thể đến.
– Đây là chỗ truyền tâm của chư Phật chớ nên hồ nghi.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 6)
*
Thiền sư Thiệu Long khi đến Viên Ngộ, Viên Ngộ dẫn câu “Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến, kiến du ly kiến, kiến bất năng cập”, liền đưa tay lên hỏi Sư:
– Thấy không?
Sư thưa:
– Thấy.
Viên Ngộ bảo:
– Đầu lại thêm đầu.
Viên Ngộ lại hỏi:
– Thấy cái gì?
Sư thưa:
– Tre dày không ngăn nước chảy qua.
Viên Ngộ gật đầu.
(Tổ Đình Kiềm Chùy Lục – quyển thượng)
*
Thiền sư Hành Vĩ ở Ngưỡng Sơn, năm mươi tuổi mới xuất gia. Sư đến núi Hoàng Bá tham vấn Huệ Nam, quyết chí tham cứu đã lâu mà chưa có lãnh hội, thường uống nước rửa chân của Huệ Nam. Sư đi kinh hành ngoài hành lang, gặp các bậc kỳ túc liền lễ bái thưa: “Xin thương Hành Vĩ tuổi già, cứu độ Hành Vĩ.” Sư cất thất ở chỗ vắng, bên trong chỉ để một giường nhỏ ngồi thiền. Có khách đến, Sư mời ngồi trên giường, rồi đi thắp hương đứng khoanh tay hầu, không nói một lời. Do đó chẳng ai dám vào cửa. Huệ Nam biết hạnh của Sư, đến bảo:
– Ngươi rất khắc khổ, không nên như thế.
Sư thưa:
– Con đã già, đạo nghiệp chưa thành, đâu rảnh bàn đến việc của người. Như hòa thượng Triệu Châu nói: “Ta ở phương Nam hai mươi năm, trừ hai thời cơm cháo là tạp dụng tâm.” Con là người gì mà dám nhàn rỗi.
Huệ Nam không thể đoạt được chí của Sư, trong lòng càng quý.
(Phổ Giác Tông Cảo Thiền Sư Ngữ Lục – quyển thượng)
*
Kinh Viên Giác có đoạn: “Cư nhất thiết thời bất khởi vọng niệm, ư chư vọng tâm diệc bất tức diệt, trụ vọng tưởng cảnh bất gia liễu trị, ư vô liễu tri bất biện chân thật…”, nghĩa là Trong tất cả thời không khởi vọng niệm, đối các vọng tâm cũng chẳng dừng diệt, trụ cảnh vọng tưởng không thêm rõ biết, nơi không rõ biết chẳng biện chân thật…
Hòa thượng Tuyết Đường niêm rằng:
Khô thọ vân sung điệp,
Điều mai tuyết tác hoa.
Kích đồng phương mộc hưởng,
Tiểu tuyết khiết đông qua.
Trường thiên thu thủy,
Cô vụ lạc hà.
Dich:
Cây khô mây đơm lá,
Mai còi tuyết điểm hoa.
Gõ ống tre vang tiếng,
Chấm tuyết ăn bí đao.
Trời trong nước thu,
Cò lẻ ráng chiều.
(Mật Am Hòa Thượng Ngữ Lục)
*
Thiền sư Tào Nguyên Đạo Sinh, Trung thu thượng đường dẫn chuyện Trường Sa Cảnh Sầm cùng Ngưỡng Sơn xem trăng. Ngưỡng Sơn chỉ mặt trăng thưa:
– Mỗi người đều có cái đó, chỉ là dùng chẳng được.
Trường Sa bảo:
– Đúng thế, ông dùng đi.
Ngưỡng Sơn thưa:
– Làm sao dùng?
Trường Sa đến gần đạp một đạp, Ngưỡng Sơn té nhào. Ngưỡng Sơn đứng dậy nói:
– Thật giống con cọp.
Sư làm tụng:
Phù vân tán tận nguyệt đương không,
Thổ tử hoài thai sản đại trùng,
Khiêu xuất phong tiền lộng nha trảo,
Chí kim hám động Quảng Hàn cung.
Dịch:
Mây mù tan sạch trăng trên không,
Thỏ ngọc mang thai sanh cọp hùng,
Nhào ra trước gió bày nanh vuốt,
Nay còn rúng động Quảng Hàn cung.
(Tào Nguyên Đạo Sinh Thiền Sư Ngữ Lục)
*
Ni Diệu Tổng ở trong hội thiền sư Đại Huệ nghe cử câu “Thế ấy cũng chẳng được, chẳng thế ấy cũng chẳng được, thế ấy chẳng thế ấy thảy chẳng được” của ngài Thạch Đầu, bà tỉnh ngộ. Đại Huệ lại dẫn câu chuyện bà già đến bến đò của thiền sư Nham Đầu, ném đứa con xuống nước, hỏi bà. Bà đáp:
Nhất diệp phiến chu phiếm diểu mang,
Trình nhiều vũ trạo biệt cung thương,
Vân sơn hải nguyệt câu phao khước,
Doanh đắc Trang Chu điệp mộng trường.
Dich:
Một chiếc thuyền con thả bể khơi,
Đưa chèo múa nhịp khúc nhạc trời,
Mây non trăng biển đều ném sạch,
Hơn hẳn Trang Chu giấc điệp dài.
(Vô Kiến Tiên Đổ Thiền Sư Ngữ Lục – quyển thượng)
*
Thiền sư Nguyên Tĩnh ở Nam Đường, đệ tử Ngũ Tổ Pháp Diễn. Sư trụ Đại Tùy, trong phòng ngủ của phương trượng có con rắn to ở đã lâu đời không ai dám đến gần. Sư đến muốn nghỉ ở đó. Thầy Giám tự bạch Sư biết việc ấy, Sư không màng vẫn đến đó ngủ. Đến nơi thấy con rắn to nằm trên giường, Sư lấy tay đẩy nó nói:
– Súc sanh già, nhường cho lão tăng nửa giường chứ!
Nói xong, Sư nằm nửa giường ngủ đến sáng. Sáng ra không thấy con rắn. Từ đó nó không đến nữa.
(Ngũ Gia Chánh Tông Tán – quyển 2)
*
Thiền sư Quang Dũng đến tham vấn Ngưỡng Sơn. Ngưỡng Sơn hỏi:
– Ông đến làm gì?
Quang Dũng thưa:
– Lễ kính Hòa thượng.
Ngưỡng Sơn hỏi:
– Lại thấy Hòa thượng chăng?
Quang Dũng đáp:
– Thấy.
Sư hỏi:
– Hòa thượng sao giống con lừa?
Quang Dũng đáp:
– Con thấy Hòa thượng cũng chẳng giống Phật.
Ngưỡng Sơn hỏi:
– Nếu chẳng giống Phật thì giống cái gì?
– Nếu có chỗ giống cùng lừa đâu khác.
Ngưỡng Sơn khen:
– Phàm thánh cả hai mất, tình hết thể lộ.
(Giáo Ngoại Biệt Truyền – quyển 11)
*
Thiền sư Tử Tâm, khoảng niên hiệu Thiệu Thánh, Sư trụ tại Thúy Nham, Giang Tây. Phía sau pháp đường có miếu Tề An Vương rất linh hiển. Sư dời miếu này đến phía tây viện, lấy nền làm phương trượng. Nơi đây, Sư để giường ngủ, có con trăn to nằm khoanh bên Sư. Sư quở thì nó đi, rồi trở vô lại, mỗi đêm đều như thế. Một hôm khoảng canh ba, Sư mộng thấy một người đội mũ mặc xiêm y đến chào Sư và bảo là dời chỗ mới y không thích, muốn nhờ sáu mươi tráng đinh theo hầu đi dạo hai tỉnh Quảng Đông Quảng Tây. Trong mộng Sư liền hứa khả. Mấy hôm sau, tráng đinh bỗng bị bệnh dịch chết đúng sáu mươi người.
Sư thượng đường hỏi chúng:
– Thật có quỷ thần chăng? Nếu nói có, sao chẳng giết Tử Tâm? Nếu nói không, tráng đinh vì sao mà chết?
Chúng trả lời không khế hội. Thủ tọa Sở Nguyên đáp:
Dưa ngọt tận rễ ngọt,
Dưa đẳng tột gốc đẳng.
Sư cười rồi thôi.
(La Hồ Dã Lục – quyển hạ)
*
Thiền sư Pháp Diễn dạy Phật Giám:
– Khi lãnh Trụ trì có bốn điều:
Một, Phước không nên thọ hết, phước hết ắt đến họa ương.
Hai, Thế lực không nên sử dụng hết, thế hết ắt bị khinh lờn.
Ba, Ngôn ngữ không nên nói hết, nói hết ắt cơ chẳng mật.
Bốn, Quy củ chẳng nên hành hết, hành hết thì chúng khó ở.
(La Hồ Dã Lục – quyển hạ)
*
Thiền sư Thanh Phẫu ở Hưng Dương ban đầu ở Đại Dương làm Tri viên. Sư trồng dưa, Đại Dương hỏi:
– Dưa ngọt khi nào chín?
Thanh Phẫu thưa:
– Hiện nay chín rồi.
– Lựa dưa ngọt hái đem lại.
– Hái đem lại cho ai ăn?
– Cho người không vào vườn ăn.
– Chưa biết người không vào vườn lại có ăn không?
– Ông lại biết y chăng?
– Tuy nhiên chẳng biết, không được chẳng cho.
Đại Dương cười rồi đi.
Thanh Phẫu nằm bệnh, Đại Dương đến hỏi:
Thân này như bọt huyễn,
Trong bọt huyễn thành xong,
Nếu không cái bọt huyễn,
Đại sự do đâu nên,
Nếu muốn đại sự nên,
Biết lấy cái bọt huyễn.
Là thế nào?
Thanh Phẫu thưa:
– Vẫn là việc bên này.
– Việc bên kia thế nào?
– Khắp đất vầng hồng đẹp,
Đáy biển chẳng nở hoa.
Đại Dương cười bảo:
– Là ông tỉnh tỉnh chăng?
Thanh Phẫu hét thưa:
– Tưởng là con quên sao.
Sau đó, Sư bệnh nặng rồi mất.
(Tùng Lâm Thạnh Sự – quyển thượng)
*
Thiền sư Ninh ở Khai Phước, quê tại Hấp Châu. Sư đến tham vấn thiền sư Pháp Diễn ở núi Ngũ Tổ. Pháp Diễn thấy Sư tư cách cao thượng siêu việt, thường khen ngợi Sư trước chúng và cho vào Ban chức sự, khiến kẻ đồng học đố kỵ Sư. Ban đêm họ mời Sư đi dạo núi nói chuyện, rồi đánh Sư sưng mặt bầm mắt. Sư không thể theo chúng thọ trai. Pháp Diễn hay được, đích thân đến thăm hỏi:
– Nghe ông bị bọn vô lễ đánh, sao không đến phương trượng thưa, lão tăng sẽ vì ông đuổi bọn họ đi?
Sư trọn giấu kín, chỉ nói:
– Con cam chịu thương tích, chẳng can việc khác.
Pháp Diễn rơi lệ nói:
– Sức nhẫn của ta chẳng bằng ông, sau này không ai làm gì được ông.
(Tùng Lâm Thạnh Sự – quyển thượng)
*
Thiền sư Đạo Hạnh hiệu Tuyết Đường. Sau khi về thăm mẹ, thân quyến hẹn hôm sau đến thăm Sư. Sư viết bài kệ trên vách chùa, rồi trốn đi trước.
Mạc hiềm tâm tự thiết,
Tự kỷ thượng vi oan.
Tảo tận môn tiền tuyết,
Phương khai hỏa lý liên.
Vạn ban hưu cánh vấn,
Nhất đẳng thị vong duyên.
Cá sự tương ưng xứ,
Kim cang chủng hiện tiền.
Dịch:
Chớ trách tâm như sắt,
Chính mình còn chẳng ưa.
Quét sạch tuyết trước cửa,
Mới nở sen lò hồng.
Muôn việc thôi chớ hỏi,
Bậc nhất là quên duyên.
Việc này chỗ ứng hợp,
Giống Kim cang hiện tiền.
(Tùng Lâm Thạnh Sự – quyển thượng)
*
Thiền sư Phần ở Kiếm Môn. Thuở nhỏ, Sư phát minh lẽ đạo, cạo tóc chạy khắp xóm làng, thời nhân gọi là cuồng tăng. Ban đầu Sư đến tham vấn Lại Am, sau đến Diệu Hỷ. Diệu Hỷ nghe Sư là phong điên nên không nhận vào chúng. Sư buồn trở về quê, đến bên trạm Chiết Giang đứng lại, tủi khóc. Bỗng nghe người dẹp đường nạt: “Thị Lang đến”, Sư chợt đại ngộ, làm kệ:
Kỷ niên cá sự quải hung hoài,
Vấn tận chư phương nhãn bất khai.
Kim nhật can trường hốt nhiên phá,
Nhất thanh giang thượng Thị Lang lại.
Dich:
Bao năm việc ấy chứa trong lòng,
Hỏi hết các nơi mắt chẳng thông.
Nay bỗng ruột gan chợt tan vỡ,
Nhờ tiếng “Thị Lang đến” bên sông.
(Tùng Lâm Thạnh Sự – quyển hạ)
*
Tô Đông Pha muốn yết kiến Phật Ấn, trước gửi bài kệ:
Thô sa thi Phật Phật hân thọ,
Quái thạch cúng tăng tăng bất hiềm.
Không thủ viễn lại hoàn yếu phủ,
Cánh vô nhất vật khả tăng thêm.
Dịch:
Cát thô cúng Phật Phật nhận liền,
Đá lạ dâng tăng tăng chẳng giềm.
Tay không xa đến cần chăng nhỉ?
Trọn không một vật để tăng thêm.
Phật Ấn đáp kệ:
Không thủ trì lại phóng hạ nan,
Tam hiền Thập thánh tụ đầu khan.
Thử ban cung dưỡng năng hâm hưởng,
Mộc mã nê ngưu diệc hỷ hoan.
Dịch:
Tay không đem đến lại khó buông,
Tam hiền Thập thánh hội họp xem.
Loại cúng dường này nếu hưởng được,
Trâu bùn ngựa gỗ cũng hân hoan.
(Vân Ngọa Kỷ Đàm – quyển hạ)
*
Đông Pha đến Kinh Khẩu, Phật Ân sang sông yết kiến. Đông Pha nói:
– Triệu Châu ngày xưa chẳng bước xuống giường thiền, Kim Sơn (Phật Ấn) vì sao ngày nay sang sông?
Phật Ấn nói kệ đáp:
Triệu Châu tích nhật khiếm khiêm quang,
Bất hạ thiền sàng tiếp nhị Vương.
Tranh tự Kim Sơn vô lượng tướng,
Đại thiên sa giới thị thiền sàng.
Dịch:
Triệu Châu thuở trước thiếu khiêm nhường,
Chẳng xuống giường thiền tiếp nhị Vương.
Nào giống Kim Sơn vô lượng tướng,
Đại thiên sa giới uốn giường thiền.
Phật Ấn dạy chúng kệ:
Mạc quải ca-sa tiện yếu nhàn,
Thất điều trung hữu Thiết Vi san.
Kỷ đa phóng dật tung hoành giả,
Thất khước nhân thân thuấn tức gian.
Dich:
Chớ mặc ca-sa lại muốn nhân,
Bảy điều trong có Thiết Vi san.
Bao người phóng dật tung hoành ấy,
Chỉ trong chớp mắt mất nhân thân.
(Tùng Lâm Thạnh Sự – quyển hạ)
*
Một hôm Phật Ấn nhập thất, chợt Đông Pha đến. Phật Ấn nói:
– Trong đây không có giường ghế, không thể tiếp cư sĩ.
Đông Pha nói:
– Tạm mượn tứ đại Hòa thượng làm ghế ngồi.
Phật Ấn bảo:
– Sơn tăng có một câu hỏi, nếu cư sĩ đáp được thì mời ngồi, nếu đáp không được xin để đai ngọc lại.
Đông Pha vui vẻ nói:
– Xin hỏi.
Phật Ân hỏi:
– Vừa rồi cư sĩ nói tạm mượn tứ đại sơn tăng làm ghế ngồi. Chỉ như sơn tăng tứ đại vốn không, năm ấm chẳng có, cư sĩ nhằm chỗ nào ngồi?
Đông Pha suy nghĩ mà không đáp được, đành phải cởi đai ngọc để lại, cười to ra đi.
Phật Ân lại lấy chiếc y Vân Sơn tặng ông. Đông Pha làm kệ:
Bách thiên đăng tác nhất đăng quang,
Tận thị hằng sa Diệu pháp vương,
Thị cổ Đông Pha bất cảm tích,
Tả quân tứ đại tác thiền sàng.
Bệnh cốt nan kham ngọc đới vi,
Độn căn nhưng lạc tiễn phong ky,
Hội đương khất thực ca kỹ viện,
Hoán đắc Vân Sơn cựu nạp y.
Thử đới duyệt nhân như truyền xá,
Lưu truyền đảo thử diệc du tai,
Cẩm bào thác lạc hồn tương xứng,
Khất dữ dương cuồng lão Vạn Hồi.
Dịch:
Trăm ngàn đèn thành một ánh đèn,
Thảy là hằng sa Diệu pháp vương,
Vì thế Đông Pha đâu dám tiếc,
Mượn tử đại Sư làm giường thiền.
Bệnh xương, đai ngọc buộc chẳng kham,
Độn căn vẫn lạc máy tên nhanh,
Biết nên khất thực nơi kỹ viện,
Đổi được chiếc y xưa Vân Sơn.
Đại ngọc trao người như truyền của,
Truyền đến bây giờ đã lâu rồi,
Cẩm bào xốc xếch thật tương xứng,
Xin tặng lão giả điên Vạn Hồi.
Phật Ấn làm kệ tạ ông:
Thạch Sương đoạt đắc Bùi Hưu hốt,
Tam bách niên lai chúng khẩu khoa,
Tranh tự Tô công lưu ngọc đới,
Trường hòa minh nguyệt cộng vô hà.
Kinh Sơn Biện thị tam triều hiến,
Triệu quốc Tương Như vạn tử hồi.
Chí bảo chỉ ưng thiên tử dụng,
Nhân hà lưu tại Tiểu Bồng Lai?
Dịch:
Thạch Sương đoạt được hốt Bùi Hưu,
Ba trăm năm miệng chúng khoe hoài,
Đâu giống Tô Công để đai ngọc,
Thường sáng như trăng chẳng vết tỳ.
Kinh Sơn họ Biện ba triều hiến,
Tương Như chỗ chết được trở về.
Ngọc quý chỉ dành thiên tử dụng,
Vì sao để lại Tiểu Bồng Lai?
(Tùng Lâm Thạnh Sự – quyển thượng)
*
Vương Kinh Công mời Phật Ân tán tượng Phó đại sĩ. Phật Ấn cầm bút tán:
Đạo quan Nho lý Phật ca-sa,
Hòa hội tam gia tác nhất gia.
Vong khước Suất-đà thiên thượng lộ,
Song Lâm si tọa đãi Long Hoa.
Dịch:
Mũ Đạo giày Nho ca-sa Phật,
Hòa hội ba nhà lại một nhà.
Quên mất đường về trời Đâu-suất,
Song Lâm ngồi mãi đợi Long Hoa.
(Vân Ngọa Kỷ Đàm – quyển hạ)
*
Quách đạo nhân ở nhà chuyên nghề thợ rèn, thường đến tham vấn thiền sư Trung ở Cảnh Đức. Thiền sư Trung dạy:
– Ông chỉ bỏ cái nặng kia, xoay lại mình mà tham cứu, không cái gì mà chẳng xong.
Một hôm thiền sư Trung thượng đường nói:
– Thiện ác như mây nổi, khởi diệt đều không chỗ nơi. Quách ngay đó tâm khai ngộ. Từ đây ông nói nhiều lời dị thường. Đến khi sắp chết, ông từ biệt người thân, ngồi kiết già nói kệ:
Lục thập tam niên đả thiết,
Nhật dạ phiến bành bất kiệt.
Kim triều phóng hạ thiết chùy,
Hồng lô biến thành bạch tuyết.
Dịch:
Sáu mươi ba năm đập sắt,
Ngày đêm thổi lửa không thôi.
Sáng nay chày sắt buông rồi,
Lò hồng biến thành tuyết trắng.
(Nhân Thiên Bảo Giám)
*
Thiền sư Đại Hưu, dòng Lâm Tế. Sư sanh vào thời Minh, khi ngộ đạo thuật kệ:
Pháp thân bản vô tướng,
Pháp tướng bản lai không.
Hội đắc giả tiêu tức,
Xứ xứ hiển gia phong.
Dịch:
Pháp thân vốn không tướng,
Pháp tướng xưa nay không.
Hiểu được tin tức ấy,
Chốn chốn bày gia phong.
(Tục Chỉ Nguyệt Lục – quyển 15)
*
Tăng hỏi thiền sư Tiếu Nham Đức Bảo:
– Thế nào là đoạt nhân chẳng đoạt cảnh?
– Một đồng tiền mua một cái bánh nướng.
– Thế nào là đoạt cảnh chẳng đoạt nhân?
– Ăn vô bụng rồi nghe vui vui.
– Thế nào nhân cảnh cả hai đều đoạt?
– Ông không có một đồng tiền đành cam chịu đói.
– Thế nào là nhân cảnh đều chẳng đoạt?
– Vân Môn bánh hồ, Kim Ngưu cơm, bụng trống đến, bụng no về.
*
Có vị tăng khác hỏi:
– Kinh nói chư Phật ra đời vì một đại sự nhân duyên, xin hỏi Hòa thượng thế nào là đại sự nhân duyên?
– Ăn cơm mặc áo, đại tiện tiểu tiện.
Tăng không bằng lòng, không lễ bái đi ra. Sư gọi lại nói kệ:
Chư Phật xuất ư thế,
Duy vi đại nhân duyên,
A thỉ tịnh phóng niệu,
Cơ xan khốn đả miên.
Mục tiền khẩn cấp sự,
Nhân chỉ dục thưởng thiên,
Đàm huyền cộng thuyết diệu,
Tao tội phục thâu tiền.
Dịch:
Chư Phật hiện trần thế,
Chỉ vì đại nhân duyên,
Đại tiện cùng tiểu tiện,
Đói ăn mệt ngủ liền.
Việc gấp rút trước mắt,
Người chỉ muốn lên thiên,
Nói huyền cùng bàn điệu,
Mắc tội lại thua tiền.
Tăng hổ thẹn lễ bái lui ra.
(Tục Chỉ Nguyệt Lục – quyển 16)
*
Có vị tăng hỏi hòa thượng Thạch Đầu:
– Thế nào là giải thoát?
– Ai trói ngươi?
– Thế nào là Tịnh độ?
– Cái gì làm như ngươi?
– Thế nào là Niết-bàn?
– Ai đem sanh tử cho ngươi?
(Chỉ Nguyệt Lục – quyển 5)
*
Nam Tuyền dạy chúng:
– Vương Lão sư từ nhỏ nuôi một con trâu đực, tính thả ăn ở khe đông, sợ phạm nước cỏ của quốc vương, tính thả ăn ở khe tây cũng sợ không khỏi phạm nước cỏ của quốc vương, chi bằng tùy thời nhận chút ít trọn chẳng thấy được.
(Chỉ Nguyệt Lục – quyển 8)
*
Có vị tăng hỏi Mục Châu:
– Lấy một lớp dẹp một lớp thì chẳng hỏi, khi chẳng lấy chẳng dẹp thì thế nào?
Mục Châu đáp:
– Hôm qua trồng cà, ngày nay trồng dưa.
(Chỉ Nguyệt Lục – quyển 13)
*
Trong hội thiền sư Phổ Chiếu có vị tăng lớn tuổi, mỗi ngày tụng ba trăm biến Chú Đại Bi, các kinh chú cũng vậy, ban đêm lễ Phật ba trăm lạy. Tuyết Đường thấy ông nhọc nhằn lăng xăng chẳng rảnh, một hôm nói với ông:
– Sao chẳng buông đi tất cả?
Vị tăng đáp:
– Vừa buông đi thì cảm giác rảnh rỗi.
Tuyết Đường bảo:
– Nếu ông buông đi, lại chẳng rảnh rỗi.
Nhân đó ngài bảo chúng:
– Đây là sức tin chưa đủ. Sở dĩ bình thường nói với huynh đệ, chẳng cần vin cơ cảnh khác. Thế nào gọi là cơ cảnh? Phật gọi là cơ cảnh, pháp gọi là cơ cảnh, huống là tất cả văn chương tạp sự. Nếu giữ chỗ nhàn nhàn, tự nhiên hư mà linh, tịch mà diệu, giống như trái bầu để trên mặt nước, thong thả không kìm không buộc, chạm đến liền động, đẩy đến liền xoay, thật được đại tự tại.
(Tuyết Đường Hạnh Hòa Thượng Thập Di Lục)
*
Thiền sư Huệ Trì (1337 -…) nhập định trong bộng cây (399 -1113). Vua Tống Huy Tông sai vẽ tượng Sư ban hành và ban ba bài tụng:
1-Thất bách niên lai lão cổ chùy,
Định trung tiêu tức hứa thùy tri,
Tranh như chích lý Tây quy khứ,
Sanh tử hà lao mộc tác bì.
2-Tàng sơn ư trạch diệc tàng thân,
Thiên hạ vô tàng đạo khả thân,
Ký ngữ Trang Chu hưu nghĩ nghị,
Thọ trung bất thị phụ xu nhân.
3-Hữu tình thân bất thị vô tình,
Bỉ thử nhân nhân định lý thân,
Hội đắc Bồ–đề bản vô thọ,
Bất tu tân khổ vấn Lư Năng.
Dịch:
1-Bảy trăm năm trước lão cổ chùy,
Tin tức định này ai biết chi.
Đâu như chiếc dép Tây quy khứ,
Sống chết uống công gỗ bọc ngoài.
2-Giấu núi trong đầm cũng giấu thân,
Ấy người không ẩn đạo mới gần,
Nhắn gửi Trang Chu thôi nghĩ nghị,
Trong cây đâu phải phụ xu nhân.
3-Thân hữu tình chẳng phải vô tình,
Kia đây người người trong định sinh,
Đã nhận Bồ-đề vốn không cội,
Chẳng cần vất vả hỏi Lư Năng.
(Thiền Tông Tạp Độc Hải – quyển 5)
*
Trương Văn Định Công tiền thân là thầy Tri tạng ở Lang Gia, chép kinh Lăng-già chưa xong thì chết, thị rằng đời sau sẽ chép tiếp.
Khi Trương Văn Định làm quan ở Trừ Châu đi dạo núi Lang Gia, dạo chung quanh hành lang chùa trọn không muốn rời đi, đến Tạng viện chợt cảm ngộ, chỉ hòm kinh trên rường nhà nói: “Đây là việc tiền thân tôi.” Ông sai người lấy xuống, xem ra là kinh Lăng-già, chữ viết trong ấy và nét chữ hiện tại giống hệt nhau. Ông đọc đến đoạn:
Thế gian lìa sanh diệt,
Ví như hoa trong không.
Trí chẳng thấy có không,
Mà khởi tâm đại bi.
Liền sáng được tánh mình. Ông làm kệ:
Nhất niệm tồn sanh diệt
Thiên cơ phược hữu vô,
Thần phong khinh cử xứ,
Thấu xuất tẩu bàn châu.
Dịch:
Một niệm còn sanh diệt
Ngàn cơ buộc co không,
Tên thần vừa buông nhẹ
Xuyên ngọc lăn trên mâm.
Về già, ông đem quyển kinh này cho cư sĩ Tô Đông Pha xem và thuật lại việc ấy. Đông Pha đề phía sau, cho khắc đá tại Kim Sơn.
(Nhân Thiên Bảo Giám)
*
Triệu Thanh Hiến, năm hơn bốn mươi tuổi, dẹp bỏ thanh sắc, chuyên tâm về Tổ đạo. Ông gặp thiền sư Phật Huệ Tuyền đến Nam Thiền, bèn đến thân cận. Sau ông làm quan ở Thanh Châu, khi chính sự rảnh, chỉ thích tọa thiền. Một hôm chợt nghe tiếng sấm vang, ông hoát nhiên khế ngộ, làm tụng:
Mặc tọa công đường hư ẩn kỷ,
Tâm nguyên bất động trạm như thủy.
Nhất thanh tích lịch đảnh môn khai,
Hoán khởi tùng tiền tự gia để.
Dịch:
Ngồi lặng công đường thênh tựa ghế,
Nguồn tâm chẳng động lặng như nước.
Một tiếng sấm vang mở đảnh môn,
Gọi dậy của nhà mình từ trước.
(Nhân Thiên Bảo Giám)
*
Tăng hỏi Ngưỡng Sơn Huệ Tịch:
– Pháp thân biết nói pháp chăng?
– Ta nói không được, có người khác nói được.
– Người nào nói được?
Ngưỡng Sơn lấy tay đẩy chiếc gối ra.
Quy Sơn nghe bảo:
– Huệ Tịch dùng việc như gươm bén.
(Thiền Lâm Loại Tụ – quyển 2)
*
Có vị tăng hỏi Lạc Phổ:
Nhiều tay đãi vàng, ai là người được?
– Báu xưa ở trong tay đâu nhờ đãi cát.
– Tại sao xòe tay không thấy?
– Chớ cho tiếng hạc kêu là hoàng oanh hót.
(Thiền Lâm Loại Tụ – quyển 15)
*
Có vị tăng hỏi thiền sư Thiện Hội ở Giáp Sơn:
– Khi vạch bụi tìm Phật thì thế nào?
– Liền phải hươi gươm, nếu không hươi gươm, ông chài ngủ nhà.
Vị tăng đem câu hỏi trên hỏi thiền sư Khánh Chư ở Thạch Sương. Thạch Sương đáp:
– Y không cõi nước, chỗ nào gặp y.
(Thiền Lâm Loại Tụ – quyển 2)
*
Thiền sư Trí Thông ở trong hội Quy Tông, bỗng nhiên nửa đêm kêu “Tôi đại ngộ”. Cả chúng đều kinh hãi. Hôm sau Quy Tông thượng đường bảo:
– Vị tăng đại ngộ khi hôm đâu, ra đây xem.
Sư bước ra thưa:
– Con.
Quy Tông hỏi:
– Ông thấy đạo lý gì kêu đại ngộ, thử nói xem.
Sư thưa:
– Sư cô nguyên là người nữ.
Quy Tông lấy làm lạ. Sư từ giã ra đi.
(Cảnh Đức Truyền Đăng Lục – quyển 10)
Thiền sư Đạo Nguyên (tông Tào Động) đăng tòa cầm cây quạt nói:
Nhẫm nhĩ thiên ban xảo
Chung vô lưỡng dạng phong.
Dich:
Mặc người ngàn thứ khéo
Dáng gió quả không hai.
Thiền sư Nghĩa Vân (cháu đời thứ tư) tiếp:
Chiêu lương kiêm ngoạn nguyệt
Chỉ tại nhất luân trung.
Dịch:
Xem trăng cùng hóng mát
Chỉ ở trong một vầng.
Có hai vị tên Viên Thứ và Viên Ngu bình sinh chuyên niệm Phật cấp thiết như cứu lửa cháy đầu, bỗng một hôm được chánh định hiện tiền. Viên Ngu đi đến Sơ Sơn yết kiến lão nhân Độc Trạm. Độc Trạm hỏi:
– Ông tu tập tông nào?
– Tông Tịnh độ.
– Phật Di-đà bao nhiêu tuổi?
– Bằng tuổi với tôi.
– Hiện nay ở chỗ nào?
Viên Ngu liền đưa tay mặt lên. Độc Trạm bảo:
– Ông thật là người tu Tịnh độ chân chánh.
(Trích lời thiền sư Bạch Ẩn – Nhật Bản)
Một thiền sư có việc xuống núi, lúc trở về gặp một cư sĩ cưỡi ngựa chạy ngang qua, cư sĩ gò cương ngựa lại hỏi:
– Thầy đi về đâu?
Thiền sư đáp:
– Tôi về đạo tràng.
– Nơi nơi đều là đạo tràng, Thầy về chỗ nào?
Thiền sư thoi vào hông cư sĩ nói:
– Kẻ vô lễ, đến đạo tràng mà không xuống ngựa.
Cư sĩ câm họng.
Đáp thay cư sĩ:
– Đã bảo nơi nơi đều là đạo tràng, còn nói gì “hữu lễ vô lễ”.
*
Một hôm giữa khuya, Tử Hồ ở trong phòng kêu to:
– Bắt ăn trộm! Bắt ăn trộm!
Trong lúc đêm tối mịt mù, một vị tăng chạy tới, Sư chụp vào ngực kêu to:
– Bắt được rồi! Bắt được rồi!
Tăng thưa:
– Bạch Hòa thượng, chẳng phải con.
Tử Hồ bảo:
– Phải thì phải, chỉ chẳng chịu thừa nhận.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 19)
*
Đại phu Lục Hoàn làm thứ sử Tuyên Châu, đến hỏi thiền sư Nam Tuyền:
– Người xưa nuôi một con ngỗng trong bình, ngỗng lớn dần chui ra bình không được. Hiện nay không được làm bể bình, làm tổn thương con ngỗng, Hòa thượng làm thế nào đem con ngỗng ra?
Nam Tuyền gọi:
– Đại phu!
Đại phu ứng thanh:
– Dạ!
Nam Tuyền bảo:
– Ra rồi!
Đại phu nhân lời này được khai ngộ, liền lễ tạ.
(Giáo Ngoại Biệt Truyền – quyển 6)
*
Thiền sư Lương Giới đi thăm bệnh tăng, tăng hỏi:
– Khi gió lửa ly tán thì thế nào?
– Khi đến không một vật, đi cũng mặc tình y.
– Thân đau bệnh thì sao?
– Phải biết có người chẳng bệnh.
– Thế nào là người chẳng bệnh?
– Ngộ thì không phân tấc, chẳng ngộ thì cách núi đồi
– Đường trước lại cho đoán được chăng?
– Tuy đen như sơn, thành lập ngay hiện tại.
(Thiền Lâm Loại Tụ – quyển 13)
*
Tăng hỏi Tào Sơn:
– Mi và mắt lại biết nhau chăng?
– Chẳng biết nhau.
– Vì sao chẳng biết nhau?
– Vì đồng ở một chỗ.
– Thế ấy thì chẳng phân?
– Mi vẫn chẳng phải mắt.
– Thế nào là mắt?
– Quả nhiên vậy.
– Thế nào là mi?
– Tào Sơn lại nghi.
– Vì sao Hòa thượng lại nghi?
– Nếu chẳng nghi tức quả nhiên rồi.
Thiền sư Nghĩa Vân (Nhật Bản) làm tụng:
Đệ huynh bản thị nhất gia nhi,
Trước nhãn thanh loan triển lưỡng mi,
Thùy thức Tào Sơn đoan đích xứ,
Kinh hành tọa ngọa bất tương nghi.
Dịch:
Anh em vốn thiệt con một nhà,
Mắt ngắm núi xanh nhướng đôi mi,
Quả nhiên Tào Sơn mấy kẻ biết,
Đi đứng ngồi nằm đều chẳng nghi.
Thiền khách Điền Thừa đến tham vấn thiền sư Điền Duyệt (Nhật Bản) hỏi:
– Thế nào là chỗ dụng tâm của học nhân?
Điền Duyệt xòe hai bàn tay bảo:
– Mời đem tâm lại.
Điền Thừa ngơ ngác. Điền Duyệt tát vào mặt một cái bảo:
– Cần dụng cái tâm nào?
Ngay đó Sư lãnh ngộ, ở lại đây mười chín năm.
Sau Sư có làm bài kệ:
Thiên lý tầm Sư đảo Phú Xuyên,
Dụng tâm vô xứ nãi an thiền.
Bất tri kỷ cá bồ đoàn phá,
Nhất trụ phương hưu thập cửu niên.
Dịch:
Ngàn dặm tìm Thầy đến Phú Xuyên,
Dụng tâm không chỗ mới an thiền.
Chẳng biết bao nhiêu bồ đoàn rách,
Trụ được mới thôi, mười chín niên.
Tôn giả Nghiêm Dương hiệu Thiện Tín đến hỏi Triệu Châu:
– Một vật chẳng đem đến thì thế nào?
Triệu Châu đáp:
– Buông xuống đi.
-Đã là một vật chẳng đem đến, lại buông xuống cái gì?
– Buông chẳng được nên gánh lên đi.
Sư tỉnh ngộ đảnh lễ. Khi Sư về ở núi, có hai con cọp và rắn thường quanh quẩn bên chân.
Sau này thiền sư Huệ Nam ở Hoàng Long làm tụng:
Nhất vật bất tương lai,
Kiên đầu đảm bất khởi.
Ngôn hạ hốt tri phi,
Tâm trung vô hạn hỷ.
Độc ác ký vong hoài,
Xà hổ vi tri kỷ.
Quang âm kỷ bách niên,
Thanh phong do vị dĩ.
Dịch:
Một vật chẳng đem đến,
Trên vai gánh chẳng kham.
Qua lời chợt biết lỗi,
Trong tâm vui vô vàn.
Lòng quên các độc ác,
Cọp rắn làm bạn thân.
Thời gian trăm năm lẻ,
Gió mát vẫn nguyên còn.
(Vân Ngọa Kỷ Đàm – quyển thượng)
Sơ Sơn đến Quy Sơn hỏi:
– Được nghe Thầy nói: “Câu có câu không như bìm leo cây”, bỗng nhiên cây ngã bìm khô, câu về chỗ nào?
Quy Sơn cười to ha hả. Sơ Sơn thưa:
– Con từ bốn ngàn dặm mang khăn gói đến, tại sao Hòa thượng lại đùa như vậy?
Quy Sơn gọi:
– Thị giả! Lấy tiền trả lại cho Thượng tọa này.
Lại dặn:
– Về sau có con rồng một mắt sẽ vì ông điểm phá. Sau Sơ Sơn đến thiền sư Minh Chiêu thuật lại câu chuyện trước. Minh Chiêu bảo:
Quy Sơn đáng nói là đầu chánh đuôi chánh, chỉ là chẳng gặp tri âm.
Sơ Sơn lại hỏi:
-Cây ngã bìm khô, câu về chỗ nào?
Minh Chiêu đáp:
– Nụ cười Quy Sơn lại thêm tươi.
Ngay đó Sơ Sơn tỉnh ngộ, nói:
– Hóa ra trong nụ cười Quy Sơn có dao.
Thiền sư Hoằng Trí tụng:
Đằng khô thọ đảo vấn Quy Sơn,
Đại tiểu ha ha khởi đẳng nhàn,
Tiếu lý hữu đao khuy đắc phá,
Ngôn tư vô lộ tuyệt cơ quan.
Dịch:
Bìm khô cây ngã hỏi Quy Sơn,
Cười lớn ha ha há rỗng trơn,
Dao sẵn trong cười xem được thấu,
Không đường nói nghĩ bặt mưu toan.
(Hoằng Trí Thiền Sư Quảng Lục – quyển 2)
*
Vua Đông Ân thỉnh chư tăng dự lễ trai tăng, trong đó có tổ Bát-nhã-đa-la. Chúng tăng ở lại kẻ ngồi thiền người tụng kinh, chỉ có Tổ không làm gì. Vua hỏi:
– Sao Ngài chẳng tụng kinh?
Tổ đáp:
– Bần đạo thở vào chẳng trụ ấm giới, thở ra chẳng dính các duyên, thường tụng kinh như thế trăm ngàn vạn ức quyển.
Thiền sư Hoằng Trí tụng:
Vân tê ngoạn nguyệt xán hàm huy,
Mộc mã du xuân tuấn bất kỳ.
Mi để nhất song hàn bích nhãn,
Khán kinh na đảo thấu ngưu bì.
Minh bạch tâm siêu khoáng kiếp,
Anh hùng lực phá trùng vi
Diệu viên xu khẩu chuyển linh kỵ,
Hàn Sơn vong khước lại thời lộ,
Thập Đắc tương tương huề thủ quy.
Dich:
Vân tê dạo trăng sáng rạng ngời,
Mộc mã du xuân phóng quá hay.
Dưới cặp chân mày mắt biếc lạnh,
Xem kinh đâu thấu da trâu dày.
Rõ ràng tâm siêu nhiều kiếp,
Anh hùng sức phá vòng vây.
Trong chốt diệu viên máy linh xoay,
Hàn Sơn quên mất đường khi đến,
Thập Đắc cùng về tay nắm tay.
(Hoằng Trí Thiền Sư Quảng Lục – quyển 2)
*
Lâm Tế dạy chúng:
– Có một vô vị chân nhân thường ra vào nơi cửa mặt các ông, người sơ tâm chưa chứng cứ hãy xem!
Có vị tăng hỏi:
– Thế nào là vô vị chân nhân?
Lâm Tế bước xuống giường thiền nắm đứng vị tăng. Vị tăng suy nghĩ. Lâm Tế xô ra nói:
– Vô vị chân nhân là cái gì? Que cứt khô.
Thiền sư Hoằng Trí tụng:
Mê ngộ tương phản,
Diệu truyền nhi giản,
Xuân sách bách hoa hề nhất xuy,
Lực hồi cửu ngưu hề nhất vãn,
Vô nại nê sa bát bất khai,
Phân minh tắc đoạn cam tuyền nhãn,
Hốt nhiên đột xuất tử hoành lưu.
Dịch:
Mê cùng ngộ trái,
Diệu truyền mà giản đơn,
Mùa xuân trăm hoa chừ một thổi,
Sức kéo chín trâu chừ một lôi,
Nào hệ cát bùn vạch chẳng nổi,
Mội nước ngọt bít lấp rõ ràng,
Bất ngờ phun ra chảy như xối.
(Hoằng Trí Thiền Sư Quảng Lục – quyển 2)
*
Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn:
Chợt có người hỏi: “Tất cả chúng sanh nghiệp thức mênh mang không gốc có thể tựa”, ông làm sao kinh nghiệm?
Ngưỡng Sơn thưa:
– Con có chỗ kinh nghiệm. Nếu có vị tăng đến liền gọi: Xà-lê! Tăng xoay đầu lại, bèn nói: Là cái gì? Đợi y suy nghĩ, liền bảo: Chẳng những nghiệp thức mênh mang, cũng là không gốc có thể tựa.
Quy Sơn khen:
– Lành thay!
*
Thiền sư Hoằng Trí tụng:
Nhất hoán hồi đầu thức ngã phủ,
Y hy la nguyệt hựu thành câu.
Thiên kim chi tử tài lưu lạc,
Mạc mạc đồ cùng hữu hứa sầu.
Một gọi xoay đầu biết ta chăng!
Lờ mờ bóng nguyệt ngỡ lưỡi câu.
Con ông trưởng giả vừa phiêu bạt,
Mờ mịt đường cùng lắm nỗi sầu.
(Hoằng Trí Thiền Sư Quảng Lục – quyển 61)
*
Có một bà già lên núi Đầu Tử hỏi thiền sư Đại Đồng:
– Nhà tôi vừa mất trâu, thỉnh Thầy bói xem?
Đại Đồng gọi:
– Bà già!
Bà ứng thanh:
-Dạ!
Đại Đồng bảo:
-Vẫn còn.
Bà già vui vẻ ra về.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 61)
*
Thiền sư Cảnh Thanh đến tham vấn Huyền Sa, Sư thưa:
– Con mới đến tùng lâm, thỉnh Thầy chỉ lối vào. Huyền Sa hỏi:
– Ông nghe tiếng nước Yển Khê chảy chăng?
– Nghe.
– Từ đây mà vào.
Cảnh Thanh đại ngộ.
*
Thiền sư Bổn Như ở Thần Chiếu đến tham vấn tôn giả Pháp Trí. Sư hỏi:
– Thế nào là vua các Kinh?
Tôn giả bảo:
– Ông làm Tri khố ba năm, ta sẽ vì ông nói.
Sư vâng lệnh làm Tri khố. Mãn ba năm, lại thưa:
– Nay xin Hòa thượng nói.
Tôn giả gọi to:
– Bổn Như!
– Dạ!
Bỗng nhiên Sư khế ngộ, làm tụng:
Xứ xứ phùng quy lộ,
Đầu đầu thị cố hương,
Bản lại thành hiện sự,
Hà tất đãi tư lương.
Dịch:
Chốn chốn gặp đường về,
Nơi nơi vốn quê xưa,
Xưa nay việc bày hiện,
Nào phải đợi nghĩ suy.
Thủ tọa Đạo Tổ ở chùa Chiêu Giác, Thành Đô. Sư tham vấn thiền sư Viên Ngộ đã lâu, nhân vào thất hỏi “Tức tâm thị Phật” liền có tỉnh. Viên Ngộ sai Sư trợ giúp việc giáo hóa.
Một hôm chúng vào thất, Sư hỏi một thiền khách:
– Sanh tử đến làm sao né tránh?
Thiền khách không đáp được. Sư ném cây phất tử xuống an nhiên thị tịch. Chúng thấy ngơ ngác chạy báo cho Viên Ngộ hay. Viên Ngộ đến gọi:
– Thủ tọa Tổ!
Sư mở mắt. Viên Ngộ bảo:
– Phấn phát tinh thần vượt cổng đi.
Sư gật đầu, rồi tịch luôn.
(Nhân Thiên Bảo Giám)
*
Vua Tống Hiếu Tông đến chùa Linh Ẩn, ngự tại phương trượng. Vua thấy bức họa hình của thiền sư Phật Hải Huệ Viễn treo trên vách, liền hỏi:
– Hình của ai?
Phật Hải tâu:
– Hình bần tăng do học giả họa để xin bài tán.
Vua hỏi:
– Đây là bức họa, còn cái chân thật ở đâu?
Phật Hải cung kính tâu:
– Gió xuân mát mẻ, kính chúc Hoàng thượng muôn phước
Vua vui vẻ nói:
– Thiên tử vì pháp cầu người, Thiền sư quên thân vì nước.
*
Thiền sư Duy Tắc hiệu Thiên Như. Nhân ngày kỵ tổ Trung Phong, vì chúng phổ thuyết:
– Tổ ý giáo ý, tông thông thuyết thông, lấy gậy khều trăng, dùng dây trói gió, đâu giống cây gậy hình núi, dữ như cọp, linh hoạt tợ rồng, ba mươi năm trước từng ở trong núi Thiên Mục, hút cạn nước biển cả, đánh ngã ngọn Tu-di. Về sau chạy trốn ẩn trong đất không âm dương, trên trời dưới đất tìm không thấy dấu vết. Hừm! Hừm! Ai nói tìm không thấy dấu vết? Chính nay thấy mặt gặp nhau.
Sư chợt đưa gậy, nói:
– Chẳng phải cái này sao?
Tương tự na ná chẳng đồng. Nếu trong chúng có người không cam chịu chẳng ngại giật lấy bẻ làm hai khúc, khỏi ở trước người khoác lác. Nếu không có người như thế thì bỏ qua một nước.
Dành cho người đi đêm lạc lối,
Xỏ ngang nhật nguyệt làm lồng đèn.
Sư giộng gậy gọi chúng nói:
– Hôm nay ngày mười bốn tháng tám là ngày nhập Niết-bàn của hòa thượng Trung Phong Phổ Ứng quốc sư. Trong chúng có nhiều người là đệ tử của ngài, đã từng được ngài khai phát. Ngoài ra chỉ có một nhóm người sau chưa nghe chưa biết lai lịch của ngài. Hãy nghe tôi nhắc sơ lược:
Hòa thượng quê ở Tiền Đường, năm hai mươi bốn tuổi lên núi Thiên Mục xin hòa thượng Cao Phong xuất gia, tham cứu thấu rõ việc lớn sanh tử. Việc lớn sanh tử đã rõ, tuệ đời trước chóng phát, bèn đem pháp đã được giáo hóa mọi người. Ấy là bậc Tông sư truyền pháp đời thứ 18 của phái Lâm Tế. Xét ngài hai ba mươi năm làm sư tử rống, nói ngang nói dọc khắp thiên hạ, vốn không có ý khác, chỉ vì mọi người dưới gót chân có việc lớn sanh tử mà chưa từng thấu rõ, nên không tiếc khẩu nghiệp khuyên các ông rõ đi.
Đến nay ngài Niết-bàn gần ba mươi năm, mà Sư Tử Lâm tôi mỗi năm vào ngày này vì lập tòa cao, trưng di ảnh ngài lên, hội các người đến chiêm lễ, cũng không có ý khác. Bởi muốn những người trước đã từng thấy ngài, nay lại thấy như xưa để phát đạo tâm, những người mới thấy mới nghe cũng phát đạo tâm rõ thấu sanh tử. Các ông nếu không hiểu ý này, chẳng phát đạo tâm, là các ông cô phụ bậc thiện tri thức, là các ông không biết việc lớn sanh tử. Nói các ông không biết đã là xem thường các ông. Việc sanh tử là cái gì mà không biết? Phàm có sanh quyết định có tử, sau khi tử theo nghiệp thọ báo. Huống là trước mắt thường thấy người chết, chết rồi thiêu rồi. Cổ giáo nói:
Ngã kiến tha nhân tử,
Ngã tâm nhiệt như hỏa,
Bất thị nhiệt tha nhân,
Khán khán hựu đảo ngã.
Dịch:
Ta thấy người khác chết,
Tâm ta nóng như lửa,
Chẳng phải nóng vì người,
Sắp tới lượt ta mất.
Giống như câu nói này, tại sao không biết được? Biết thì vẫn biết, chỉ là không chịu tu hành. Nói các ông không chịu tu hành cũng là khi dễ các ông. Hiện tiền chư Đại đức phần nhiều đã từng trải giang hồ, tham vấn các bậc thiện tri thức, hạ thủ công phu tu hành chỉ là chưa đến chỗ ngàn thông trăm ổn. Lỗi tại chỗ nào? Lỗi tại chẳng dũng mãnh, chẳng tinh tấn, chẳng kiên cố, chẳng lâu dài, tạm thời phát tâm nhận chịu, chưa bao lâu lại thối lui. Sở dĩ nói: “Phật pháp không nhiều, người bền lâu khó có, học đạo như tâm ban đầu, thành đạo có thừa, trước sau chẳng đổi, thật là đại trượng phu.” Như hiện nay có được mấy người trước sau chẳng đổi? Thường thường năm cặp thì mười người thối đạo tâm. Xét lý do thối tâm của họ, mỗi người có sự ràng buộc riêng. Chỗ ràng buộc có ba thứ:
Thứ nhất, không luận tăng tục nam nữ mỗi mỗi đều bị thân khẩu ràng buộc.
Kế là, người có quyến thuộc bị quyến thuộc ràng buộc.
Thứ ba, người có gia nghiệp bị gia nghiệp ràng buộc.
Ba thứ ràng buộc này ràng buộc tất cả người. Tất cả người đời bị ba thứ ràng buộc này mà bận rộn hết một đời, ồn náo hết một đời, khổ lụy suốt một đời, vô ích một đời qua suông một đời. Huống là nhân ba thứ ràng buộc này khởi lên vô lượng tham sân si, tạo vô lượng nghiệp ác lớn nhỏ. Do nghiệp báo này rơi trong khổ hải tam đồ bát nạn, sanh tử luân hồi chịu vô lượng khổ não không được giải thoát. Tuy chịu vô lượng khổ não chỉ là trước sau không tỉnh, cái khổ chẳng tỉnh ấy bởi họ không ngộ vậy. Chẳng ngộ cái gì? Là chẳng ngộ thân thể, quyến thuộc, gia nghiệp… đều không phải là của mình.
Như hiện nay nói thân thể chẳng phải là ông, ông còn chưa tin. Sơn tăng dứt khoát sẽ vì ông nói rõ từ đầu. Ban đầu ông vào trong thai mẹ, khi vào thai chỉ riêng một cái thần thức, đâu từng có thân thể đến. Thân thể này là do tinh cha huyết mẹ kết hợp mà thành, chỉ là một khối thịt không có tri giác, chẳng biết đau chẳng biết ngứa, chẳng biết lạnh chẳng biết nóng, chẳng biết đói chẳng biết no, chẳng biết khổ chẳng biết vui. Nhân thức thần của ông gá vào khối thịt ấy, từ đây biết đau ngứa, biết lạnh nóng, biết đói no, biết khổ vui. Đến khi ra khỏi thai liền nhận lấy nó gọi là thân ta. Nếu nói thân không phải của ta, quyết định chẳng tin.
Bởi thế, Phật tổ thương xót đắng miệng nói với các ông: “Cái này không phải thân của ông, nó là cái đấy da thối do tinh huyết kết thành, chẳng thuộc ông quản lý, chẳng do ông sắp đặt, cho đến sanh già bệnh chết chẳng do ông xử phân!” Vì sao biết như vậy? Vả như buổi đầu ông đi vào thai mẹ, bảy ngày một phen đổi, dần dần sanh trưởng. Nào là ngũ tạng lục phủ, bách hài cửu khiếu, tứ chi lục căn, gân xương da thịt từ từ thành hình, đến khi ra khỏi thai đều là do gió nghiệp thổi, sức nghiệp điều khiển, ông hoàn toàn không hiểu không biết, đâu từng do ông sắp đặt. Sau khi sanh ra nuôi lớn đến ba bốn mươi tuổi, tóc bạc răng lay, da nhăn mặt vàng, dần dần biến đổi, dần dần già đến. Già suy trước đến, bệnh theo đó đến. Bệnh đã đến, chết liền theo sau. Biến hoại như thế, mỗi mỗi đều chẳng do ông, ông vốn chẳng mong như thế làm sao quản lý được nó?
Huống nữa, ông từ sanh đến chết trên cái đãy da thối này, đã dùng bao nhiêu thứ ân ái tình nghĩa, bao nhiêu thứ bảo dưỡng nó, bao nhiêu thứ gìn giữ nó, bao nhiêu thứ thuốc thang điều trị nó, mà nó lại quên ơn phụ nghĩa. Như thế nó lại bị người ghét. Vì sao bị người ghét? Như tháng mùa hè nóng bức, có người khỏe mạnh, chợt vừa chập tối phát bệnh cấp bách, sau đó liền tắt thở. Tắt thở đến khoảng giữa đêm, mùi hôi xông đến những người bên cạnh, họ vội vàng dùng quan tài đựng rồi đậy lại, chưa đến sáng đã gấp gấp đem đi thiêu. Dù là những người quyến thuộc chí thân chí ái cũng không cho để lại lâu. Lấy đây mà xét, hôm qua mới chiều còn là người mạnh, hôm nay sớm thành một nắm xương tro, không biết thức thần của họ đã đi về đâu? Sự đổi thay nhanh chóng này trọn chẳng do ông. Đã là thân thể của ông lý đáng phải do ông quản lý. Đã chẳng do ông quản lý, tại sao vọng nhận nó là thân của ông, từ đó bị nó ràng buộc làm lui sụt đạo tâm?
Quyến thuộc của ông cũng thế, họ và ông đồng mang một đấy da thối, họ và ông đều chẳng tự do, họ và ông đều quản lý chẳng được, cơn vô thường đến họ và ông đều chẳng thể thay nhau. Ngày thường trước mắt họ và ông bị ân tình ràng buộc gọi là quyến thuộc, sau khi nhắm mắt thì ông và họ không còn biết nhau. Thế mà tại sao vọng nhận họ làm quyến thuộc, bị họ ràng buộc phải thối thất đạo tâm?
Gia nghiệp của ông cũng vậy, khi còn khỏe mạnh tính toán kinh doanh quý tiếc giữ gìn, cho là sẽ thọ dụng trăm ngàn muôn năm. Ai biết một hơi thở chẳng hít vào thì một mảy tơ đem đi chẳng được. Tại sao lại nhận gia nghiệp của ông, bị nó trói buộc phải thối thất đạo tâm? Đã trải qua nhiều đời bị cái gì sai khiến đó ư?
Hôm nay quý vị đã nghe lời này, cần phải hồi quang chiếu phá, tự tỉnh ngộ ba thứ ràng buộc trên đây, chớ nhận chớ luyến chớ tham đắm, giữ phận an định hồn nhiên qua ngày. Lại phải xoay lại niệm đầu, nhằm trên việc sanh tử phấn phát dũng mãnh tinh tấn tìm đến chỗ sáng tỏ. Gần đây trong chúng có nhiều người ngu muội, thường thường do tâm nhỏ hẹp sanh kiến chấp đoạn diệt. Họ cho rằng lìa ngoài ba thứ trên thì không có chỗ nương tựa, do đó trước mắt buông xả chẳng được. Sao không nghĩ thái tử Tất-đạt-đa sanh trong vương cung, thân đủ ba mươi hai tướng tốt, lấy chủng tộc tôn quý làm quyến thuộc, lấy giàu sang trên thiên hạ làm gia nghiệp, so với các ông hơn kém nhiều ít? Thế mà thái tử Tất-đạt-đa trọn không quyến luyến, một hôm bỏ ân cắt ái, cạo tóc hủy hình, trốn vào chốn sâu trong núi Tuyết, thân thể đói khát gân cốt nhọc nhằn, khổ hạnh đến sáu năm để cầu Phật đạo. Sau khi thành đạo quả báo theo đó, ở trong hội Hoa Nghiêm trên tòa trang nghiêm bách bảo, hiện thân tôn đặc công đức vô tận tự tha thọ dụng, ấy là Báo thân. Bốn mươi mốt vị, mỗi vị có vô lượng vi trần số pháp thân Bồ-tát vây quanh thưa hỏi, ấy là Quyến thuộc. Vô biên thế giới Hoa Tạng Hải lớp lớp không cùng lẫn nhau không ngại, đó là Báo độ. Do nơi quả mà xét đến nhân, bởi ngài sớm tỉnh ngộ, phát đại dũng mãnh, dẹp bỏ ba thứ nghiệp ràng buộc, cần khổ tu hành nên hay cảm ba thứ quả báo thù thắng này. Giả sử khi ngài ở vương cung, tham luyến việc trước mắt buông bỏ chẳng được thì đâu có được quả báo trang nghiêm thù thắng như thế. Việc này mỗi người đều có phần, mỗi người đều làm được, bỏ được liền làm được chẳng thiếu một mảy tơ. Kẻ sợ rơi vào Không, phải thấy rõ chỗ này mà thầm tỉnh.
Duy Tắc tôi nhân ngày kỵ Tiên sư, chúng thỉnh phổ thuyết, từ chối không được, bất đắc dĩ mượn tòa Tiên sư vì chúng nêu bày. Tự hổ thẹn bất tài không thể niêm tụng cơ duyên cổ kim, đề trì cương yếu hướng thượng, lại nói ba hoa thao thao, phát ra bao nhiêu lời cạn cợt quê mùa, làm nhục Tiên sư, làm trò cười cho hàng tác gia. Tuy nhiên, nếu là tác gia thì chẳng nên cười, vì:
Một bản nhạc đồng quê,
Vui buồn người tự khác.
(Sư Tử Lâm Thiên Như Hòa Thượng Ngữ Lục – quyển 9)
*
Thiền sư Lương Giới ở Động Sơn.
Thư từ biệt cha mẹ, lược đại ý:
Được nghe chư Phật ra đời đều do cha mẹ mà có thân, muôn loài sanh trưởng thảy nhờ trời đất che chở. Cho nên không có cha mẹ thì chẳng sanh, không có trời đất thì chẳng trưởng, thảy nhờ ơn dưỡng dục, đều thọ đức che chở.
Song mà, tất cả hàm thức, vạn tượng hình nghi đều thuộc vô thường, chưa lìa sanh diệt. Tuy ơn bú sú nặng nề, công nuôi dưỡng sâu thẳm, nếu đem của cải thế gian phụng dưỡng trọn khó đáp đền, dùng máu thịt dâng hiến cũng không được bền chắc. Trong Hiếu Kinh nói: “Dù một ngày giết đôi ba con vật để cung hiến cha mẹ vẫn là bất hiếu. Vì sẽ lôi nhau vào vòng trầm luân chịu muôn kiếp luân hồi.” Muốn đền ơn sâu dày của cha mẹ đâu bằng công đức xuất gia. Vì sẽ cắt đứt dòng sông ái sanh tử, vượt qua khỏi biển khổ, đáp ơn cha mẹ ngàn đời, đền công từ thân muôn kiếp, bốn ơn ba cõi thảy đều đền đáp. Kinh nói: “Một đứa con xuất gia, chín họ đều sanh lên cõi trời.” Con thệ bỏ thân mạng đời này, chẳng trở về nhà, đem căn trần muôn kiếp chóng tỏ sáng Bát-nhã.
Cúi mong cha mẹ mở lòng hỷ xả, ý chớ trông mong, học theo gương phụ vương Tịnh Phạn và thánh mẫu Ma-da. Hẹn đến sau kia sẽ gặp nhau trong hội Phật, còn hiện nay cam chịu lìa nhau. Con chẳng phải quên ơn dưỡng dục, chỉ vì “thời giờ chẳng đợi người”. Cho nên nói: “Thân này chẳng hướng đời này độ, lại đợi đời nào độ thân này?”
Xin cha mẹ lòng chớ nhớ mong.
Tụng rằng:
Vị liễu tâm nguyên độ sổ xuân,
Phiên ta phù thế mạn thuân tuần,
Kỷ nhân đắc đạo Không môn lý,
Độc ngã yêm lưu tại thế trần.
Cẩn cụ xích thư từ quyến ái,
Nguyện minh đại pháp báo từ thân,
Bất tu sái lệ tần tương ức,
Thi tự đương sơ vô ngã thân.
Dịch:
Chưa rõ nguồn tâm qua mấy năm,
Thương thay mê mải luống trị trầm,
Cửa Không đã lắm người đắc đạo,
Riêng ta trì trệ ở trong trần.
Xin viết thư này từ cha mẹ,
Nguyện thông đại pháp báo từ thân,
Chớ nên rơi lệ thường thương nhớ,
Xem tự buổi đầu con không thân.
Thư sau
Con từ lìa cha mẹ chống tích trượng dạo phương Nam, tháng ngày trôi qua thoáng chốc mười năm, trên đường con đã trải qua muôn dặm.
Cúi mong mẹ đem hết tâm ý hướng về Phật pháp, đừng ôm ấp tình ly biệt, chớ đứng tựa cửa trông con. Mọi việc trong nhà tùy thời sắp đặt, việc nhiều thì phiền não thêm nhiều. Phần anh thì nên tận tâm hiếu thuận, học đòi gương Vương Tường nằm giá, còn em thì hết sức bắt chước Mạnh Tông khóc măng. Phàm người ở đời phải biết tu thân hiếu đễ mới hợp lòng trời. Kẻ làm tăng trong cửa không thì mộ đạo tham thiền để đáp ơn cha mẹ.
Ngày nay hai đường xa cách muôn sông ngàn núi, mượn giấy mực viết vài hàng để tỏ bày tấc dạ.
Tụng rằng:
Bất cầu danh lợi bất cầu Nho,
Nguyện nhạo Không môn xả tục đồ.
Phiền não tận thời sầu hỏa diệt,
Ân tình đoạn xứ ái hà khô.
Lục căn giới định hương phong dẫn,
Nhất niệm vô sanh tuệ lực phò.
Vị báo Bắc đường hưu trướng vọng,
Thí như tử liễu thí như vô.
Dịch:
Chẳng cầu danh lợi, chẳng cầu Nho,
Ưa thích cửa Không bỏ thế đồ.
Phiền não hết rồi lửa sầu tắt,
Ân tình dứt bặt, sông ái khô.
Sáu căn giới định gió thơm cuốn,
Một niệm vô sanh sức tuệ phò.
Xin nhắc mẹ già thôi buồn ngóng,
Vi con đã chết, ví như không.
Thư gửi mẹ
Mẹ cùng con đời trước có nhân duyên mới kết thành tình mẹ con. Kể từ ôm thai trong lòng, sớm chiều cầu thần khấn Phật nguyện sanh được con trai. Thai bào đủ tháng mạng sống chỉ mành, sanh con được toại nguyện quý như châu bảo. Không nề phân uế hôi hám, chẳng ngại bú sú nhọc nhằn. Con vừa thành người dắt đến trường học tập. Hoặc khi con đi chơi về trễ, mẹ tựa cửa trông mong.
Con viết thư về quyết xin xuất gia. Cha đã mất, mẹ già, anh yếu em nghèo nàn, mẹ trông cậy vào ai? Con có ý bỏ mẹ, chớ mẹ nào có tâm quên con. Từ khi con cất bước tha phương, ngày đêm mẹ thường rơi lệ. Khổ thay! Khổ thay
Nay con lại thệ chẳng về quê, mẹ cũng tùy chí nguyện của con. Mẹ không dám mong con như Vương Tường nằm giá, Đinh Lan khắc cây, chỉ mong con như tôn giả Mục-liên độ mẹ thoát khỏi trầm luân tiến lên Phật quả. Nếu mẹ không như vậy e phải có tội. Con cần phải giải quyết cho xong.
(Quân Châu Động Sơn Ngộ Bản Thiền Sư Ngữ Lục)
*
Hòa thượng Say
Thượng tọa Pháp Minh ở chùa Khai Nguyên -Hình Châu, là đệ tử thiền sư Báo Bổn Hữu Lan dòng Vân Môn, chưa bao lâu thầm được pháp nhẫn. Sau trở về quê, thích lang thang, thường uống rượu đánh bạc, mỗi lần quá say hát mấy bài Liễu từ, ngày nào cũng thế, dân làng xem thường Sư. Được mời thọ trai Sư cự, mời uống rượu Sư vui. Hơn mười năm như vậy, mọi người đều gọi là Hòa thượng Say. Một hôm Sư bảo chúng trong chùa:
– Sáng mai ta sẽ đi, các ông đừng đi đâu.
Chúng cười thầm. Sáng hôm sau, Sư đắp y lên tòa kêu to:
– Ta đi đây! Nghe ta nói kệ.
Chúng chạy ào đến xem. Sư nói:
Các Giai Thoại Thiền
Bình sinh túy lý điên quyết,
Tuy lý khước hữu phân biệt,
Kim tiêu tửu tỉnh hà xứ?
Dương liễu ngạn, hiểu phong tàn nguyệt.
Dịch:
Bình sinh say sưa té ngã,
Trong say lại có phân biệt,
Tối nay rượu tỉnh đi đâu?
Bờ dương liễu trăng tàn gió sớm.
Nói xong Sư ngồi yên thị tịch, tới lay thì đã đi rồi.
(Phật Tổ Cương Mục – quyển 37)
*
Lưu đạo giả. Sư hiệu Tu Diễn ở chùa Đông Sơn -Dự Chương. Sư đắc pháp với Thạch Môn Khiêm, có kệ rằng:
Vị ngộ chi nhật yếu tham thiền,
Nhất kiến Thạch Môn tiện thản nhiên.
Mông sư chỉ cá chân tiêu tức,
Phương tri diêm hàm thố thị toan.
Dịch:
Ngày chưa ngộ đạo cần tham thiền,
Gặp Thạch Môn rồi liền thản nhiên.
Nhờ sư chỉ rõ tin tức thật,
Mới hay muối mặn giấm chua lè.
Từ đó Sư chuyên tu hạnh đầu-đà, mùa hạ ban đêm thường cởi trần để bố thí máu cho muỗi. Có người đem y cúng dường Sư, Sư cúng cho vị khác. Sư làm kệ:
Tứ thập niên lai thường tiển tục,
Bất thế đầu hề bất tháo dục,
Quận quan vị ngã hoán y sam,
Chỉ khủng bình sinh nguyện bất túc.
Dịch:
Bốn chục năm liền thường chân trần,
Chẳng cạo đầu chừ chẳng tắm thân,
Quan quận vì tôi đổi chiếc áo,
Chỉ ngại chẳng đủ nguyện bình sinh.
Sau Sư ngồi kiết già thị tịch và nhập tháp nguyên trạng.
(Vân Ngọa Kỷ Đàm – quyển thượng)
*
Tăng hỏi Triệu Châu:
– Được nghe Hòa thượng thân thấy Nam Tuyền phải không?
Triệu Châu đáp:
– Trấn Châu sản xuất củ cải to.
Quốc sư Nhất Sơn bình:
La bặc thân tằng xuất Trấn Châu,
Môn tiền thiên cổ lộ du du,
Triều triều mộ mộ nhân lai khứ,
Kỷ cá thân tằng đảo địa đầu.
Dich:
Củ cải chính từng xuất Trấn Châu,
Đường xưa trước cửa tít xa mù,
Chiều chiều sớm sớm người qua lại,
Mấy ai từng đến chốn này đâu!
(Nhất Sơn Quốc Sư Ngữ Lục – quyển thượng)
*
Quốc sư Phật Quang Viên Mãn Thường Chiếu, năm Ất Hợi rũ áo về chùa Năng Nhân núi Nhạn Đăng, Ôn Châu. Năm sau, quân Nguyên kéo đến, chúng đều chạy hết. Sư không đi, một mình ngồi trong chùa. Quân Nguyên lấy dao kề cổ, thần sắc Sư không thay đổi, liền nói kệ:
Càn khôn vô địa trác cô cung,
Hỷ đắc nhân không pháp diệc không,
Trân trọng Đại Nguyên tam xích kiếm,
Điển quang ảnh lý trảm xuân phong.
Dịch:
Không đất cắm dùi khắp càn khôn,
Mừng được người không pháp cũng không,
Xin thỉnh Đại Nguyên ba thước kiếm,
Trong ánh chớp lòe chém xuân phong.
Quân Nguyên nghe xong, hối hận rút lui.
(Phật Quang Quốc Sư Ngữ Lục – quyển 9)
*
Thiền sư Mân ở Viên Thông, Nội hàn Phạm Công đến viếng Sư, Nội hàn than:
– Tuổi sắp già rồi, rơi vào hàng quan lại, cách việc này hơi xa.
Sư liền gọi:
– Nội hàn!
Ông ứng thanh:
– Dạ!
Sư bảo:
– Đâu có xa.
Ông vui mừng nói:
– Xin Thầy chỉ dạy thêm.
Sư nói:
– Đây cách Hồng Đô bốn chặng đường.
Nội hàn suy nghĩ, Sư bảo:
– Thấy thì liền thấy, suy nghĩ là sai.
Nội hàn rất vui, từ đây có chỗ vào.
*
Gián nghị Bành Nhữ Lâm chép kinh Quan Âm đến tặng Sư, Sư đưa lên hỏi:
– Cái này là kinh Quan Âm, cái nào là kinh Gián nghị?
Bành thưa:
– Đây là chính tôi chép.
Sư bảo:
– Chép là chữ, cái nào là Kinh?
Bành cười thưa:
– Lại hiểu không nổi.
Sư bảo:
– Liền hiện thân tể quan mà vì nói pháp.
Bành thưa:
– Người người có phần.
– Chớ chê bai Kinh.
Bành thưa:
– Thế nào là phải?
Sư đưa quyển Kinh lên chỉ ông. Bành vỗ tay cười to nói:
– À!
Sư bảo:
– Vậy mà nói chẳng hiểu nổi!
Bành đảnh lễ.
(Tùng Lâm Thạnh Sự – quyển thượng)
*
Lược truyện Phó đại sĩ
Phó đại sĩ còn gọi là Thiện Huệ đại sĩ. Ngài sanh ngày mùng 8 tháng 5 năm Đinh Sửu, nhằm niên hiệu Kiến Võ năm thứ tư (497 TL) nhà Tề, trong gia đình Phó Tuyên Từ ở làng Song Lâm, làm nghề nông. Ngài tên tục là Hấp, mẹ họ Vương.
Năm mười sáu tuổi, ngài thành hôn với con gái nhà họ Lưu là Diệu Quang. Sau này sanh hai người con trai là Phổ Kiến và Phổ Thành.
Năm hai mươi bốn tuổi, Đại sĩ gặp vị tăng ở Ấn Độ hiệu Tung Đầu-đà bảo ngài rằng:
– Tôi cùng ông đã phát thệ nguyện độ sanh thời Phật Tỳ-bà-thi, nay ở cung Đâu-suất y bát hiện còn, đến bao giờ mới trở về?
Vị tăng liền bảo ngài đến bờ hồ xem bóng sẽ thấy. Ngài xem thấy bảo cái và vòng hào quang của mình, liền ngộ nhân duyên trước. Ngài cười nói với Đầu-đà:
– Trong lò rèn còn nhiều sắt thô, cửa thầy thuốc còn nhiều con bệnh, độ sanh là việc gấp, đâu rảnh mà nghĩ cái vui kia.
Đầu-đà chỉ chỗ hai cây cao vót trên núi Tùng, bảo:
– Nên ở chỗ đó.
Đại sĩ liền dẫn cả gia đình vào núi Tùng, dưới hai cội tùng lớn cất am để hiệu là “Song Lâm thọ hạ đương lai giải thoát Thiện Huệ đại sĩ”. Ở đây Đại sĩ cùng gia đình trồng tỉa lấy mà ăn, ngày làm đêm tu, suốt bảy năm như thế.
Một hôm Đại sĩ đang ngồi yên bỗng thấy ba đức Phật: Phật Thích-ca, Phật Kim Túc, Phật Định Quang từ phương đông đi đến phóng hào quang sáng như ban ngày. Đại sĩ lại thấy hào quang trên trời tụ họp xung quanh ngài. Từ đây về sau có khi Đại sĩ bảo đồ chúng: “Ta được Thủ-lăng-nghiêm Tam-muội” hoặc “ta được Vô lậu trí”. Tăng tục bốn phương nghe tiếng lần lượt kéo đến tụ tập rất đông. Am này trở thành ngôi già lam sung thịnh. Đại sĩ giáo hóa bà Diệu Quang và hai người con đều xuất gia làm tăng.
Đến giữa niên hiệu Đại Thông thứ sáu (534 TL) nhà Lương, Đại sĩ đến triều kiến vua Lương Võ Đế. Một hôm vua thỉnh Đại sĩ giảng kinh Kim Cang. Đại sĩ vừa đăng tòa liền cầm thủ xích vỗ trên bàn một cái rồi xuống. Nhà vua ngạc nhiên. Chí Công tâu:
– Bệ hạ hội chăng?
Vua nói:
– Chẳng hội.
Chí Công tâu:
– Đại sĩ giảng Kinh xong.
*
Một hôm Đại sĩ đầu đội mũ Đạo sĩ, thân mặc ca-sa, chân mang giày Nho đi vào triều. Vua hỏi:
– Là Tăng ư?
Đại sĩ chỉ cái mũ. Vua hỏi:
– Là Đạo sĩ ư?
Đại sĩ chỉ đôi giày. Vua hỏi:
– Là thế tục ư?
Đại sĩ chỉ ca-sa.
Niên hiệu Thái Kiến năm đầu (569 TL) nhà Trần, ngày 24 tháng 4, Đại sĩ quy tịch, thọ 73 tuổi. Những tác phẩm còn lưu lại là: Tứ Thời Thi, Tâm Vương Minh, Hoàn Nguyên Thi, Phù Âu Ca, Hành Lộ Nan, Hành Lộ Dị…
Kệ tụng của Phó đại sĩ
Dạ dạ bão Phật miên,
Triệu triệu hoàn cộng khởi,
Khởi tọa trấn tương tùy,
Ngữ mặc đồng cư chỉ.
Tiêm hào bất tương ly,
Như thân ảnh tương tự,
Dục thức Phật khứ xứ,
Chỉ giá ngữ thanh thị.
Dịch:
Đêm đêm ôm Phật ngủ,
Sáng sáng cùng Phật dậy,
Đứng ngồi thảy theo nhau,
Nói nín đồng tư thái.
Mảy may cũng chẳng rời,
Dường như hình bóng vậy,
Muốn biết chỗ Phật đi,
Chỉ nơi ngôn ngữ ấy.
Kệ pháp thân
Không thủ bả sừ đầu,
Bộ hành kỵ thủy ngưu,
Nhân tùng kiều thượng quá,
Kiều lưu thủy bất lưu.
Dịch:
Tay không cầm cán mai,
Đi bộ lưng trâu ngồi,
Người trên cầu qua lại,
Cầu trôi nước chẳng trôi.
(Phật Tổ Cương Mục – quyển 27, 28)
*
Kinh Kim Cang, Phật nói: “Tri ngã thuyết pháp như phiệt dụ giả, pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp.”
Phó đại sĩ tụng:
Độ hà tu dụng phiệt,
Đảo ngạn bất tu thuyền,
Nhân pháp tri vô ngã,
Ngộ lý cự lao thuyên.
Trung lưu nhưng bị nịch,
Thùy luận tại nhị biên,
Hữu vô như thủ nhất,
Tức bị ô tâm điền.
Dich:
Qua sông, bè phải có,
Đến bờ chẳng dùng thuyền,
Nhân -pháp biết vô ngã,
Ngộ lý nhọc gì bàn.
Giữa dòng vẫn bị đắm,
Ai luận tại hai bên,
Có -không nếu giữ một,
Liền bị nhơ tâm điền.
(Chỉ Nguyệt Lục – quyển 18)
*
Tán dương công đức Lục Tổ và khánh chú phục hưng chùa Nam Hoa
Đại sư Thái Hư
Tôi vừa sang Quảng Châu liền đến Tào Khê, có hai ý:
Nhân vì tùng lâm Thiền tông do một phái Tào Khê truyền khắp thiên hạ, như Thiền tự ở Nhật Bản, Cao Ly đều là Tổ tông nơi Tào Khê. Nhưng từ Lục Tổ về sau, chùa Nam Hoa ở Tào Khê thời gian hưng thịnh thì ngắn, thời gian suy tàn thì dài. Đời Minh đã được đại sư Hám Sơn trùng hưng, hiện nay lại có hòa thượng Hư Vân đến dự định chấn hưng, thật là thịnh hội ngàn năm khó gặp!
Cho nên tôi đến chiêm lễ nhục thân Lục Tổ, đồng thời cũng đến khánh chú đạo tràng Lục Tổ phục hưng. Bởi thế tôi đến đây thật là hướng Hòa thượng và các vị Thủ lãnh chức sự chúc mừng, vốn không có pháp gì để nói. Nhân tại tòa có một số người mới phát tâm thọ giới và tín chúng tại gia các nơi tụ về, đồng nhóm họp tại đạo tràng chân thân Lục Tổ, thật là có nhân duyên thù thắng, cho nên tưởng cũng cần tán thán một điểm quan hệ công đức Lục Tổ, để khởi xướng.
Tại thời Lương Võ Đế, ở Ấn Độ có Trí Dược Tam Tạng đi đường biển sang miền Nam. Trước đây, các học giả Ấn Độ sang Trung Quốc phần lớn đều đi đường Tây Bắc mà đến. Đi từ Nam Hải đến, chỉ có Khương Tăng Hội vào thời Tam quốc, sau này e chỉ có Trí Dược Tam Tạng mà thôi. Trí Dược Tam Tạng lưu nhiều linh tích tại Quảng Đông, trước là trồng một cây bồ-đề tại chùa Quang Hiếu ở Quảng Châu, dự đoán rằng: “Sau một trăm bảy mươi năm sẽ có nhục thân Bồ-tát thế phát thọ giới tại đây.” Sau ngài đến Tào Khê uống nước có vị thơm, liền tìm đến chỗ này lập ngôi chùa Bảo Lâm, cùng ghi lời tiên tri rằng: “Một trăm bảy mươi năm sau có nhục thân Bồ-tát ở đây khai diễn thượng thừa, độ vô lượng chúng, truyền Phật tâm ấn.”
Ở đây nói nhục thân Bồ-tát là Lục Tổ đại sư, trên Phật giáo sử đã sớm chứng thực rồi. Chúng ta nhằm trên công đức hành sự một đời của Lục Tổ, cũng đủ xác tín ngài là một vị đại Bồ-tát ứng thế. Có nhiều người thường cho Lục Tổ xuất thân là một tiều phu dốt nát, bèn cho là Phật giáo hoàn toàn xa lìa văn tự, vì Lục Tổ chẳng cần văn tự mà thông suốt Phật lý. Đâu chẳng biết Lục Tổ tùy thời cơ thị hiện như thế, quyết không phải là dốt nát, mà đã thành tựu vô lượng ngôn ngữ văn tự tam-muội đà-la-ni, không phải những người bác học đa văn, thế trí biện thông ở thế gian có thể so sánh được. Điều này từ chỗ nào để chứng minh? Như trong kinh Pháp Bảo Đàn nói: “Nghe ni Vô Tận Tạng tụng kinh Niết-bàn, liền biết diệu nghĩa.” Lại nghe Pháp Đạt tụng kinh Pháp Hoa đến khai thị ngộ nhập tri kiến Phật, liền suốt được áo chỉ. Nếu chẳng phải đã sâu trồng gốc công đức, trí tuệ như biển thì làm sao được như vậy? Lại ngài nghe người tụng kinh Kim Cang, liền hoát nhiên khai ngộ, cũng là một loại phương pháp ứng cơ thị hiện, vì khi ấy kinh Kim Cang được phổ biến hoằng thịnh ở đời, do đó ngài đến tham lễ Ngũ Tổ, vừa nghe kinh Kim Cang liền khai ngộ. Vì thế, chẳng những ngài truyền Phật tâm ấn, và cũng truyền trì pháp tạng, không riêng gì Lục Tổ như thế, mà từ Ca-diếp về sau đều như vậy cả.
Lại kinh luận Đại Tiểu thừa, tinh mật vi diệu nhất không qua các bộ kinh luận Duy thức, như các kinh Lăng-già, Thâm Mật, Hoa Nghiêm cũng đều như thế, mà bốn quyển Lăng-già truyền Phật tâm ấn, là từ Sơ tổ Đạt-ma trải qua các đời trao truyền. Trong kinh Pháp Bảo Đàn nói: “Có Tỳ-kheo Trí Thông thường xem kinh Lăng-già đến hơn ngàn lần, mà không hiểu tam thân tứ trí, lễ Sư cầu giải nghĩa này.” Khi ấy, Lục Tổ liền vì ông giải đáp: “Ba thân ấy, thanh tịnh pháp thân là tánh của ông, viên mãn báo thân là trí của ông, thiên bá ức hóa thân là hạnh của ông.” Sơ sài vài câu thế ấy, liền bao trùm được nghĩa tam thân trong tất cả các kinh luận đã nói không sót. Bởi ngài ngay Người hiện tại rõ ba thân, nên nói: “Nếu lìa bản tánh riêng nói ba thân, liền gọi là thân không trí.” Vì từ bản nhân mà nói ba thân, mới hiển bày Phật pháp bình đẳng. Học Phật là việc bổn phận của mỗi người. Nếu không từ tự tánh nói ba thân thì, ba thân dường như hoàn toàn thuộc trên Phật quả của người khác mà có, đâu không phải chính ta lại vô phần hay sao? Cho nên khảo sát chư cổ đức đối kinh luận giải nghĩa ba thân, chưa có vị nào nêu bày sáng sủa bằng.
Trí Thông đã rõ Tam thân, liền hỏi nghĩa Tứ trí thế nào? Tổ bảo: “Đã hiểu ba thân liền rõ tứ trí, nếu lìa ba thân riêng nói tứ trí, đây gọi là có trí không thân.” Đó là hiển bày lý thân trí không hai, cùng với Thành Duy Thức luận, Phật Địa Kinh luận nói lý tam thân tứ trí rất giống nhau. Bởi vì pháp thân tức là lý thể pháp thân thành tựu. Thành Duy Thức luận nói: “Trong phần tứ trí công đức chân thật, Cảnh trí khởi lên thường khắp sắc thân, nhiếp tự thọ dụng. Bình đẳng trí hiện ra Phật thân, nhiếp tha thọ dụng. Thành sự trí hiện ra các thứ thân tướng tùy loại, nhiếp biến hóa thân.” Trong đây đã nói rõ sự xen lẫn quan hệ của Tam thân và Tứ trí, đến như diệu dụng của Diệu quan sát trí tức là xem cơ nói pháp. Cho nên biết Tam thân chẳng lìa Tứ trí, Tứ trí chẳng rời Tam thân, nghĩa này rất sâu!
Phật thường tự nói: “Ta đối phàm ngu chẳng khai diễn”, mà bị Lục Tổ mấy câu phá xong. Nên biết Lục Tổ là bậc đại thánh Bồ-tát ứng hiện, nếu thật là người dốt nát thì làm sao đối với học lý cao thâm của Duy thức mà có trình độ thấy được như thế? Vả lại, ngài còn nói kệ tụng giản lược rõ ràng và khái quát thâm nghĩa chuyển thức thành trí. Kệ rằng:
Đại viên cảnh trí tánh thanh tịnh,
Bình đẳng tánh trí tâm vô bệnh,
Diệu quan sát trí kiến phi công,
Thành sở tác trí đồng Viên cảnh.
Ngũ bát, lục thất quả nhân chuyển,
Đản chuyển danh ngôn vô thật tánh,
Nhược năng chuyển xứ bất lưu tình,
Phồn hưng vĩnh xứ Na-già định.
Đại viên cảnh trí tánh thanh tịnh là, khi thức thứ tám a-lại-da đến quả vị Phật chuyển thành Đại viên cảnh trí, liền xả bỏ hết tất cả pháp sanh tử hữu lậu và vô lậu, cùng pháp giới bình đẳng thanh tịnh tương ưng, vô lậu hữu vi vô vi được tròn sáng triệt để. Song pháp giới thanh tịnh vẫn là tự tánh sẵn vậy, chúng sanh Phật bình đẳng, mà chúng sanh mê nên ở trong đó vọng có sanh tử điên đảo lưu chuyển, vì chư Phật ngộ liền tương ưng như như, chuyển thành Đại viên cảnh trí, pháp thân cứu cánh thanh tịnh.
Bình đẳng tánh trí tâm vô bệnh là, chúng sanh chúng ta sở dĩ có các thứ bệnh sanh-già-bệnh-chết, nó kết tụ bởi “vô minh, hữu ái”. Trong kinh Duy-ma-cật nói: “Vô minh, hữu ái này thật là căn nguyên các bệnh của thân tâm.” Nói rộng ra, thức thứ bảy luôn luôn tương ưng với ngã si, ngã ái, ngã kiến, ngã mạn bốn thứ căn bản phiền não. Bởi vì thức mạt-na thứ bảy ở nhân địa nhiễm ô, mê muội không có trí, thường thường chấp kiến phần thức thứ tám làm tự nội ngã, đây là cái ngã si mà người ngu không thể đạt đến, do ngu si không rõ chân thức thứ tám, vọng khởi chấp ngã kiến, y đó liền khởi tham trước nên có ngã ái, bởi ngã ái nên cao mình lấn người, thành có ngã mạn. Do bốn thứ phiền não này theo đuổi nơi tâm, nên vô lượng phiền não đều nhân đó mà khởi, thành có tâm bệnh. Nếu đem tâm bệnh trên thức thứ bảy dẹp bỏ, tâm bệnh tự nhiên thuyên giảm. Bình đẳng tánh trí cũng tự nhiên hiện bày. Thế nên dùng ba chữ tâm vô bệnh, để hiển bày bình đẳng tánh trí thật là ách yếu.
Diệu quan sát trí kiến phi công là, thông thường nhiều người cho Diệu quan sát trí là do trí phân biệt kiến giải khởi lên, song thật Diệu quan sát trí là vô phân biệt trí, thuần túy, nếu có phân biệt năng quán sở quán, kiến phần tướng phần liền rơi vào cái quán tưởng bất diệu của điên đảo phân biệt, trở thành chướng ngại vật của Diệu quan sát trí. Vô phân biệt trí tức là Bát-nhã diệu tuệ, do văn tự Bát-nhã đến quán chiếu Bát-nhã, do quán chiếu Bát-nhã đến thật tướng Bát-nhã tức là đến cảnh giới vô phân biệt trí. Chỉ ban đầu do văn tự giáo lý mà khởi quán chiếu, giáo lý này cũng là giáo lý vô phân biệt, quán chiếu này cũng là quán chiếu vô phân biệt. Song hai vị này thảy ở trên năng sở đối đãi, mục tiêu của nó là cầu chứng vô phân biệt trí, nên khởi gia hạnh vô phân biệt trí, chính quán chiếu Bát-nhã cũng thành vô phân biệt. Từ đây lại tiến lên chứng được thật tướng Bát-nhã tức căn bản vô phân biệt trí, liền cùng vô phân biệt tánh thể, như như tương ưng, lý trí không hai, năng sở cả hai đều mất, mới là căn bản vô phân biệt trí. Do căn bản vô phân biệt trí này, sanh khởi Hậu đắc trí, Gia hạnh trí, đều là vô phân biệt trí, chính đây là Diệu quan sát trí. Vì thế, Diệu quan sát trí nếu ở trong phân biệt kiến thì không phải Diệu quan sát trí, cho nên nói kiến phi công. Phải do vô phân biệt trí rỗng sạch hết tất cả kiến phân biệt, như hư không tan nát, đại địa chìm lặn, trọn không sở đắc thì Diệu quan sát trí mới hiển hiện. Thế nên dùng kiến phi công hiển bày Diệu quan sát trí, chỗ ách yếu này trong các luận thích không thể nói được.
Thành sở tác trí đồng Viên cảnh là, vì năm thức trước ở trong nhân vị, cùng thức thứ tám đồng hiện lượng tánh cảnh, nếu trên cái kiến văn giác tri chẳng rơi vào Độc đầu ý thức, trọn cùng thức thứ tám một loại duyên hiện lượng tánh cảnh. Chỉ bình thường chưa cùng Đại viên cảnh trí tương ưng thì không có diệu dụng, phải đợi thức thứ tám chuyển thành Đại viên cảnh trí, vô cấu thức hiện ngũ căn thanh tịnh, năm thức trước cũng theo đó chuyển thành Thành sở tác trí thanh tịnh, nên nói đồng Viên cảnh.
Ngũ bát, lục thất quả nhân chuyển, đản chuyển danh ngôn vô thật tánh, là năm thức trước cùng thức thứ tám chuyển thành trí là ở trên quả vị, thức thứ sáu cùng thức thứ bảy chuyển thức thành trí là ở trên nhân vị. Chỗ này ở trong các kinh luận Duy thức có thuyết minh rõ ràng, Lục Tổ dùng một câu khéo hay khái quát nghĩa đó. Chỉ nói chuyển là chuyển xả danh ngôn tập khí của Biến kế phân biệt trên Y tha khởi tánh. Danh ngôn tập khí này, trong ngũ pháp là: danh, tướng, phân biệt. Do danh ngôn tập khí này, nên từ thức thứ tám hiện khởi các thứ nhiễm pháp sanh diệt lưu chuyển. Nói chuyển thức thành trí, tức là chuyển danh ngôn tập khí các thứ hư vọng phân biệt nhiễm pháp trên Y tha khởi tánh này, trở thành tịnh trí thuần túy vô lậu, chẳng có một vật thật có thể chuyển. Thật tánh là chỉ bình đẳng pháp thân, từ xưa đến nay chẳng tăng chẳng giảm, chẳng cấu chẳng tịnh, không động không dao, không chuyển không chẳng chuyển, tuy nói ngũ bát, lục thất quả nhân chuyển, chỉ chuyển pháp sanh diệt, mà Thành thật tánh này vốn không chuyển biến. Cốt yếu ở chuyển xứ bất lưu tình, ngay đó liền đồng Phật quả.
Phồn hưng vĩnh xứ Na-già định là, đi đứng ngồi nằm nói nín động tịnh đều là sinh hoạt ở trong định tuệ. Na-già là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Long, dụ Phật là rồng trong loài người, thường ở trong định, nên nói: “Na-già thường tại định, không có khi nào chẳng định.” Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền, tìm tướng bốn oai nghi trọn không thể được, trụ nơi Vô trụ Đại Bát-niết-bàn, tịch mà thường dụng, dụng mà thường tịch, thường thường ứng cơ hiện thân nói pháp mà thường thường không tướng có thể được, thường thường không tướng có thể được mà thường thường ứng cơ nói pháp, tột mé vị lai không có cùng tận.
Lục Tổ nói chuyển bát thức thành tứ trí, cốt yếu trở về trên bản thân của mỗi người, cốt yếu mỗi người ngay chỗ chuyển chẳng lưu phàm tình, là thực hiện vô phân biệt vô trụ tướng tứ trí Bồ-đề Niết-bàn. Hành sự theo nhật dụng bình thường đều là an trụ trong tứ trí Bồ-đề, thế ấy mà ai được thân thiết liền biết thú vị. Cho nên Lục Tổ chẳng những không dốt nát mà là đủ đại trí tuệ, đầy đủ văn tự ngôn ngữ tam-muội, thật không phải người phàm có thể đo lường được. Tóm lại Phật pháp là việc trên bổn phận mỗi người, nếu đối bổn phận rõ suốt thì, tam tạng mười hai bộ Kinh cũng chẳng qua chú giải trên bổn phận của chính mình, của mỗi người mà thôi. Phật thuyết pháp độ sanh cũng từ trên bổn phận của chính mình thị hiện nói pháp độ sanh. Khi này Lục Tổ ứng hóa thị hiện, cũng đâu chẳng phải việc trên bổn phận của chính mình? Cho nên Phồn hưng vĩnh xứ Na-già định, cũng có thể nói Na-già định vĩnh phồn hưng dụng.
Hiện nay chúng ta tất cả người vật ở trong đạo tràng Lục Tổ, đâu chẳng phải là Lục Tổ phồn hưng đại dụng kiến lập, đâu không phải là pháp thân công đức đẳng lưu của Lục Tổ thị hiện. Như đại sư Hám Sơn vẫn là công đức của Lục Tổ thị hiện, chính nay Lão hòa thượng Hư Vân nhận lời thỉnh của tứ chúng ở Quảng Đông đến trùng hưng đạo tràng này cũng là Lục Tổ hiện thân không khác. Thế nên, quan sát thể nghiệm công đức Lục Tổ thì, công đức Lục Tổ đầy khắp chỗ này, tất cả chúng ta ở trong đạo tràng của Lục Tổ, đều cùng Lục Tổ thân thiết tương ưng đương thể không khác Lục Tổ.
Hiện nay, các vị mới phát tâm thọ giới ở đây phải biết nghĩa lý lời nói của Lục Tổ “tâm địa không lỗi tự tánh giới”. Khi thọ giới tuy có tam sư thất chứng, cùng với các phương pháp nghi thức, cốt yếu tất cả giới pháp đều từ pháp thân Phật Thích-ca-mâu-ni đẳng lưu mà ra, pháp thân và sanh thân không hai, xưa nay tự tánh thanh tịnh, tự tánh thanh tịnh tức là giới thể. Cho nên thọ giới là chẳng từ người khác được, chính do tự tánh vô cấu tâm của mỗi người làm giới thể thanh tịnh, mới gọi là đắc giới. Mỗi người đắc tự tánh giới, tức đồng Lục Tổ tự tánh giới. Nhưng những người thọ giới tại đây cũng phải biết các nhân vật Hòa thượng, Giới sư, Dẫn lễ sư v.v… đều từ công đức Lục Tổ đẳng lưu thị hiện. Thành tựu tất cả công đức như thế thì đạo tràng Tam bảo này được thành tựu, là phước điền chân chánh của trời người.
(Thái Hư Toàn Thư – quyển 7 )
Mã Tổ sai thiền sư Phục Ngưu mang thư sang Quốc sư Huệ Trung. Quốc sư hỏi:
– Gần đây Mã Tổ dạy đồ chúng thế nào?
Phục Ngưu đáp:
– Tức tâm tức Phật.
– Là lời nói gì?
Giây lâu lại hỏi:
– Ngoài cái đó lại có gì dạy chúng?
– Chẳng phải tâm chẳng phải Phật, hoặc nói chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật.
– Cũng tạm được.
– Mã đại sư thế ấy, chẳng biết dạo này Hòa thượng dạy chúng thế nào?
Tam điểm như lưu thủy
Khúc tự ngải hòa liêm.
Dịch:
Ba điểm như nước chảy
Khúc cong tợ lưỡi liềm.
(Ngũ Đăng Hội Nguyên – quyển 3)
Nam Tuyền đi ngang phòng tắm, thấy Trưởng phòng đang nấu nước, hỏi:
– Làm gì?
Trưởng phòng thưa:
– Nấu nước.
– Nhớ kêu con trâu đực đi tắm nghe!
– Dạ!
Đến chiều Trưởng phòng vào phương trượng, Nam Tuyền hỏi:
– Làm gì?
Trưởng phòng thưa:
– Mời con trâu đực đi tắm.
Nam Tuyền hỏi:
– Có đem dây mũi theo không?
Trưởng phòng không đáp được.
Kịp Triệu Châu đến phương trượng thăm hỏi. Nam Tuyền thuật lại Triệu Châu nghe. Triệu Châu thưa:
– Con có câu đáp.
Nam Tuyền hỏi:
– Có đem dây mũi theo không?
Triệu Châu lại gần Nam Tuyền, nắm lỗ mũi kéo.
Nam Tuyền bảo:
– Phải thì phải, song rất thô.
(Cổ Tôn Túc Ngữ Lục – quyển 13)
*
Có vị tăng hiệu Sư Tổ đến hỏi Nam Tuyền:
– Ma-ni châu nhân bất thức, Như Lai tàng lý thân thâu đắc (Châu ma-ni người không biết, trong Như Lai tàng tự nhận được). Thế nào là tàng?
Nam Tuyền bảo:
– Vương lão sư cùng ông qua lại, ấy là tàng.
Sư hỏi:
– Nếu như không qua lại thì thế nào?
Nam Tuyền bảo:
– Cũng là tàng.
Sư hỏi:
– Thế nào là châu?
Nam Tuyền gọi: -Sư Tổ!
Sư: -Dạ!
Nam Tuyền bảo:
– Đi! Ngươi không hiểu ý ta.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 20)
*
Quy Sơn dạy chúng:
– Bậc cao sĩ đi hành cước, cần phải trong thanh sắc mà ngủ nghỉ, trong thanh sắc mà nằm ngồi mới được.
Sơ Sơn bước ra hỏi:
– Thế nào là câu chẳng rơi trong thanh sắc?
Quy Sơn dựng cây phất tử lên. Sơ Sơn thưa:
– Đây là câu rơi trong thanh sắc.
Quy Sơn trở về phương trượng.
Sơ Sơn đến từ giã Hương Nghiêm đi nơi khác. Hương Nghiêm hỏi:
– Sao chẳng ở đây?
Sơ Sơn đáp:
– Tôi không có duyên với Hòa thượng.
Hương Nghiêm hỏi lý do. Sơ Sơn kể lại lời trước. Hương Nghiêm bảo:
– Tôi có một câu.
Sơ Sơn bảo:
– Nói ra xem.
Hương Nghiêm nói:
– Nói ra chẳng phải tiếng, sắc trước mặt chẳng phải vật
Sơ Sơn nói:
– Hóa ra ở đây có người.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 39)
*
Quy Sơn ngồi tại pháp đường, Tri khố đánh bảng. Trưởng trù ném củi vào lò, vỗ tay cười to. Quy Sơn bảo:
– Trong chúng cũng có người thế ấy.
Bèn gọi lại hỏi:
– Ông làm gì?
Trưởng trù thưa:
– Con khi sáng không ăn cháo, bụng đói, nghe bảng mừng quýnh.
Quy Sơn gật đầu.
(Quy Sơn Linh Hựu Thiền Sư Ngữ Lục)
*
Tăng hỏi Triệu Châu:
– Chỉ đạo vô nan, duy hiềm giản trạch. Thế nào được chẳng giản trạch?
– Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn.
– Đây vẫn là giản trạch.
– Kẻ quê mùa! Giản trạch chỗ nào?
(Thiền Lâm Loại Tụ – quyển 5)
*
Tăng hỏi Đức Sơn:
– Thế nào là việc kỳ đặc trong Tông môn?
Đức Sơn đáp:
– Tông ta không ngữ cú, không một pháp cho người.
(Cổ Tôn Túc Ngữ Lục – quyển 29)
*
Tăng hỏi Tuyết Phong:
– Hòa thượng gặp Đức Sơn được cái gì liền trở về?
Tuyết Phong đáp:
– Ta khi ấy đi tay không về tay không.
(Cổ Tôn Túc Ngữ Lục – quyển 29)
*
Thiền sư Mông Khê hỏi tăng:
– Thượng tọa ở đâu đến?
Tăng thưa:
– Từ Định Châu đến.
– Định Châu gần đây có việc gì kỳ đặc?
– Con khi sáng đi qua đó chỉ nghe nói muối mắc, gạo rẻ, trọn không có việc gì kỳ đặc.
– Ta ở đây cũng thế thôi, chỉ là cháo thô cơm lạt cùng thiền tăng tùy phần qua thời, cũng không có việc kỳ đặc. Ông lại tới đây tìm cái gì?
Tăng thưa:
– Con chẳng hội.
– May là ông không hội, nếu ông hội liền bị thâu hết nửa đạo lý.
(Chỉ Nguyệt Lục – quyển 9)
*
Tăng hỏi Động Sơn:
– Thế nào là hạnh Sa-môn?
Động Sơn đáp:
– Từ nhỏ nuôi một đứa bé, đầu dài ba thước, cổ ngắn hai tấc,(1) cho đến ngày nay chẳng thế ấy.
Tăng đem câu ấy hỏi Tào Sơn, Tào Sơn bảo:
– Xà-lê tự nói xem.
Tăng thưa:
– Đâu không giải quyết việc?
Tào Sơn gọi: -Xà-lê!
Tăng: – Dạ!
Tào Sơn bảo:
– Vừa rồi hỏi việc gì? Đem thước tấc đến đây xem.
Tăng không đáp được.
Người sau làm kệ:
Đầu trường hạng đoản thị thùy nhan?
Vấn trước toàn nhân cảm diện khan.
Tùng thử hoài tàm trường yểm hộ,
Bất tương tiêu tức đảo nhân gian.
Dịch:
Đầu dài cổ ngắn mặt mày ai?
Hỏi hết mọi người dám nhận xem.
Từ đó thẹn lòng thường đóng cửa,
Chẳng đem tin tức đến nhân gian.
(Trùng Biên Tào Động Ngũ Vị – quyển thượng)
*
Tăng hỏi thiền sư Thanh Khoát:
– Khi nhà nghèo bị cướp thì thế nào?
Tào Sơn đáp:
– Không thể lấy hết.
– Tại sao không thể lấy hết?
– Vì cướp là người thân trong nhà.
– Đã là người thân trong nhà vì sao trở thành kẻ cướp?
– Nếu ở trong không ứng thì bên ngoài làm gì được.
– Bỗng nhiên bắt được thì thế nào?
– Trong ngoài bặt tin tức.
– Khi bắt được công về chỗ nào?
– Thưởng cũng chưa từng nghe.
– Thế ấy thì nhọc mà không công?
– Công thì chẳng không, thành mà chẳng trụ.
– Đã thành tại sao chẳng trụ?
– Đâu chẳng nghe nói:
Thái bình uốn do công tướng quân
Chẳng cho tướng quân thấy thái bình.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 47)
*
Mục Châu dạy chúng:
– Đại sự chưa sáng như đưa ma cha mẹ, đại sự đã sáng như đưa ma cha mẹ.
Thanh Phong Sở bình rằng:
Bất đắc xuân phong hoa bất khai,
Cập chỉ hoa khai hựu xuy lạc.
Dịch:
Chẳng có gió xuân hoa chẳng nở,
Đến khi hoa nở lại thổi rơi.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 23)
*
Tam Bình hỏi thị giả:
– Ông họ gì?
Thị giả thưa:
– Cùng Hòa thượng đồng họ.
– Ta họ gì?
– Câu hỏi ở đâu?
– Từng hỏi ông bao giờ?
– Họ ấy là gì?
– Nghĩ ông là kẻ sơ cơ tha ông ba mươi gậy.
(Niêm Bát Phương Châu Ngọc Tập – quyển thượng)
Có vị tăng đi tham vấn hòa thượng Mễ Hồ, trên đường gặp một bà già. Tăng hỏi bà:
– Bà có quyến thuộc chăng?
– Có.
– Ở chỗ nào?
– Sơn hà đại địa, hoặc cỏ hoặc cây đều là quyến thuộc của tôi.
– Bà đã từng làm Sư cô chăng?
– Thầy thấy cái gì?
– Người thế tục.
– Thầy đâu chẳng phải là tăng?
– Bà chớ lẫn lộn Phật pháp.
– Tôi chẳng làm lẫn lộn Phật pháp.
– Bà thế ấy đâu không lẫn lộn Phật pháp?
– Thầy là nam, tôi là nữ, lẫn lộn chỗ nào?
(Niêm Bát Phương Châu Ngọc Tập – quyển hạ)
*
Có vị tăng đi tham vấn hòa thượng Phúc Thuyền, trên đường gặp một ông già bán muối. Tăng hỏi:
– Đến Phúc Thuyền đi đường nào?
Ông già lặng thinh giây lâu. Tăng lại hỏi:
– Đến Phúc Thuyền đi đường nào?
Ông già bảo:
– Ông điếc sao?
– Ông nói với tôi cái gì?
– Nói với ông con đường Phúc Thuyền.
– Ông hội thiền chăng?
– Chớ nói thiền, Phật pháp cũng hội hết.
– Ông thử nói xem?
Ông già xới muối lên. Tăng nói:
– Khó.
– Thầy gọi cái gì?
– Muối.
– Có gì dính dáng?
– Phải nói thế nào?
– Chẳng thể lại nói với Thầy là muối.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 72)
*
Tăng hỏi hòa thượng Thạch Cựu:
– Thế nào là hạt châu trong tay Địa Tạng?
Thạch Cựu đáp:
– Trong tay ông lại có chăng?
– Chẳng hội.
– Ông chớ dối đại chúng.
Ngài tụng:
Bất thức tự gia bảo,
Tùy tha nhận ngoại trần,
Nhật trung đào ảnh chất,
Cảnh lý thất đầu nhân.
Dịch:
Báu nhà mình chẳng biết,
Theo người nhận ngoại trần,
Giữa trưa chạy trốn bóng,
Kẻ nhìn gương mất đầu.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 14)
*
Thiền sư Tùng Chí ở Kim Phong, có vị tăng hỏi:
– Thân này vô tri như đất gỗ ngói đá, còn ý này thế nào?
Sư bước xuống giường thiền nắm lỗ tai vị tăng vặn mạnh. Tăng đau điếng la thất thanh. Sư nói:
– Ngày nay mới bắt gặp kẻ vô tri.
Tăng lễ bái lui ra. Sư gọi:
– Xà-lê!
Tăng xoay đầu ngó lại. Sư bảo:
– Nếu đến nhà tăng không nên thuật lại.
Tăng hỏi:
– Vì sao?
Sư bảo:
– Sẽ có nhiều người cười Kim Phong tâm lão bà.
(Thiền Tông Chính Mạch – quyển 7)
*
Thiền sư Thạch The (cháu Nam Tuyền), thị giả mời đi tắm. Sư bảo:
– Đã chẳng rửa bụi, cũng chẳng rửa lợn, tắm làm gì?
Thị giả thưa:
– Hòa thượng đi trước, con đem xà phòng đến sau.
Sư cười.
Một hôm thấy thị giả ôm bát đi đến trai đường, Sư hỏi:
– Đi đâu?
Thị giả thưa:
– Con đến trai đường.
Sư bảo:
– Ta đâu không biết ngươi đi đến trai đường?
– Trừ ngoài việc này, riêng nói cái gì?
-Ta chỉ hỏi việc bổn phận của ngươi.
– Nếu hỏi việc bổn phận, con thật đi đến trai đường.
– Không hổ là thị giả của ta.
(Phật Tổ Cương Mục – quyển 33)
*
Thiền sư Bổn Nhân ở viện Bạch Thủy (đệ tử Động Sơn) nói:
– Trong con mắt dính cát chẳng được, trong lỗ tai dính nước chẳng được.
Tăng hỏi:
– Tại sao trong con mắt dính cát chẳng được?
Sư đáp:
– Hợp chân không sánh.
– Tại sao trong lỗ tai dính nước chẳng được?
– Trắng sạch không nhơ.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 64)
*
Tú tài Trương Chuyết đến hỏi đạo Thạch Sương, thấy Thạch Sương thân thể gầy ốm, nói năng bình dị, ông không thích bỏ đi. Đến liêu Tri khách gặp điển tọa Thiền Nguyệt, Tề Kỷ, Thái Bố Nạp nghị luận thao thao. Trương Chuyết nói:
– Trong ba vị đây nên chọn một vị làm trưởng lão. Thiền Nguyệt biết ý Trương Chuyết khinh Thạch Sương, bèn bảo:
– Trong chùa này có năm trăm chúng, tương tự với tệ tăng có hai trăm năm mươi vị, hơn tệ tăng có hai trăm năm mươi vị, còn Hòa thượng đường đầu là nhục thân Bồ-tát.
Trương Chuyết nghe rồi mới nghiêm chỉnh oai nghi đến hỏi đạo Thạch Sương. Thạch Sương thấy ông đến liền hỏi:
Ông tên gì?
Trương Chuyết thưa:
– Trương Chuyết.
Thạch Sương bảo:
– Tìm xảo còn không có huống là chuyết. Trương Chuyết liền ngộ, trình kệ:
Quang minh tịch chiếu biến hà sa,
Phàm thánh hàm linh cộng ngã gia.
Nhất niệm bất sanh toàn thể hiện,
Lục căn tài động bị vân già.
Dục trừ phiền não trùng tăng bệnh,
Thú hướng chân như tổng thị tà.
Tùy thuận chúng duyên vô quái ngại,
Niết-bàn sanh tử đẳng không hoa.
Dịch
Sáng soi lặng lẽ khắp hà sa,
Phàm thánh hàm linh chung một nhà.
Một niệm chẳng sanh toàn thể hiện,
Sáu căn vừa động bị che lòa.
Muốn trừ phiền não càng thêm bệnh,
Hướng đến chân như thảy đều tà.
Tùy thuận các duyên không quái ngại,
Niết-bàn sanh tử thảy không hoa.
(Tục San Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu – quyển 2)
*
Tam Thánh Huệ Nhiên đến hỏi đạo thiền sư Trường Sa:
– Thế nào là mặt trăng thứ hai?
Trường Sa đáp:
– Chẳng thật có.
Tam Thánh lễ bái.
Trường Sa nói tụng:
Dã đại kỳ, đã đại kỳ!
Nhất nguyệt chân trung lưỡng nguyệt nghi.
Kiến dữ kiến duyên vô tự tánh,
Tịch thường thùy thị phục thùy phi?
Dịch:
Thật kỳ thay! Thật kỳ thay!
Trong một trăng thật nghi có hai.
Thấy và bị thấy không tự tánh,
Thường lặng thì ai đúng ai sai?
(Niêm Bát Phương Châu Ngọc Tập – quyển trung)
*
Thiền sư Duyên Quán ở Lương Sơn, thầy Tri viên hỏi:
– Khi giặc nhà khó giữ thì thế nào?
Sư đáp:
– Biết được chẳng phải oan gia.
– Sau khi biết được thì sao?
– Đày đến nước vô sanh.
– Đâu không phải chỗ y an thân lập mạng?
– Nước chết không chứa được rồng.
– Thế nào là nước sống chứa rồng?
– Dậy mòi mà không thành sóng.
– Bỗng khi đầm nghiêng núi đổ thì thế nào?
Sư bước xuống giường thiền nắm đứng lại bảo:
– Chớ nói ướt góc cà-sa của lão tăng.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 68)
*
Tăng hỏi thiền sư Lạc Phố:
– Cúng dường trăm ngàn đức Phật không bằng cúng dường một đạo nhân vô tâm. Chưa biết trăm ngàn đức Phật có lỗi gì? Đạo nhân vô tâm có đức gì?
Sư đáp:
Nhất phiến bạch vân hoành cốc khẩu
Kỷ đa quy điểu tận mê sào.
Dịch:
Một áng mây trắng che cửa hang
Bầy chim bay về đều quên tổ.
Có vị tăng khác hỏi:
– Khi con nghĩ trở về quê thì sao?
Sư đáp:
– Nhà tan người mất ngươi trở về chỗ nào?
– Thế ấy thì không trở về?
Đình tiền tàn tuyết nhật luân tiêu
Thất nội du trần khiển thùy tảo?
Dịch:
Mặt trời lên tan tuyết trước sân
Ai quét được bụi vờn trong thất?
Sư nói tụng:
Quyết chí quy hương khứ,
Thừa chu phiếm Ngũ hồ.
Cử cao tinh nguyệt ẩn,
Đình trạo nhật luân cô.
Giải lãm ly tà ngạn,
Trương phàm xuất chánh đồ.
Đáo lai gia đãng tận,
Miễn tác ốc trung ngu.
Dịch:
Quyết chí trở về quê,
Thuyền con dạo Ngũ hồ.
Giở chèo trăng sao lặn,
Dừng chèo trời giữa trưa.
Nhổ neo rời bờ vạy,
Giương buồm nhắm đường ngay.
Về đến nhà hết sạch,
Khỏi làm kẻ quê mùa.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 65)
*
Tăng hỏi thiền sư Cư Tuần ở Long Nha:
– Trong mười hai giờ dụng sức thế nào?
Sư đáp:
– Như người không tay muốn đánh.
*
Có vị tăng khác hỏi:
– Người xưa được cái gì liền thôi?
Sư đáp:
Như giặc vào nhà trống.
(Chỉ Nguyệt Lục – quyển 18)
*
Huyền Sa ăn trái vải, hỏi chúng:
– Trái vải này vì sao mà ửng hồng, trái vải kia vì sao mà đỏ tươi? Tất cả các ông hãy nói vì sao. Nếu nói một màu bèn thành lộn xộn. Nếu nói nhiều màu thì thành đoạn thường. Các ông phải làm sao?
Ngạn Thao thưa:
– Cũng chỉ tại Hòa thượng phân biệt.
Sư bảo:
– Đây là lộn xộn ngu si có dính dáng gì đâu?
Trùng Cơ thưa:
– Đại khái chỉ là một màu.
Sư bảo:
– Thảy đồng lộn xộn, có khi nào liễu ngộ!
Sư xoay lại hỏi Kiểu Nhiên:
– Ngươi nói thế nào?
Kiểu Nhiên thưa:
-K hông thể chẳng biết trái vải.
Sư nói:
– Chỉ là trái vải.
(Huyền Sa Sư Bị Thiền Sư Quảng Lục – quyển trung)
*
Tăng hỏi Vân Môn:
– Thế nào là pháp thân?
Sư đáp:
-Sáu chẳng thâu.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 48)
*
Vị tăng khác hỏi Vân Môn:
– Chẳng khởi một niệm lại có lỗi hay không?
Sư đáp:
– Núi Tu-di.
Sư nói kệ:
Cử bất cố
Tức sai hỗ
Nghĩ tư lương
Hà kiếp ngộ?
Dịch:
Nếu chẳng đoái
Liền sai lẫn
Toan nghĩ suy
Bao giờ ngộ?
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 49)
Huyền Sa dạy chúng:
– Những bậc lão túc ở các nơi nói là tiếp vật lợi sanh, bỗng gặp người có ba thứ bệnh đến làm sao tiếp? Mù thì cầm chùy dựng phất y chẳng thấy, điếc thì ngữ ngôn tam-muội y chẳng nghe, câm thì dạy y nói lại nói chẳng được, phải làm sao tiếp? Nếu tiếp không được người này thì Phật pháp không còn linh nghiệm.
Có vị tăng đem việc trên hỏi Vân Môn. Vân Môn bảo:
– Ông lễ bái đi.
Tăng lễ bái đứng dậy. Vân Môn lầm gậy đẩy tới. Tăng lùi lại sau. Vân Môn bảo:
– Ông chẳng phải bệnh mù.
Vân Môn gọi:
– Lại gần đây.
Tăng lại gần. Vân Môn bảo: -Ông chẳng phải bệnh điếc.
Vân Môn dựng gậy lên, hỏi:
– Hội chăng?
Tăng thưa:
– Chẳng hội.
Vân Môn bảo:
– Ông chẳng phải bệnh câm.
Tăng liền tỉnh ngộ.
(Thiền Lâm Loại Tụ – quyển 13)
*
Thiền sư Quy Tỉnh, có vị tăng vào thất hỏi về “Cây bá trước sân” của Triệu Châu. Sư bảo:
– Tôi chẳng tiếc nói cho ông, ông tin chăng?
Tăng thưa:
– Lời của Hòa thượng quý trọng, con đâu dám chẳng tin.
Sư bảo:
– Ông nghe giọt mưa rơi mé thềm chăng?
Vị tăng bỗng nhiên khai ngộ, bất giác thốt lên:
– Chao!
Sư hỏi:
– Ngươi thấy đạo lý gì?
Tăng nói kệ đáp:
Thiềm đầu thủy đích
Phân minh lịch lịch,
Đả phá càn khôn
Đương hạ tâm tức.
Dịch:
Giọt mưa mê thềm
Rõ ràng từng giọt,
Đập nát càn khôn
Liền đó tâm dứt.
Sư vui vẻ.
*
Có thiền khách hỏi:
– Con định ngày mai vào đế kinh. Khi đế vương chẳng đoái thì sao?
Sư đáp tụng rằng:
Nhất niên xuân tận nhất niên xuân,
Xúc nhật vô tư biến càn khôn.
Thời nhân tận xướng vô tư khúc,
Hãn ngộ tri âm đối giả hy!
Dich:
Một năm xuân trọn một năm xuân,
Vầng nhật chung soi khắp đất trời.
Thời nhân thủy xướng vô tư khúc,
Khó gặp tri âm đối, hiếm thay!
(Cổ Tôn Túc Ngữ Lục – quyển 23)
*
Thiền sư Cảnh Thanh hỏi vị tăng:
– Ngoài cửa có tiếng gì?
Tăng thưa:
– Tiếng nhái bị rắn cắn kêu.
Sư bảo:
– Tưởng rằng chúng sanh khổ, lại có khổ chúng sanh.
*
Sư hỏi vị tăng khác:
– Ngoài cửa có tiếng gì?
Tăng thưa:
– Tiếng mưa rơi.
Sư bảo:
– Chúng sanh điên đảo quên mình theo vật.
– Hòa thượng thế nào?
– Vẫn chẳng quên mình.
– Vẫn chẳng quên mình ý nghĩa thế nào?
– Xuất thân còn là dễ, thoát thể nói rất khó.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 46)
*
Có vị tăng hỏi thiền sư Pháp Nhãn:
– Trước đền cổ Phật người nào đến trước?
Sư đáp:
– Người không cất bước.
*
Có vị tăng khác hỏi:
– Làm sao thấu được hai chữ thanh sắc?
Sư gọi đại chúng bảo:
– Chư thượng tọa hãy nói, vị tăng này thấu được hay chưa? Nếu hội được câu hỏi này thì thấu thanh sắc chẳng khó.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 54)
*
Thiền sư Đạo Giai ở Phù Dung nói:
– Khuyên các ông chẳng cần cầu chân chỉ nên dứt kiến. Các kiến dứt hết thì mù tối chẳng sanh, trí tự nhiên soi sáng, lại không có vật khác. Các ông hội chăng?
Sư im lặng giây lâu nói:
Châu trung hữu hỏa quân tu tín,
Hưu hướng thiên biên vấn thái dương.
Dịch:
Trong châu có lửa anh tin lấy,
Thôi đến bên trời hỏi thái dương.
(Chỉ Nguyệt Lục – quyển 12)
*
Thiền sư Thiệu Tu (Tu sơn chủ) nói:
– Đầy đủ pháp phàm phu, phàm phu chẳng biết. Đầy đủ pháp thánh nhân, thánh nhân chẳng hội. Thánh nhân nếu hội tức là phàm phu. Phàm phu nếu biết tức là thánh nhân.
(Ngũ Đăng Hội Nguyên – quyển 8)
*
Thiền sư Duy Tín nói:
– Trước ba mươi năm khi chưa tham thiền, lão tăng thấy núi là núi, thấy nước là nước. Sau gần gũi thiện tri thức có chỗ thâm nhập, thấy núi không phải núi, thấy nước không phải nước. Nay được chỗ dứt sạch, thấy núi chỉ là núi, thấy nước chỉ là nước.
(Ngũ Đăng Hội Nguyên – quyển 17)
*
Úc Sơn Chủ, nhân hóa sĩ ở Lô Sơn đến dạy khán câu “Tăng hỏi Pháp Đăng: Đầu sào trăm trượng làm sao tiến bước? Pháp Đăng: Ối!” Sư khán đã ba năm. Một hôm cưỡi ngựa qua cầu đạp lủng tấm ván, người ngựa té nhào, bỗng nhiên Sư đại ngộ làm tụng:
Ngã hữu minh châu nhất khỏa,
Cửu bị trần lao quan tỏa,
Kim triều trần tận quang sanh,
Chiếu phá sơn hà vạn đóa.
Dịch:
Ta có một viên minh châu,
Đã lâu bị bụi vùi sâu,
Hôm nay bụi sạch phát sáng,
Soi thấu núi sông làu làu.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 31)
Thiền sư Nhân Dũng ở Bảo Ninh nói:
– Nếu nói Phật pháp cúng dường đại chúng chưa khỏi râu mày rụng sạch, nếu nói thế pháp cúng dường đại chúng vào địa ngục nhanh như tên bắn. Dẹp hai lối này hãy nói cái gì?
Tam thốn thiệt đầu vô dụng xứ,
Nhất song không thủ bất thành quyền.
Dich:
Đầu lưỡi ba tấc không chỗ dụng,
Hai tay buông thõng nắm chẳng thành.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 31)
*
Thiền sư Pháp Diễn ở Ngũ Tổ, thượng đường nói:
– Hôm qua sơn tăng vào thành thấy một giàn con rối, bèn đi đến trước xem, hoặc thấy nghiêm trang kỳ đặc, hoặc thấy xấu xí ghê gớm, tới lui đi đứng, xanh vàng đỏ trắng, rành rõ mỗi thứ. Xem kỹ thấy có người ở trong màn vải xanh điều khiển. Sơn tăng nhịn không nổi, bước tới hỏi: Ông tên họ gì? Y bảo: Hòa thượng già này xem rồi thì thôi, hỏi tên họ làm gì? Sơn tăng bị câu nói của y khiến câm họng, không lý để giãi bày. Lại có người vì sơn tăng nói được chăng?
Hôm qua trong ấy bị thua,
Ngày nay nơi này gỡ vốn.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 33)
Pháp Diễn nói:
– Ta có một vật chẳng thuộc phàm chẳng thuộc thánh, chẳng thuộc tà chẳng thuộc chánh, khi muôn việc đến tự nhiên hiệu lệnh.
Pháp Diễn nói:
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 32)
*
– Hôm qua có một tắc nhân duyên định nêu cho đại chúng nghe, lại vì lão tăng muôn việc thường quên, nhất thời suy nghĩ chẳng ra.
Sư lặng thinh giây lâu nói:
– Quên mất rồi! Quên mất rồi!
Lại nói:
– Trong kinh có bài chân ngôn tên Thông Minh Vương, có người quên, niệm liền nhớ lại.
Sư đọc:
– Án a lồ lặc kế ta bà ha.
Bèn vỗ tay cười to nói:
– Nhớ được rồi! Nhớ được rồi!
Sư nói kệ:
Tìm Phật chẳng thấy Phật,
Luận Tổ chẳng thấy Tổ.
Dưa ngọt tột gốc ngọt,
Dưa đẳng tận rễ đẳng.
Nói xong, Sư liền bước xuống tòa.
(Cổ Tôn Túc Ngữ Lục – quyển 20)
*
Trung thu, Sư thượng đường:
Trung thu nguyệt trung thu nguyệt,
Cổ kim tận vị tầm thường biệt.
Biệt bất biệt,
Kiểu kiểu thanh quang biến đại thiên,
Nhậm tùng thiên hạ vân vân thuyết.
Dịch:
Trăng trung thu trăng trung thu,
Xưa nay đều nói khác bình thường.
Khác chẳng khác,
Rỡ rỡ sáng soi khắp đất trời,
Mặc tình thiên hạ lăng xăng nói.
(Cổ Tôn Túc Ngữ Lục – quyển 21)
*
Kệ tụng:
Bệnh khởi
Bệnh lai hựu bệnh bì niêm cốt,
Đẩu tẩu khởi lai vô nhất vật.
Hành bất thành bộ, ngữ thanh đê,
Tỹ khổng y tiền không đột ngột.
Dịch:
Bệnh rồi lại bệnh, da xương dính,
Phấn phát đứng lên không một vật.
Bước đi chập choạng nói thều thào,
Lỗ mũi như xưa cao chất ngất.
(Cổ Tôn Túc Ngữ Lục – quyển 22)
*
Bà già bán bánh rán, sau khi ngộ đạo đến Lang Nha. Lang Nha nhìn, biết cảnh giới của bà, hỏi:
– Vô vị chân nhân ở đâu?
Bà ứng thanh đọc:
Hữu nhất vô vị chân nhân,
Lục tý tam đầu nỗ lực sân,
Nhất phách Hoa sơn phân lưỡng lộ,
Vạn niên lưu thủy bất tri xuân.
Dịch:
Có một vô vị chân nhân,
Ba đầu sáu tay nỗ lực sân,
Một chẻ Hoa sơn chia hai nẻo,
Nước chảy muôn năm chẳng biết xuân.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 34)
*
Hối Đường Tổ Tâm cùng Hạ Ý Công đang bàn về ý “Hội vạn vật vi tự kỷ” và “Tình dữ vô tình cộng nhất thể” trong Triệu Luận. Khi ấy có con chó nằm dưới gầm bàn, Sư lấy cây thước gõ con chó, lại gõ cái bàn nói:
– Con chó hữu tình nên đi, cái bàn vô tình ở lại, vậy thì tình cùng vô tình làm sao đồng một thể?
Ý Công suy nghĩ không đáp được. Sư bảo:
– Vừa dính suy nghĩ liền thành pháp dư, đâu thể “Hội vạn vật vi tự kỷ”.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 32)
*
Thiền sư Chân Tịnh ở trong thất hỏi vị tăng:
– Xong hay chưa?
Tăng thưa:
– Chưa xong.
– Ông ăn cháo xong hay chưa?
– Xong.
– Sao nói chưa xong?
Sư lại hỏi:
– Ngoài cửa tiếng gì?
– Tiếng mưa rơi.
– Sao nói chưa xong?
Sư lại hỏi:
– Trước mặt là cái gì?
– Bình phong.
– Sao nói chưa xong?
Sư lại hỏi:
– Hiểu chưa?
– Chưa hiểu.
Sư bảo:
– Hãy nghe bài tụng:
Tùy duyên sự sự liễu,
Nhật dụng hà khiếm thiếu!
Nhất thiết đản tầm thường,
Tự nhiên bất điên đảo.
Dịch:
Tùy duyên mọi việc xong,
Hằng ngày dùng đâu thiếu!
Tất cả chỉ bình thường,
Tự nhiên hết điên đảo.
(Chỉ Nguyệt Lục – quyển 26)
*
Có vị tăng hỏi thiền sư Thủ Trừng:
– Thế nào là cha mẹ xưa nay?
Sư đáp:
– Người đầu không bạc.
– Làm sao dâng hiến?
– Ân cần không cơm gạo, trước nhà chẳng hỏi thăm.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 67)
*
Có vị tăng hỏi thiền sư Trí Hồng:
– Sắc thân bại hoại, thế nào là pháp thân kiên cố?
Sư đáp:
Sơn hoa khai tợ cẩm,
Giản thủy trạm như lam.
Dịch:
Hoa núi nở đường gấm,
Nước khe trong tợ chàm.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 47)
*
Thiền sư Chí Đoan sắp tịch, trưởng lão Viên Ứng ra thưa:
Mây sầu ráng thảm,
Đại chúng thở than.
Mong thầy ban lời,
Chưa nên cáo biệt.
Sư duỗi một chân. Viên Ứng hỏi:
Gương pháp chưa đến xứ này,
Trăng báu lại soi chốn nào?
Sư bảo:
– Chẳng phải cảnh giới của ông.
– Thế là,
Bọt sanh bọt diệt trở về nước,
Thầy đến thầy đi việc vốn thường.
Sư hừ một tiếng.
(Ngũ Đăng Hội Nguyên – quyển 8)
*
Có đạo giả đến hỏi Ngọa Long Tổ Tiên:
– Con khỉ nắm không đứng, cúi xin chỉ dạy?
Sư bảo:
– Dùng nắm làm gì? Như gió thổi nước tự nhiên thành gợn sóng.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 35)
*
Thiền sư Nguyên Trường ở Thiên Nham hỏi vị tăng:
– Từ đâu đến?
Tăng thưa:
– Chiết Tây đến.
– Trong đây không có cơm đến làm gì?
– Đến xin Hòa thượng Phật pháp.
– Lại gần đây.
Tăng lại gần. Sư liền đấm một đấm, hỏi:
– Hiểu chăng?
– Chẳng hiểu.
– Kẻ si, cái đấm cũng chẳng hiểu.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 35)
*
Vạn Phong Thời Úy đến, Sư hỏi:
– Đem cái gì cùng lão tăng thấy nhau?
Thời Úy đưa nắm tay lên thưa:
– Cái này cùng Hòa thượng thấy nhau.
– Chết rồi, thiêu rồi, đến chỗ nào an thân lập mạng?
– Âu sanh âu diệt thủy hoàn tại,
Phong tức ba bình nguyệt ảnh đàm.
Dịch:
Bọt sanh bọt diệt nước nguyên vẹn,
Gió dừng sóng lặng trăng soi đầm.
Thiên Nham thượng đường nói:
Không gió lá sen lay,
Quyết định có cá lội.
Thời Úy hét một tiếng, phủi áo đi.
Thiên Nham nói kệ:
Uất uất hoàng hoa mãn mục thu,
Bạch vân đoan tọa Bích Phong đầu.
Vô tân chủ cú khinh niêm xuất,
Nhất hát thiên giang thủy nghịch lưu.
Dịch:
Đầy mắt mùa thu rợp cúc vàng,
Mây trắng ngồi yên ngọn Bích Phong.
Câu không chủ khách nêu nhè nhẹ,
Một hét ngàn sông chảy ngược dòng.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 36)
*
Thiền sư Tùng Triển ở Bảo Phước. Sư bệnh hỏi vị tăng:
– Tôi với ông biết nhau đã lâu năm, có thuốc gì cứu nhau, cứu nhau!
Tăng thưa:
– Thuốc thì có sẵn, nghe nói Hòa thượng không chịu kiêng cữ.
*
Sư bảo vị tăng đứng hầu:
– Ông tại sao thô tâm?
Tăng thưa:
– Chỗ nào là chỗ con thô tâm?
Sư đưa một cục đất, bảo:
– Ném ra trước cửa.
Tăng ném xong lại hỏi:
– Chỗ nào là chỗ con thô tâm?
Sư nói:
– Ta thấy chạm đến là va là kêu nên nói ông thô tâm.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 46)
*
Bà già đốt am
Bà cúng dường một vị tăng nhập thất hai mươi năm, thường sai con gái mang vật thực sang cung cấp cho vị tăng. Hôm nọ bà bảo con gái ôm cứng vị tăng hỏi: “Chính khi này thế nào?” Vị tăng đáp:
Khô mộc ỷ hàn nham
Tam đông vô noãn khí.
Dịch:
Cây khô tựa núi lạnh
Ba đông không hơi ấm.
Cô gái về thưa lại. Bà bảo:
– Ta hai mươi năm chỉ cúng dường kẻ thế tục.
Bà bèn đuổi đi rồi đốt am.
(Giáo Ngoại Biệt Truyền – quyển 16)
*
Có vị tăng hỏi thiền sư Duy Giản:
– Phật và chúng sanh là một hay hai?
Sư đáp:
Hoa khai mãn thọ hồng
Hoa lạc vạn chi không.
Dịch:
Hoa nở khắp cây hồng
Hoa rơi muốn cành không.
Tăng hỏi:
– Rốt cuộc là một hay hai.
Sư đáp:
Duy dư nhất đóa tại,
Minh nhật khủng tùy phong.
Dịch:
Chỉ còn thừa một đóa,
Ngày mai ngại gió rơi.
(Tục Truyền Đăng Lục – quyển 5)
Có vị tăng hỏi thiền sư Khánh Tường:
– Trên đường hiểm ác lấy gì làm cầu đò. Sư đáp:
– Lấy đây làm cầu đò.
– Thế nào là đây?
– Nắm lấy lỗ mũi ông.
(Thiền Tông Chính Mạch – quyển 5)
*
Vua Tống Hiếu Tông hỏi thiền sư Phật Chiếu:
– Phật Thích-ca vào núi sáu năm thành được việc gì?
Sư đáp:
– Tưởng đâu Bệ hạ quên mất.
(Giáo Ngoại Biệt Truyền – quyển 16)
*
Thiền sư Ngộ An xem kinh Lăng-nghiêm đến câu “Tri kiến lập tri tức vô minh bản, tri kiến vô kiến tư tức Niết-bàn”, Sư bèn sửa câu đọc: “Tri kiến lập, tri tức vô minh bản, tri kiến vô, kiến tư tức Niết-bàn”. Nơi đây Sư tỉnh ngộ.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 54)
*
Bồ-tát Văn-thù hỏi Am-đề-già nữ:
– Sanh lấy gì làm nghĩa?
Am-đề-già nữ đáp:
– Sanh lấy chẳng sanh sanh làm nghĩa sanh.
Văn-thù hỏi:
– Thế nào là sanh lấy chẳng sanh sanh làm nghĩa sanh?
Am-đề-già nữ đáp:
– Nếu hay biết rõ bốn duyên đất nước gió lửa chưa từng tự có hòa hợp, mà hay tùy duyên kia, ấy là nghĩa sanh.
Văn-thù hỏi:
– Tử lấy gì làm nghĩa?
Am-đề-già nữ đáp:
– Tử lấy chẳng tử tử làm nghĩa tử.
– Thế nào là tử lấy chẳng tử tử làm nghĩa tử?
– Nếu hay biết rõ bốn duyên đất nước gió lửa chưa từng tự có ly tán, mà hay tùy duyên kia, ấy là nghĩa tử.
Am-đề-già nữ hỏi lại Văn-thù:
– Biết rõ sanh là pháp chẳng sanh, vì sao lại bị sanh tử lôi cuốn?
Văn-thù đáp:
– Vì sức kia chưa đủ.
(Thiền Tông Chính Mạch – quyển 3)
*
Kinh Hoa Nghiêm phẩm Thập Định:
Bồ-tát Phổ Nhãn muốn thấy Phổ Hiền mà không thể thấy được, cho đến ba phen nhập định xem khắp tam thiên đại thiên thế giới tìm Phổ Hiền cũng không thấy, đến bạch Phật. Phật bảo: “Ông nên ở trong chánh định khởi một niệm liền thấy Phổ Hiền!” Phổ Nhãn khi ấy ở trong chánh định vừa khởi một niệm, liền thấy Phổ Hiền ở trong hư không cưỡi voi trắng sáu ngà.
(Kinh Hoa Nghiêm – quyển 40/80)
*
Thế Tôn chỉ hạt châu ma-ni hỏi năm vị thiên vương trấn giữ năm hướng:
– Hạt châu này màu gì?
Năm vị thiên vương mỗi vị nói màu khác nhau. Thế Tôn cất hạt châu, đưa tay lên hỏi:
– Hạt châu này màu gì?
Thiên vương thưa:
– Tay Phật không châu chỗ nào có màu?
Thế Tôn bảo:
– Tại sao các ông điên đảo lắm vậy? Ta đem thế châu chỉ đó, liền gắng nói có màu xanh, vàng, đỏ, trắng. Ta đem chân châu chỉ đó, thảy đều không biết.
Năm vị thiên vương thảy đều khế ngộ.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 2)
*
Ni sư Viên Ấn đến tham vấn thiền sư Chân Diễn ở Trúc Am. Sự hỏi:
– Thế Tôn đưa cành hoa, ngài Ca-diếp cười chúm chím là cười cái gì?
Ni hét một tiếng. Sư bảo:
– Một tiếng hét này rơi ở chỗ nào?
Ni thưa:
– Chẳng cần nghi.
Sư dựng phất tử hỏi:
– Cái này là gì?
– Chẳng được vọng thông tin tức.
– Vừa rồi sơn tăng nói gì?
– Lời trước đâu còn.
– Sơn tăng tuổi già.
– Tuổi già thì được.
Ni liền lễ bái.
(Kính Thạch Trích Nhũ Tập – quyển 5)
*
Thiền sư Huyền Thiết Dung thượng đường, chúng vừa nhóm đủ, Sư xuống tòa. Tri sự chặn lại hỏi:
– Hòa thượng vì sao không dạy một lời liền xuống tòa?
Sư bảo:
– Sáng sớm ăn hai chén cháo nguội, trong bụng có chút bất an, hãy đợi đi cầu một chút trở lại, vì các ông nói.
Chúng ngơ ngác. Sư trở về phương trượng. Hôm khác Sư thượng đường:
– Sơn tăng hôm qua đi thọ trai nhà trong xóm, nhai nhằm một hạt sạn cho đến sáng nay mà răng vẫn còn đau, không thể cùng chư huynh đệ nói vàng nói trắng.
Liền xuống tòa.
Hôm khác, Sư hỏi một vị tăng:
– Người xưa nói “Ăn cháo xong, rửa bát đi”, ý thế nào?
Tăng thưa:
– Khi hôm trong mộng, có người hỏi con câu này, vì con mê ngủ nên không đáp cho y.
Sư bèn thôi.
(Kính Thạch Trích Nhũ Tập – quyển 5)
*
Thiền sư Quảng Thanh, đầu mùa xuân năm Canh Thân đời Khang Hy thọ bệnh. Tháng tư, đệ tử Viên Tịnh dẫn chúng đến phương trượng hỏi thăm Sư và cầu chỉ dạy. Sư bảo:
– Sơn tăng xưa nay không dính mê ngộ, bị bệnh kiết ba tháng khiến thân gầy bày xương. Nếu người hiểu được như thế, bảo đảm siêu Phật vượt Tổ. Người xưa nói: “Pháp thân bệnh, sắc thân tức là pháp thân. Sắc thân bệnh, pháp thân tức là sắc thân.” Nay nhờ đại chúng hỏi ta gốc bệnh, sơn tăng quán khắp pháp giới tìm chỗ gốc bệnh khởi trọn không thể được. Cho nên nói: Bệnh vào cao hoang, thần y bó tay.
Nói xong, Sư hét một tiếng, nằm kiết tường thị tịch.
(Kính Thạch Trích Nhũ Tập – quyển 5)
*
Thiền sư Tiếu Ẩn Đại Hân bình bài tụng của Tam Bình Nghĩa Trung bằng hai câu thơ:
Thủy lưu hoàng diệp lai hà xứ,
Ngưu đới hàn nha quá biệt thôn.
Dịch:
Nước cuộn lá vàng đến chốn nào,
Trâu mang chim quạ qua thôn khác.
(Tiếu Ẩn Hân Thiền Sư Ngữ Lục – quyển 1)
*
Thiền sư Tổ Tiên ở Phá Am nói:
Linh Sơn hữu lộ bình như chỉ,
Nguyệt hộ vô nhân lãnh tự thu.
Dịch:
Linh Sơn có đường phẳng như mài,
Nhà trăng không người lạnh tự thu.
(Phá Am Tổ Tiên Thiền Sư Ngữ Lục)
*
Ví như người sợ bóng mà chạy trong trời nắng, chạy càng nhanh thì bóng đuổi theo càng lẹ, dừng nghỉ trong bóng cây thì bóng tự mất, đứa bé mười tuổi cũng biết. Người học đạo sợ sanh tử mà chẳng dứt vọng tâm, thì chẳng bằng đứa bé kia. Lại, thân quân tử thì tiểu nhân tự sợ, gần tiểu nhân thì quân tử tự xa, kẻ mua bán ngoài chợ, người quê mùa đều biết. Người học đạo sợ khổ lưu chuyển mà tùy thuận vô minh, là đầu Việt mà đuôi Yên đó vậy.
Người biết tâm lặng lẽ thì không cố khởi hiện hạnh, chẳng cùng vọng hiệp thì tự nhiên bản trí hiện tiền. Hai thứ này là thúc liễm tâm, chẳng phải gia công vậy.
(Trí Chứng Truyện – Huệ Hồng Giác Phạm tuyển)
*
Hoàng Long Huệ Nam dạy:
– Người người trọn nắm hạt châu Linh Xà, mỗi mỗi tự ôm hòn ngọc Kinh Sơn mà không tự hồi quang phản chiếu, nhớ báu quên xứ. Đâu không nghe nói: Khi ứng lỗ tai dường hang trống, tiếng lớn tiếng nhỏ đều đầy đủ. Khi ứng con mắt như ngàn mặt trời, muôn tượng không thể trốn hình bóng. Cứ theo thanh sắc mà tìm, tổ Đạt-ma từ Ấn Độ sang cũng chịu thua.
(Hoàng Long Huệ Nam Thiền Sư Ngữ Lục)
*
Có vị tăng đến hỏi Mã Tổ:
– Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang?
Mã Tổ bảo:
– Lại gần đây sẽ nói với ông.
Tăng lại gần. Tổ tát một bạt tai, bảo:
– Chỗ đông người không tiện nói.
(Mã Tổ Đạo Nhất Thiền Sư Quảng Lục)
*
Tổ Huệ Khả một hôm bỗng đại ngộ, bạch tổ Đạt-ma:
– Từ đây trở đi con dứt hết các duyên.
– Chớ rơi vào đoạn diệt!
– Không rơi.
– Con làm thế nào?
– Con thường biết rõ ràng, nói không thể đến.
– Đây là chỗ truyền tâm của chư Phật chớ nên hồ nghi.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 6)
*
Thiền sư Thiệu Long khi đến Viên Ngộ, Viên Ngộ dẫn câu “Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến, kiến du ly kiến, kiến bất năng cập”, liền đưa tay lên hỏi Sư:
– Thấy không?
Sư thưa:
– Thấy.
Viên Ngộ bảo:
– Đầu lại thêm đầu.
Viên Ngộ lại hỏi:
– Thấy cái gì?
Sư thưa:
– Tre dày không ngăn nước chảy qua.
Viên Ngộ gật đầu.
(Tổ Đình Kiềm Chùy Lục – quyển thượng)
*
Thiền sư Hành Vĩ ở Ngưỡng Sơn, năm mươi tuổi mới xuất gia. Sư đến núi Hoàng Bá tham vấn Huệ Nam, quyết chí tham cứu đã lâu mà chưa có lãnh hội, thường uống nước rửa chân của Huệ Nam. Sư đi kinh hành ngoài hành lang, gặp các bậc kỳ túc liền lễ bái thưa: “Xin thương Hành Vĩ tuổi già, cứu độ Hành Vĩ.” Sư cất thất ở chỗ vắng, bên trong chỉ để một giường nhỏ ngồi thiền. Có khách đến, Sư mời ngồi trên giường, rồi đi thắp hương đứng khoanh tay hầu, không nói một lời. Do đó chẳng ai dám vào cửa. Huệ Nam biết hạnh của Sư, đến bảo:
– Ngươi rất khắc khổ, không nên như thế.
Sư thưa:
– Con đã già, đạo nghiệp chưa thành, đâu rảnh bàn đến việc của người. Như hòa thượng Triệu Châu nói: “Ta ở phương Nam hai mươi năm, trừ hai thời cơm cháo là tạp dụng tâm.” Con là người gì mà dám nhàn rỗi.
Huệ Nam không thể đoạt được chí của Sư, trong lòng càng quý.
(Phổ Giác Tông Cảo Thiền Sư Ngữ Lục – quyển thượng)
*
Kinh Viên Giác có đoạn: “Cư nhất thiết thời bất khởi vọng niệm, ư chư vọng tâm diệc bất tức diệt, trụ vọng tưởng cảnh bất gia liễu trị, ư vô liễu tri bất biện chân thật…”, nghĩa là Trong tất cả thời không khởi vọng niệm, đối các vọng tâm cũng chẳng dừng diệt, trụ cảnh vọng tưởng không thêm rõ biết, nơi không rõ biết chẳng biện chân thật…
Hòa thượng Tuyết Đường niêm rằng:
Khô thọ vân sung điệp,
Điều mai tuyết tác hoa.
Kích đồng phương mộc hưởng,
Tiểu tuyết khiết đông qua.
Trường thiên thu thủy,
Cô vụ lạc hà.
Dich:
Cây khô mây đơm lá,
Mai còi tuyết điểm hoa.
Gõ ống tre vang tiếng,
Chấm tuyết ăn bí đao.
Trời trong nước thu,
Cò lẻ ráng chiều.
(Mật Am Hòa Thượng Ngữ Lục)
*
Thiền sư Tào Nguyên Đạo Sinh, Trung thu thượng đường dẫn chuyện Trường Sa Cảnh Sầm cùng Ngưỡng Sơn xem trăng. Ngưỡng Sơn chỉ mặt trăng thưa:
– Mỗi người đều có cái đó, chỉ là dùng chẳng được.
Trường Sa bảo:
– Đúng thế, ông dùng đi.
Ngưỡng Sơn thưa:
– Làm sao dùng?
Trường Sa đến gần đạp một đạp, Ngưỡng Sơn té nhào. Ngưỡng Sơn đứng dậy nói:
– Thật giống con cọp.
Sư làm tụng:
Phù vân tán tận nguyệt đương không,
Thổ tử hoài thai sản đại trùng,
Khiêu xuất phong tiền lộng nha trảo,
Chí kim hám động Quảng Hàn cung.
Dịch:
Mây mù tan sạch trăng trên không,
Thỏ ngọc mang thai sanh cọp hùng,
Nhào ra trước gió bày nanh vuốt,
Nay còn rúng động Quảng Hàn cung.
(Tào Nguyên Đạo Sinh Thiền Sư Ngữ Lục)
*
Ni Diệu Tổng ở trong hội thiền sư Đại Huệ nghe cử câu “Thế ấy cũng chẳng được, chẳng thế ấy cũng chẳng được, thế ấy chẳng thế ấy thảy chẳng được” của ngài Thạch Đầu, bà tỉnh ngộ. Đại Huệ lại dẫn câu chuyện bà già đến bến đò của thiền sư Nham Đầu, ném đứa con xuống nước, hỏi bà. Bà đáp:
Nhất diệp phiến chu phiếm diểu mang,
Trình nhiều vũ trạo biệt cung thương,
Vân sơn hải nguyệt câu phao khước,
Doanh đắc Trang Chu điệp mộng trường.
Dich:
Một chiếc thuyền con thả bể khơi,
Đưa chèo múa nhịp khúc nhạc trời,
Mây non trăng biển đều ném sạch,
Hơn hẳn Trang Chu giấc điệp dài.
(Vô Kiến Tiên Đổ Thiền Sư Ngữ Lục – quyển thượng)
*
Thiền sư Nguyên Tĩnh ở Nam Đường, đệ tử Ngũ Tổ Pháp Diễn. Sư trụ Đại Tùy, trong phòng ngủ của phương trượng có con rắn to ở đã lâu đời không ai dám đến gần. Sư đến muốn nghỉ ở đó. Thầy Giám tự bạch Sư biết việc ấy, Sư không màng vẫn đến đó ngủ. Đến nơi thấy con rắn to nằm trên giường, Sư lấy tay đẩy nó nói:
– Súc sanh già, nhường cho lão tăng nửa giường chứ!
Nói xong, Sư nằm nửa giường ngủ đến sáng. Sáng ra không thấy con rắn. Từ đó nó không đến nữa.
(Ngũ Gia Chánh Tông Tán – quyển 2)
*
Thiền sư Quang Dũng đến tham vấn Ngưỡng Sơn. Ngưỡng Sơn hỏi:
– Ông đến làm gì?
Quang Dũng thưa:
– Lễ kính Hòa thượng.
Ngưỡng Sơn hỏi:
– Lại thấy Hòa thượng chăng?
Quang Dũng đáp:
– Thấy.
Sư hỏi:
– Hòa thượng sao giống con lừa?
Quang Dũng đáp:
– Con thấy Hòa thượng cũng chẳng giống Phật.
Ngưỡng Sơn hỏi:
– Nếu chẳng giống Phật thì giống cái gì?
– Nếu có chỗ giống cùng lừa đâu khác.
Ngưỡng Sơn khen:
– Phàm thánh cả hai mất, tình hết thể lộ.
(Giáo Ngoại Biệt Truyền – quyển 11)
*
Thiền sư Tử Tâm, khoảng niên hiệu Thiệu Thánh, Sư trụ tại Thúy Nham, Giang Tây. Phía sau pháp đường có miếu Tề An Vương rất linh hiển. Sư dời miếu này đến phía tây viện, lấy nền làm phương trượng. Nơi đây, Sư để giường ngủ, có con trăn to nằm khoanh bên Sư. Sư quở thì nó đi, rồi trở vô lại, mỗi đêm đều như thế. Một hôm khoảng canh ba, Sư mộng thấy một người đội mũ mặc xiêm y đến chào Sư và bảo là dời chỗ mới y không thích, muốn nhờ sáu mươi tráng đinh theo hầu đi dạo hai tỉnh Quảng Đông Quảng Tây. Trong mộng Sư liền hứa khả. Mấy hôm sau, tráng đinh bỗng bị bệnh dịch chết đúng sáu mươi người.
Sư thượng đường hỏi chúng:
– Thật có quỷ thần chăng? Nếu nói có, sao chẳng giết Tử Tâm? Nếu nói không, tráng đinh vì sao mà chết?
Chúng trả lời không khế hội. Thủ tọa Sở Nguyên đáp:
Dưa ngọt tận rễ ngọt,
Dưa đẳng tột gốc đẳng.
Sư cười rồi thôi.
(La Hồ Dã Lục – quyển hạ)
*
Thiền sư Pháp Diễn dạy Phật Giám:
– Khi lãnh Trụ trì có bốn điều:
Một, Phước không nên thọ hết, phước hết ắt đến họa ương.
Hai, Thế lực không nên sử dụng hết, thế hết ắt bị khinh lờn.
Ba, Ngôn ngữ không nên nói hết, nói hết ắt cơ chẳng mật.
Bốn, Quy củ chẳng nên hành hết, hành hết thì chúng khó ở.
(La Hồ Dã Lục – quyển hạ)
*
Thiền sư Thanh Phẫu ở Hưng Dương ban đầu ở Đại Dương làm Tri viên. Sư trồng dưa, Đại Dương hỏi:
– Dưa ngọt khi nào chín?
Thanh Phẫu thưa:
– Hiện nay chín rồi.
– Lựa dưa ngọt hái đem lại.
– Hái đem lại cho ai ăn?
– Cho người không vào vườn ăn.
– Chưa biết người không vào vườn lại có ăn không?
– Ông lại biết y chăng?
– Tuy nhiên chẳng biết, không được chẳng cho.
Đại Dương cười rồi đi.
Thanh Phẫu nằm bệnh, Đại Dương đến hỏi:
Thân này như bọt huyễn,
Trong bọt huyễn thành xong,
Nếu không cái bọt huyễn,
Đại sự do đâu nên,
Nếu muốn đại sự nên,
Biết lấy cái bọt huyễn.
Là thế nào?
Thanh Phẫu thưa:
– Vẫn là việc bên này.
– Việc bên kia thế nào?
– Khắp đất vầng hồng đẹp,
Đáy biển chẳng nở hoa.
Đại Dương cười bảo:
– Là ông tỉnh tỉnh chăng?
Thanh Phẫu hét thưa:
– Tưởng là con quên sao.
Sau đó, Sư bệnh nặng rồi mất.
(Tùng Lâm Thạnh Sự – quyển thượng)
*
Thiền sư Ninh ở Khai Phước, quê tại Hấp Châu. Sư đến tham vấn thiền sư Pháp Diễn ở núi Ngũ Tổ. Pháp Diễn thấy Sư tư cách cao thượng siêu việt, thường khen ngợi Sư trước chúng và cho vào Ban chức sự, khiến kẻ đồng học đố kỵ Sư. Ban đêm họ mời Sư đi dạo núi nói chuyện, rồi đánh Sư sưng mặt bầm mắt. Sư không thể theo chúng thọ trai. Pháp Diễn hay được, đích thân đến thăm hỏi:
– Nghe ông bị bọn vô lễ đánh, sao không đến phương trượng thưa, lão tăng sẽ vì ông đuổi bọn họ đi?
Sư trọn giấu kín, chỉ nói:
– Con cam chịu thương tích, chẳng can việc khác.
Pháp Diễn rơi lệ nói:
– Sức nhẫn của ta chẳng bằng ông, sau này không ai làm gì được ông.
(Tùng Lâm Thạnh Sự – quyển thượng)
*
Thiền sư Đạo Hạnh hiệu Tuyết Đường. Sau khi về thăm mẹ, thân quyến hẹn hôm sau đến thăm Sư. Sư viết bài kệ trên vách chùa, rồi trốn đi trước.
Mạc hiềm tâm tự thiết,
Tự kỷ thượng vi oan.
Tảo tận môn tiền tuyết,
Phương khai hỏa lý liên.
Vạn ban hưu cánh vấn,
Nhất đẳng thị vong duyên.
Cá sự tương ưng xứ,
Kim cang chủng hiện tiền.
Dịch:
Chớ trách tâm như sắt,
Chính mình còn chẳng ưa.
Quét sạch tuyết trước cửa,
Mới nở sen lò hồng.
Muôn việc thôi chớ hỏi,
Bậc nhất là quên duyên.
Việc này chỗ ứng hợp,
Giống Kim cang hiện tiền.
(Tùng Lâm Thạnh Sự – quyển thượng)
*
Thiền sư Phần ở Kiếm Môn. Thuở nhỏ, Sư phát minh lẽ đạo, cạo tóc chạy khắp xóm làng, thời nhân gọi là cuồng tăng. Ban đầu Sư đến tham vấn Lại Am, sau đến Diệu Hỷ. Diệu Hỷ nghe Sư là phong điên nên không nhận vào chúng. Sư buồn trở về quê, đến bên trạm Chiết Giang đứng lại, tủi khóc. Bỗng nghe người dẹp đường nạt: “Thị Lang đến”, Sư chợt đại ngộ, làm kệ:
Kỷ niên cá sự quải hung hoài,
Vấn tận chư phương nhãn bất khai.
Kim nhật can trường hốt nhiên phá,
Nhất thanh giang thượng Thị Lang lại.
Dich:
Bao năm việc ấy chứa trong lòng,
Hỏi hết các nơi mắt chẳng thông.
Nay bỗng ruột gan chợt tan vỡ,
Nhờ tiếng “Thị Lang đến” bên sông.
(Tùng Lâm Thạnh Sự – quyển hạ)
*
Tô Đông Pha muốn yết kiến Phật Ấn, trước gửi bài kệ:
Thô sa thi Phật Phật hân thọ,
Quái thạch cúng tăng tăng bất hiềm.
Không thủ viễn lại hoàn yếu phủ,
Cánh vô nhất vật khả tăng thêm.
Dịch:
Cát thô cúng Phật Phật nhận liền,
Đá lạ dâng tăng tăng chẳng giềm.
Tay không xa đến cần chăng nhỉ?
Trọn không một vật để tăng thêm.
Phật Ấn đáp kệ:
Không thủ trì lại phóng hạ nan,
Tam hiền Thập thánh tụ đầu khan.
Thử ban cung dưỡng năng hâm hưởng,
Mộc mã nê ngưu diệc hỷ hoan.
Dịch:
Tay không đem đến lại khó buông,
Tam hiền Thập thánh hội họp xem.
Loại cúng dường này nếu hưởng được,
Trâu bùn ngựa gỗ cũng hân hoan.
(Vân Ngọa Kỷ Đàm – quyển hạ)
*
Đông Pha đến Kinh Khẩu, Phật Ân sang sông yết kiến. Đông Pha nói:
– Triệu Châu ngày xưa chẳng bước xuống giường thiền, Kim Sơn (Phật Ấn) vì sao ngày nay sang sông?
Phật Ấn nói kệ đáp:
Triệu Châu tích nhật khiếm khiêm quang,
Bất hạ thiền sàng tiếp nhị Vương.
Tranh tự Kim Sơn vô lượng tướng,
Đại thiên sa giới thị thiền sàng.
Dịch:
Triệu Châu thuở trước thiếu khiêm nhường,
Chẳng xuống giường thiền tiếp nhị Vương.
Nào giống Kim Sơn vô lượng tướng,
Đại thiên sa giới uốn giường thiền.
Phật Ấn dạy chúng kệ:
Mạc quải ca-sa tiện yếu nhàn,
Thất điều trung hữu Thiết Vi san.
Kỷ đa phóng dật tung hoành giả,
Thất khước nhân thân thuấn tức gian.
Dich:
Chớ mặc ca-sa lại muốn nhân,
Bảy điều trong có Thiết Vi san.
Bao người phóng dật tung hoành ấy,
Chỉ trong chớp mắt mất nhân thân.
(Tùng Lâm Thạnh Sự – quyển hạ)
*
Một hôm Phật Ấn nhập thất, chợt Đông Pha đến. Phật Ấn nói:
– Trong đây không có giường ghế, không thể tiếp cư sĩ.
Đông Pha nói:
– Tạm mượn tứ đại Hòa thượng làm ghế ngồi.
Phật Ấn bảo:
– Sơn tăng có một câu hỏi, nếu cư sĩ đáp được thì mời ngồi, nếu đáp không được xin để đai ngọc lại.
Đông Pha vui vẻ nói:
– Xin hỏi.
Phật Ân hỏi:
– Vừa rồi cư sĩ nói tạm mượn tứ đại sơn tăng làm ghế ngồi. Chỉ như sơn tăng tứ đại vốn không, năm ấm chẳng có, cư sĩ nhằm chỗ nào ngồi?
Đông Pha suy nghĩ mà không đáp được, đành phải cởi đai ngọc để lại, cười to ra đi.
Phật Ân lại lấy chiếc y Vân Sơn tặng ông. Đông Pha làm kệ:
Bách thiên đăng tác nhất đăng quang,
Tận thị hằng sa Diệu pháp vương,
Thị cổ Đông Pha bất cảm tích,
Tả quân tứ đại tác thiền sàng.
Bệnh cốt nan kham ngọc đới vi,
Độn căn nhưng lạc tiễn phong ky,
Hội đương khất thực ca kỹ viện,
Hoán đắc Vân Sơn cựu nạp y.
Thử đới duyệt nhân như truyền xá,
Lưu truyền đảo thử diệc du tai,
Cẩm bào thác lạc hồn tương xứng,
Khất dữ dương cuồng lão Vạn Hồi.
Dịch:
Trăm ngàn đèn thành một ánh đèn,
Thảy là hằng sa Diệu pháp vương,
Vì thế Đông Pha đâu dám tiếc,
Mượn tử đại Sư làm giường thiền.
Bệnh xương, đai ngọc buộc chẳng kham,
Độn căn vẫn lạc máy tên nhanh,
Biết nên khất thực nơi kỹ viện,
Đổi được chiếc y xưa Vân Sơn.
Đại ngọc trao người như truyền của,
Truyền đến bây giờ đã lâu rồi,
Cẩm bào xốc xếch thật tương xứng,
Xin tặng lão giả điên Vạn Hồi.
Phật Ấn làm kệ tạ ông:
Thạch Sương đoạt đắc Bùi Hưu hốt,
Tam bách niên lai chúng khẩu khoa,
Tranh tự Tô công lưu ngọc đới,
Trường hòa minh nguyệt cộng vô hà.
Kinh Sơn Biện thị tam triều hiến,
Triệu quốc Tương Như vạn tử hồi.
Chí bảo chỉ ưng thiên tử dụng,
Nhân hà lưu tại Tiểu Bồng Lai?
Dịch:
Thạch Sương đoạt được hốt Bùi Hưu,
Ba trăm năm miệng chúng khoe hoài,
Đâu giống Tô Công để đai ngọc,
Thường sáng như trăng chẳng vết tỳ.
Kinh Sơn họ Biện ba triều hiến,
Tương Như chỗ chết được trở về.
Ngọc quý chỉ dành thiên tử dụng,
Vì sao để lại Tiểu Bồng Lai?
(Tùng Lâm Thạnh Sự – quyển thượng)
*
Vương Kinh Công mời Phật Ân tán tượng Phó đại sĩ. Phật Ấn cầm bút tán:
Đạo quan Nho lý Phật ca-sa,
Hòa hội tam gia tác nhất gia.
Vong khước Suất-đà thiên thượng lộ,
Song Lâm si tọa đãi Long Hoa.
Dịch:
Mũ Đạo giày Nho ca-sa Phật,
Hòa hội ba nhà lại một nhà.
Quên mất đường về trời Đâu-suất,
Song Lâm ngồi mãi đợi Long Hoa.
(Vân Ngọa Kỷ Đàm – quyển hạ)
*
Quách đạo nhân ở nhà chuyên nghề thợ rèn, thường đến tham vấn thiền sư Trung ở Cảnh Đức. Thiền sư Trung dạy:
– Ông chỉ bỏ cái nặng kia, xoay lại mình mà tham cứu, không cái gì mà chẳng xong.
Một hôm thiền sư Trung thượng đường nói:
– Thiện ác như mây nổi, khởi diệt đều không chỗ nơi. Quách ngay đó tâm khai ngộ. Từ đây ông nói nhiều lời dị thường. Đến khi sắp chết, ông từ biệt người thân, ngồi kiết già nói kệ:
Lục thập tam niên đả thiết,
Nhật dạ phiến bành bất kiệt.
Kim triều phóng hạ thiết chùy,
Hồng lô biến thành bạch tuyết.
Dịch:
Sáu mươi ba năm đập sắt,
Ngày đêm thổi lửa không thôi.
Sáng nay chày sắt buông rồi,
Lò hồng biến thành tuyết trắng.
(Nhân Thiên Bảo Giám)
*
Thiền sư Đại Hưu, dòng Lâm Tế. Sư sanh vào thời Minh, khi ngộ đạo thuật kệ:
Pháp thân bản vô tướng,
Pháp tướng bản lai không.
Hội đắc giả tiêu tức,
Xứ xứ hiển gia phong.
Dịch:
Pháp thân vốn không tướng,
Pháp tướng xưa nay không.
Hiểu được tin tức ấy,
Chốn chốn bày gia phong.
(Tục Chỉ Nguyệt Lục – quyển 15)
*
Tăng hỏi thiền sư Tiếu Nham Đức Bảo:
– Thế nào là đoạt nhân chẳng đoạt cảnh?
– Một đồng tiền mua một cái bánh nướng.
– Thế nào là đoạt cảnh chẳng đoạt nhân?
– Ăn vô bụng rồi nghe vui vui.
– Thế nào nhân cảnh cả hai đều đoạt?
– Ông không có một đồng tiền đành cam chịu đói.
– Thế nào là nhân cảnh đều chẳng đoạt?
– Vân Môn bánh hồ, Kim Ngưu cơm, bụng trống đến, bụng no về.
*
Có vị tăng khác hỏi:
– Kinh nói chư Phật ra đời vì một đại sự nhân duyên, xin hỏi Hòa thượng thế nào là đại sự nhân duyên?
– Ăn cơm mặc áo, đại tiện tiểu tiện.
Tăng không bằng lòng, không lễ bái đi ra. Sư gọi lại nói kệ:
Chư Phật xuất ư thế,
Duy vi đại nhân duyên,
A thỉ tịnh phóng niệu,
Cơ xan khốn đả miên.
Mục tiền khẩn cấp sự,
Nhân chỉ dục thưởng thiên,
Đàm huyền cộng thuyết diệu,
Tao tội phục thâu tiền.
Dịch:
Chư Phật hiện trần thế,
Chỉ vì đại nhân duyên,
Đại tiện cùng tiểu tiện,
Đói ăn mệt ngủ liền.
Việc gấp rút trước mắt,
Người chỉ muốn lên thiên,
Nói huyền cùng bàn điệu,
Mắc tội lại thua tiền.
Tăng hổ thẹn lễ bái lui ra.
(Tục Chỉ Nguyệt Lục – quyển 16)
*
Có vị tăng hỏi hòa thượng Thạch Đầu:
– Thế nào là giải thoát?
– Ai trói ngươi?
– Thế nào là Tịnh độ?
– Cái gì làm như ngươi?
– Thế nào là Niết-bàn?
– Ai đem sanh tử cho ngươi?
(Chỉ Nguyệt Lục – quyển 5)
*
Nam Tuyền dạy chúng:
– Vương Lão sư từ nhỏ nuôi một con trâu đực, tính thả ăn ở khe đông, sợ phạm nước cỏ của quốc vương, tính thả ăn ở khe tây cũng sợ không khỏi phạm nước cỏ của quốc vương, chi bằng tùy thời nhận chút ít trọn chẳng thấy được.
(Chỉ Nguyệt Lục – quyển 8)
*
Có vị tăng hỏi Mục Châu:
– Lấy một lớp dẹp một lớp thì chẳng hỏi, khi chẳng lấy chẳng dẹp thì thế nào?
Mục Châu đáp:
– Hôm qua trồng cà, ngày nay trồng dưa.
(Chỉ Nguyệt Lục – quyển 13)
*
Trong hội thiền sư Phổ Chiếu có vị tăng lớn tuổi, mỗi ngày tụng ba trăm biến Chú Đại Bi, các kinh chú cũng vậy, ban đêm lễ Phật ba trăm lạy. Tuyết Đường thấy ông nhọc nhằn lăng xăng chẳng rảnh, một hôm nói với ông:
– Sao chẳng buông đi tất cả?
Vị tăng đáp:
– Vừa buông đi thì cảm giác rảnh rỗi.
Tuyết Đường bảo:
– Nếu ông buông đi, lại chẳng rảnh rỗi.
Nhân đó ngài bảo chúng:
– Đây là sức tin chưa đủ. Sở dĩ bình thường nói với huynh đệ, chẳng cần vin cơ cảnh khác. Thế nào gọi là cơ cảnh? Phật gọi là cơ cảnh, pháp gọi là cơ cảnh, huống là tất cả văn chương tạp sự. Nếu giữ chỗ nhàn nhàn, tự nhiên hư mà linh, tịch mà diệu, giống như trái bầu để trên mặt nước, thong thả không kìm không buộc, chạm đến liền động, đẩy đến liền xoay, thật được đại tự tại.
(Tuyết Đường Hạnh Hòa Thượng Thập Di Lục)
*
Thiền sư Huệ Trì (1337 -…) nhập định trong bộng cây (399 -1113). Vua Tống Huy Tông sai vẽ tượng Sư ban hành và ban ba bài tụng:
1-Thất bách niên lai lão cổ chùy,
Định trung tiêu tức hứa thùy tri,
Tranh như chích lý Tây quy khứ,
Sanh tử hà lao mộc tác bì.
2-Tàng sơn ư trạch diệc tàng thân,
Thiên hạ vô tàng đạo khả thân,
Ký ngữ Trang Chu hưu nghĩ nghị,
Thọ trung bất thị phụ xu nhân.
3-Hữu tình thân bất thị vô tình,
Bỉ thử nhân nhân định lý thân,
Hội đắc Bồ–đề bản vô thọ,
Bất tu tân khổ vấn Lư Năng.
Dịch:
1-Bảy trăm năm trước lão cổ chùy,
Tin tức định này ai biết chi.
Đâu như chiếc dép Tây quy khứ,
Sống chết uống công gỗ bọc ngoài.
2-Giấu núi trong đầm cũng giấu thân,
Ấy người không ẩn đạo mới gần,
Nhắn gửi Trang Chu thôi nghĩ nghị,
Trong cây đâu phải phụ xu nhân.
3-Thân hữu tình chẳng phải vô tình,
Kia đây người người trong định sinh,
Đã nhận Bồ-đề vốn không cội,
Chẳng cần vất vả hỏi Lư Năng.
(Thiền Tông Tạp Độc Hải – quyển 5)
*
Trương Văn Định Công tiền thân là thầy Tri tạng ở Lang Gia, chép kinh Lăng-già chưa xong thì chết, thị rằng đời sau sẽ chép tiếp.
Khi Trương Văn Định làm quan ở Trừ Châu đi dạo núi Lang Gia, dạo chung quanh hành lang chùa trọn không muốn rời đi, đến Tạng viện chợt cảm ngộ, chỉ hòm kinh trên rường nhà nói: “Đây là việc tiền thân tôi.” Ông sai người lấy xuống, xem ra là kinh Lăng-già, chữ viết trong ấy và nét chữ hiện tại giống hệt nhau. Ông đọc đến đoạn:
Thế gian lìa sanh diệt,
Ví như hoa trong không.
Trí chẳng thấy có không,
Mà khởi tâm đại bi.
Liền sáng được tánh mình. Ông làm kệ:
Nhất niệm tồn sanh diệt
Thiên cơ phược hữu vô,
Thần phong khinh cử xứ,
Thấu xuất tẩu bàn châu.
Dịch:
Một niệm còn sanh diệt
Ngàn cơ buộc co không,
Tên thần vừa buông nhẹ
Xuyên ngọc lăn trên mâm.
Về già, ông đem quyển kinh này cho cư sĩ Tô Đông Pha xem và thuật lại việc ấy. Đông Pha đề phía sau, cho khắc đá tại Kim Sơn.
(Nhân Thiên Bảo Giám)
*
Triệu Thanh Hiến, năm hơn bốn mươi tuổi, dẹp bỏ thanh sắc, chuyên tâm về Tổ đạo. Ông gặp thiền sư Phật Huệ Tuyền đến Nam Thiền, bèn đến thân cận. Sau ông làm quan ở Thanh Châu, khi chính sự rảnh, chỉ thích tọa thiền. Một hôm chợt nghe tiếng sấm vang, ông hoát nhiên khế ngộ, làm tụng:
Mặc tọa công đường hư ẩn kỷ,
Tâm nguyên bất động trạm như thủy.
Nhất thanh tích lịch đảnh môn khai,
Hoán khởi tùng tiền tự gia để.
Dịch:
Ngồi lặng công đường thênh tựa ghế,
Nguồn tâm chẳng động lặng như nước.
Một tiếng sấm vang mở đảnh môn,
Gọi dậy của nhà mình từ trước.
(Nhân Thiên Bảo Giám)
*
Tăng hỏi Ngưỡng Sơn Huệ Tịch:
– Pháp thân biết nói pháp chăng?
– Ta nói không được, có người khác nói được.
– Người nào nói được?
Ngưỡng Sơn lấy tay đẩy chiếc gối ra.
Quy Sơn nghe bảo:
– Huệ Tịch dùng việc như gươm bén.
(Thiền Lâm Loại Tụ – quyển 2)
*
Có vị tăng hỏi Lạc Phổ:
Nhiều tay đãi vàng, ai là người được?
– Báu xưa ở trong tay đâu nhờ đãi cát.
– Tại sao xòe tay không thấy?
– Chớ cho tiếng hạc kêu là hoàng oanh hót.
(Thiền Lâm Loại Tụ – quyển 15)
*
Có vị tăng hỏi thiền sư Thiện Hội ở Giáp Sơn:
– Khi vạch bụi tìm Phật thì thế nào?
– Liền phải hươi gươm, nếu không hươi gươm, ông chài ngủ nhà.
Vị tăng đem câu hỏi trên hỏi thiền sư Khánh Chư ở Thạch Sương. Thạch Sương đáp:
– Y không cõi nước, chỗ nào gặp y.
(Thiền Lâm Loại Tụ – quyển 2)
*
Thiền sư Trí Thông ở trong hội Quy Tông, bỗng nhiên nửa đêm kêu “Tôi đại ngộ”. Cả chúng đều kinh hãi. Hôm sau Quy Tông thượng đường bảo:
– Vị tăng đại ngộ khi hôm đâu, ra đây xem.
Sư bước ra thưa:
– Con.
Quy Tông hỏi:
– Ông thấy đạo lý gì kêu đại ngộ, thử nói xem.
Sư thưa:
– Sư cô nguyên là người nữ.
Quy Tông lấy làm lạ. Sư từ giã ra đi.
(Cảnh Đức Truyền Đăng Lục – quyển 10)
Thiền sư Đạo Nguyên (tông Tào Động) đăng tòa cầm cây quạt nói:
Nhẫm nhĩ thiên ban xảo
Chung vô lưỡng dạng phong.
Dich:
Mặc người ngàn thứ khéo
Dáng gió quả không hai.
Thiền sư Nghĩa Vân (cháu đời thứ tư) tiếp:
Chiêu lương kiêm ngoạn nguyệt
Chỉ tại nhất luân trung.
Dịch:
Xem trăng cùng hóng mát
Chỉ ở trong một vầng.
Có hai vị tên Viên Thứ và Viên Ngu bình sinh chuyên niệm Phật cấp thiết như cứu lửa cháy đầu, bỗng một hôm được chánh định hiện tiền. Viên Ngu đi đến Sơ Sơn yết kiến lão nhân Độc Trạm. Độc Trạm hỏi:
– Ông tu tập tông nào?
– Tông Tịnh độ.
– Phật Di-đà bao nhiêu tuổi?
– Bằng tuổi với tôi.
– Hiện nay ở chỗ nào?
Viên Ngu liền đưa tay mặt lên. Độc Trạm bảo:
– Ông thật là người tu Tịnh độ chân chánh.
(Trích lời thiền sư Bạch Ẩn – Nhật Bản)
Một thiền sư có việc xuống núi, lúc trở về gặp một cư sĩ cưỡi ngựa chạy ngang qua, cư sĩ gò cương ngựa lại hỏi:
– Thầy đi về đâu?
Thiền sư đáp:
– Tôi về đạo tràng.
– Nơi nơi đều là đạo tràng, Thầy về chỗ nào?
Thiền sư thoi vào hông cư sĩ nói:
– Kẻ vô lễ, đến đạo tràng mà không xuống ngựa.
Cư sĩ câm họng.
Đáp thay cư sĩ:
– Đã bảo nơi nơi đều là đạo tràng, còn nói gì “hữu lễ vô lễ”.
*
Một hôm giữa khuya, Tử Hồ ở trong phòng kêu to:
– Bắt ăn trộm! Bắt ăn trộm!
Trong lúc đêm tối mịt mù, một vị tăng chạy tới, Sư chụp vào ngực kêu to:
– Bắt được rồi! Bắt được rồi!
Tăng thưa:
– Bạch Hòa thượng, chẳng phải con.
Tử Hồ bảo:
– Phải thì phải, chỉ chẳng chịu thừa nhận.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 19)
*
Đại phu Lục Hoàn làm thứ sử Tuyên Châu, đến hỏi thiền sư Nam Tuyền:
– Người xưa nuôi một con ngỗng trong bình, ngỗng lớn dần chui ra bình không được. Hiện nay không được làm bể bình, làm tổn thương con ngỗng, Hòa thượng làm thế nào đem con ngỗng ra?
Nam Tuyền gọi:
– Đại phu!
Đại phu ứng thanh:
– Dạ!
Nam Tuyền bảo:
– Ra rồi!
Đại phu nhân lời này được khai ngộ, liền lễ tạ.
(Giáo Ngoại Biệt Truyền – quyển 6)
*
Thiền sư Lương Giới đi thăm bệnh tăng, tăng hỏi:
– Khi gió lửa ly tán thì thế nào?
– Khi đến không một vật, đi cũng mặc tình y.
– Thân đau bệnh thì sao?
– Phải biết có người chẳng bệnh.
– Thế nào là người chẳng bệnh?
– Ngộ thì không phân tấc, chẳng ngộ thì cách núi đồi
– Đường trước lại cho đoán được chăng?
– Tuy đen như sơn, thành lập ngay hiện tại.
(Thiền Lâm Loại Tụ – quyển 13)
*
Tăng hỏi Tào Sơn:
– Mi và mắt lại biết nhau chăng?
– Chẳng biết nhau.
– Vì sao chẳng biết nhau?
– Vì đồng ở một chỗ.
– Thế ấy thì chẳng phân?
– Mi vẫn chẳng phải mắt.
– Thế nào là mắt?
– Quả nhiên vậy.
– Thế nào là mi?
– Tào Sơn lại nghi.
– Vì sao Hòa thượng lại nghi?
– Nếu chẳng nghi tức quả nhiên rồi.
Thiền sư Nghĩa Vân (Nhật Bản) làm tụng:
Đệ huynh bản thị nhất gia nhi,
Trước nhãn thanh loan triển lưỡng mi,
Thùy thức Tào Sơn đoan đích xứ,
Kinh hành tọa ngọa bất tương nghi.
Dịch:
Anh em vốn thiệt con một nhà,
Mắt ngắm núi xanh nhướng đôi mi,
Quả nhiên Tào Sơn mấy kẻ biết,
Đi đứng ngồi nằm đều chẳng nghi.
Thiền khách Điền Thừa đến tham vấn thiền sư Điền Duyệt (Nhật Bản) hỏi:
– Thế nào là chỗ dụng tâm của học nhân?
Điền Duyệt xòe hai bàn tay bảo:
– Mời đem tâm lại.
Điền Thừa ngơ ngác. Điền Duyệt tát vào mặt một cái bảo:
– Cần dụng cái tâm nào?
Ngay đó Sư lãnh ngộ, ở lại đây mười chín năm.
Sau Sư có làm bài kệ:
Thiên lý tầm Sư đảo Phú Xuyên,
Dụng tâm vô xứ nãi an thiền.
Bất tri kỷ cá bồ đoàn phá,
Nhất trụ phương hưu thập cửu niên.
Dịch:
Ngàn dặm tìm Thầy đến Phú Xuyên,
Dụng tâm không chỗ mới an thiền.
Chẳng biết bao nhiêu bồ đoàn rách,
Trụ được mới thôi, mười chín niên.
Tôn giả Nghiêm Dương hiệu Thiện Tín đến hỏi Triệu Châu:
– Một vật chẳng đem đến thì thế nào?
Triệu Châu đáp:
– Buông xuống đi.
-Đã là một vật chẳng đem đến, lại buông xuống cái gì?
– Buông chẳng được nên gánh lên đi.
Sư tỉnh ngộ đảnh lễ. Khi Sư về ở núi, có hai con cọp và rắn thường quanh quẩn bên chân.
Sau này thiền sư Huệ Nam ở Hoàng Long làm tụng:
Nhất vật bất tương lai,
Kiên đầu đảm bất khởi.
Ngôn hạ hốt tri phi,
Tâm trung vô hạn hỷ.
Độc ác ký vong hoài,
Xà hổ vi tri kỷ.
Quang âm kỷ bách niên,
Thanh phong do vị dĩ.
Dịch:
Một vật chẳng đem đến,
Trên vai gánh chẳng kham.
Qua lời chợt biết lỗi,
Trong tâm vui vô vàn.
Lòng quên các độc ác,
Cọp rắn làm bạn thân.
Thời gian trăm năm lẻ,
Gió mát vẫn nguyên còn.
(Vân Ngọa Kỷ Đàm – quyển thượng)
Sơ Sơn đến Quy Sơn hỏi:
– Được nghe Thầy nói: “Câu có câu không như bìm leo cây”, bỗng nhiên cây ngã bìm khô, câu về chỗ nào?
Quy Sơn cười to ha hả. Sơ Sơn thưa:
– Con từ bốn ngàn dặm mang khăn gói đến, tại sao Hòa thượng lại đùa như vậy?
Quy Sơn gọi:
– Thị giả! Lấy tiền trả lại cho Thượng tọa này.
Lại dặn:
– Về sau có con rồng một mắt sẽ vì ông điểm phá. Sau Sơ Sơn đến thiền sư Minh Chiêu thuật lại câu chuyện trước. Minh Chiêu bảo:
Quy Sơn đáng nói là đầu chánh đuôi chánh, chỉ là chẳng gặp tri âm.
Sơ Sơn lại hỏi:
-Cây ngã bìm khô, câu về chỗ nào?
Minh Chiêu đáp:
– Nụ cười Quy Sơn lại thêm tươi.
Ngay đó Sơ Sơn tỉnh ngộ, nói:
– Hóa ra trong nụ cười Quy Sơn có dao.
Thiền sư Hoằng Trí tụng:
Đằng khô thọ đảo vấn Quy Sơn,
Đại tiểu ha ha khởi đẳng nhàn,
Tiếu lý hữu đao khuy đắc phá,
Ngôn tư vô lộ tuyệt cơ quan.
Dịch:
Bìm khô cây ngã hỏi Quy Sơn,
Cười lớn ha ha há rỗng trơn,
Dao sẵn trong cười xem được thấu,
Không đường nói nghĩ bặt mưu toan.
(Hoằng Trí Thiền Sư Quảng Lục – quyển 2)
*
Vua Đông Ân thỉnh chư tăng dự lễ trai tăng, trong đó có tổ Bát-nhã-đa-la. Chúng tăng ở lại kẻ ngồi thiền người tụng kinh, chỉ có Tổ không làm gì. Vua hỏi:
– Sao Ngài chẳng tụng kinh?
Tổ đáp:
– Bần đạo thở vào chẳng trụ ấm giới, thở ra chẳng dính các duyên, thường tụng kinh như thế trăm ngàn vạn ức quyển.
Thiền sư Hoằng Trí tụng:
Vân tê ngoạn nguyệt xán hàm huy,
Mộc mã du xuân tuấn bất kỳ.
Mi để nhất song hàn bích nhãn,
Khán kinh na đảo thấu ngưu bì.
Minh bạch tâm siêu khoáng kiếp,
Anh hùng lực phá trùng vi
Diệu viên xu khẩu chuyển linh kỵ,
Hàn Sơn vong khước lại thời lộ,
Thập Đắc tương tương huề thủ quy.
Dich:
Vân tê dạo trăng sáng rạng ngời,
Mộc mã du xuân phóng quá hay.
Dưới cặp chân mày mắt biếc lạnh,
Xem kinh đâu thấu da trâu dày.
Rõ ràng tâm siêu nhiều kiếp,
Anh hùng sức phá vòng vây.
Trong chốt diệu viên máy linh xoay,
Hàn Sơn quên mất đường khi đến,
Thập Đắc cùng về tay nắm tay.
(Hoằng Trí Thiền Sư Quảng Lục – quyển 2)
*
Lâm Tế dạy chúng:
– Có một vô vị chân nhân thường ra vào nơi cửa mặt các ông, người sơ tâm chưa chứng cứ hãy xem!
Có vị tăng hỏi:
– Thế nào là vô vị chân nhân?
Lâm Tế bước xuống giường thiền nắm đứng vị tăng. Vị tăng suy nghĩ. Lâm Tế xô ra nói:
– Vô vị chân nhân là cái gì? Que cứt khô.
Thiền sư Hoằng Trí tụng:
Mê ngộ tương phản,
Diệu truyền nhi giản,
Xuân sách bách hoa hề nhất xuy,
Lực hồi cửu ngưu hề nhất vãn,
Vô nại nê sa bát bất khai,
Phân minh tắc đoạn cam tuyền nhãn,
Hốt nhiên đột xuất tử hoành lưu.
Dịch:
Mê cùng ngộ trái,
Diệu truyền mà giản đơn,
Mùa xuân trăm hoa chừ một thổi,
Sức kéo chín trâu chừ một lôi,
Nào hệ cát bùn vạch chẳng nổi,
Mội nước ngọt bít lấp rõ ràng,
Bất ngờ phun ra chảy như xối.
(Hoằng Trí Thiền Sư Quảng Lục – quyển 2)
*
Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn:
Chợt có người hỏi: “Tất cả chúng sanh nghiệp thức mênh mang không gốc có thể tựa”, ông làm sao kinh nghiệm?
Ngưỡng Sơn thưa:
– Con có chỗ kinh nghiệm. Nếu có vị tăng đến liền gọi: Xà-lê! Tăng xoay đầu lại, bèn nói: Là cái gì? Đợi y suy nghĩ, liền bảo: Chẳng những nghiệp thức mênh mang, cũng là không gốc có thể tựa.
Quy Sơn khen:
– Lành thay!
*
Thiền sư Hoằng Trí tụng:
Nhất hoán hồi đầu thức ngã phủ,
Y hy la nguyệt hựu thành câu.
Thiên kim chi tử tài lưu lạc,
Mạc mạc đồ cùng hữu hứa sầu.
Một gọi xoay đầu biết ta chăng!
Lờ mờ bóng nguyệt ngỡ lưỡi câu.
Con ông trưởng giả vừa phiêu bạt,
Mờ mịt đường cùng lắm nỗi sầu.
(Hoằng Trí Thiền Sư Quảng Lục – quyển 61)
*
Có một bà già lên núi Đầu Tử hỏi thiền sư Đại Đồng:
– Nhà tôi vừa mất trâu, thỉnh Thầy bói xem?
Đại Đồng gọi:
– Bà già!
Bà ứng thanh:
-Dạ!
Đại Đồng bảo:
-Vẫn còn.
Bà già vui vẻ ra về.
(Tông Giám Pháp Lâm – quyển 61)
*
Thiền sư Cảnh Thanh đến tham vấn Huyền Sa, Sư thưa:
– Con mới đến tùng lâm, thỉnh Thầy chỉ lối vào. Huyền Sa hỏi:
– Ông nghe tiếng nước Yển Khê chảy chăng?
– Nghe.
– Từ đây mà vào.
Cảnh Thanh đại ngộ.
*
Thiền sư Bổn Như ở Thần Chiếu đến tham vấn tôn giả Pháp Trí. Sư hỏi:
– Thế nào là vua các Kinh?
Tôn giả bảo:
– Ông làm Tri khố ba năm, ta sẽ vì ông nói.
Sư vâng lệnh làm Tri khố. Mãn ba năm, lại thưa:
– Nay xin Hòa thượng nói.
Tôn giả gọi to:
– Bổn Như!
– Dạ!
Bỗng nhiên Sư khế ngộ, làm tụng:
Xứ xứ phùng quy lộ,
Đầu đầu thị cố hương,
Bản lại thành hiện sự,
Hà tất đãi tư lương.
Dịch:
Chốn chốn gặp đường về,
Nơi nơi vốn quê xưa,
Xưa nay việc bày hiện,
Nào phải đợi nghĩ suy.
Thủ tọa Đạo Tổ ở chùa Chiêu Giác, Thành Đô. Sư tham vấn thiền sư Viên Ngộ đã lâu, nhân vào thất hỏi “Tức tâm thị Phật” liền có tỉnh. Viên Ngộ sai Sư trợ giúp việc giáo hóa.
Một hôm chúng vào thất, Sư hỏi một thiền khách:
– Sanh tử đến làm sao né tránh?
Thiền khách không đáp được. Sư ném cây phất tử xuống an nhiên thị tịch. Chúng thấy ngơ ngác chạy báo cho Viên Ngộ hay. Viên Ngộ đến gọi:
– Thủ tọa Tổ!
Sư mở mắt. Viên Ngộ bảo:
– Phấn phát tinh thần vượt cổng đi.
Sư gật đầu, rồi tịch luôn.
(Nhân Thiên Bảo Giám)
*
Vua Tống Hiếu Tông đến chùa Linh Ẩn, ngự tại phương trượng. Vua thấy bức họa hình của thiền sư Phật Hải Huệ Viễn treo trên vách, liền hỏi:
– Hình của ai?
Phật Hải tâu:
– Hình bần tăng do học giả họa để xin bài tán.
Vua hỏi:
– Đây là bức họa, còn cái chân thật ở đâu?
Phật Hải cung kính tâu:
– Gió xuân mát mẻ, kính chúc Hoàng thượng muôn phước
Vua vui vẻ nói:
– Thiên tử vì pháp cầu người, Thiền sư quên thân vì nước.
*
Thiền sư Duy Tắc hiệu Thiên Như. Nhân ngày kỵ tổ Trung Phong, vì chúng phổ thuyết:
– Tổ ý giáo ý, tông thông thuyết thông, lấy gậy khều trăng, dùng dây trói gió, đâu giống cây gậy hình núi, dữ như cọp, linh hoạt tợ rồng, ba mươi năm trước từng ở trong núi Thiên Mục, hút cạn nước biển cả, đánh ngã ngọn Tu-di. Về sau chạy trốn ẩn trong đất không âm dương, trên trời dưới đất tìm không thấy dấu vết. Hừm! Hừm! Ai nói tìm không thấy dấu vết? Chính nay thấy mặt gặp nhau.
Sư chợt đưa gậy, nói:
– Chẳng phải cái này sao?
Tương tự na ná chẳng đồng. Nếu trong chúng có người không cam chịu chẳng ngại giật lấy bẻ làm hai khúc, khỏi ở trước người khoác lác. Nếu không có người như thế thì bỏ qua một nước.
Dành cho người đi đêm lạc lối,
Xỏ ngang nhật nguyệt làm lồng đèn.
Sư giộng gậy gọi chúng nói:
– Hôm nay ngày mười bốn tháng tám là ngày nhập Niết-bàn của hòa thượng Trung Phong Phổ Ứng quốc sư. Trong chúng có nhiều người là đệ tử của ngài, đã từng được ngài khai phát. Ngoài ra chỉ có một nhóm người sau chưa nghe chưa biết lai lịch của ngài. Hãy nghe tôi nhắc sơ lược:
Hòa thượng quê ở Tiền Đường, năm hai mươi bốn tuổi lên núi Thiên Mục xin hòa thượng Cao Phong xuất gia, tham cứu thấu rõ việc lớn sanh tử. Việc lớn sanh tử đã rõ, tuệ đời trước chóng phát, bèn đem pháp đã được giáo hóa mọi người. Ấy là bậc Tông sư truyền pháp đời thứ 18 của phái Lâm Tế. Xét ngài hai ba mươi năm làm sư tử rống, nói ngang nói dọc khắp thiên hạ, vốn không có ý khác, chỉ vì mọi người dưới gót chân có việc lớn sanh tử mà chưa từng thấu rõ, nên không tiếc khẩu nghiệp khuyên các ông rõ đi.
Đến nay ngài Niết-bàn gần ba mươi năm, mà Sư Tử Lâm tôi mỗi năm vào ngày này vì lập tòa cao, trưng di ảnh ngài lên, hội các người đến chiêm lễ, cũng không có ý khác. Bởi muốn những người trước đã từng thấy ngài, nay lại thấy như xưa để phát đạo tâm, những người mới thấy mới nghe cũng phát đạo tâm rõ thấu sanh tử. Các ông nếu không hiểu ý này, chẳng phát đạo tâm, là các ông cô phụ bậc thiện tri thức, là các ông không biết việc lớn sanh tử. Nói các ông không biết đã là xem thường các ông. Việc sanh tử là cái gì mà không biết? Phàm có sanh quyết định có tử, sau khi tử theo nghiệp thọ báo. Huống là trước mắt thường thấy người chết, chết rồi thiêu rồi. Cổ giáo nói:
Ngã kiến tha nhân tử,
Ngã tâm nhiệt như hỏa,
Bất thị nhiệt tha nhân,
Khán khán hựu đảo ngã.
Dịch:
Ta thấy người khác chết,
Tâm ta nóng như lửa,
Chẳng phải nóng vì người,
Sắp tới lượt ta mất.
Giống như câu nói này, tại sao không biết được? Biết thì vẫn biết, chỉ là không chịu tu hành. Nói các ông không chịu tu hành cũng là khi dễ các ông. Hiện tiền chư Đại đức phần nhiều đã từng trải giang hồ, tham vấn các bậc thiện tri thức, hạ thủ công phu tu hành chỉ là chưa đến chỗ ngàn thông trăm ổn. Lỗi tại chỗ nào? Lỗi tại chẳng dũng mãnh, chẳng tinh tấn, chẳng kiên cố, chẳng lâu dài, tạm thời phát tâm nhận chịu, chưa bao lâu lại thối lui. Sở dĩ nói: “Phật pháp không nhiều, người bền lâu khó có, học đạo như tâm ban đầu, thành đạo có thừa, trước sau chẳng đổi, thật là đại trượng phu.” Như hiện nay có được mấy người trước sau chẳng đổi? Thường thường năm cặp thì mười người thối đạo tâm. Xét lý do thối tâm của họ, mỗi người có sự ràng buộc riêng. Chỗ ràng buộc có ba thứ:
Thứ nhất, không luận tăng tục nam nữ mỗi mỗi đều bị thân khẩu ràng buộc.
Kế là, người có quyến thuộc bị quyến thuộc ràng buộc.
Thứ ba, người có gia nghiệp bị gia nghiệp ràng buộc.
Ba thứ ràng buộc này ràng buộc tất cả người. Tất cả người đời bị ba thứ ràng buộc này mà bận rộn hết một đời, ồn náo hết một đời, khổ lụy suốt một đời, vô ích một đời qua suông một đời. Huống là nhân ba thứ ràng buộc này khởi lên vô lượng tham sân si, tạo vô lượng nghiệp ác lớn nhỏ. Do nghiệp báo này rơi trong khổ hải tam đồ bát nạn, sanh tử luân hồi chịu vô lượng khổ não không được giải thoát. Tuy chịu vô lượng khổ não chỉ là trước sau không tỉnh, cái khổ chẳng tỉnh ấy bởi họ không ngộ vậy. Chẳng ngộ cái gì? Là chẳng ngộ thân thể, quyến thuộc, gia nghiệp… đều không phải là của mình.
Như hiện nay nói thân thể chẳng phải là ông, ông còn chưa tin. Sơn tăng dứt khoát sẽ vì ông nói rõ từ đầu. Ban đầu ông vào trong thai mẹ, khi vào thai chỉ riêng một cái thần thức, đâu từng có thân thể đến. Thân thể này là do tinh cha huyết mẹ kết hợp mà thành, chỉ là một khối thịt không có tri giác, chẳng biết đau chẳng biết ngứa, chẳng biết lạnh chẳng biết nóng, chẳng biết đói chẳng biết no, chẳng biết khổ chẳng biết vui. Nhân thức thần của ông gá vào khối thịt ấy, từ đây biết đau ngứa, biết lạnh nóng, biết đói no, biết khổ vui. Đến khi ra khỏi thai liền nhận lấy nó gọi là thân ta. Nếu nói thân không phải của ta, quyết định chẳng tin.
Bởi thế, Phật tổ thương xót đắng miệng nói với các ông: “Cái này không phải thân của ông, nó là cái đấy da thối do tinh huyết kết thành, chẳng thuộc ông quản lý, chẳng do ông sắp đặt, cho đến sanh già bệnh chết chẳng do ông xử phân!” Vì sao biết như vậy? Vả như buổi đầu ông đi vào thai mẹ, bảy ngày một phen đổi, dần dần sanh trưởng. Nào là ngũ tạng lục phủ, bách hài cửu khiếu, tứ chi lục căn, gân xương da thịt từ từ thành hình, đến khi ra khỏi thai đều là do gió nghiệp thổi, sức nghiệp điều khiển, ông hoàn toàn không hiểu không biết, đâu từng do ông sắp đặt. Sau khi sanh ra nuôi lớn đến ba bốn mươi tuổi, tóc bạc răng lay, da nhăn mặt vàng, dần dần biến đổi, dần dần già đến. Già suy trước đến, bệnh theo đó đến. Bệnh đã đến, chết liền theo sau. Biến hoại như thế, mỗi mỗi đều chẳng do ông, ông vốn chẳng mong như thế làm sao quản lý được nó?
Huống nữa, ông từ sanh đến chết trên cái đãy da thối này, đã dùng bao nhiêu thứ ân ái tình nghĩa, bao nhiêu thứ bảo dưỡng nó, bao nhiêu thứ gìn giữ nó, bao nhiêu thứ thuốc thang điều trị nó, mà nó lại quên ơn phụ nghĩa. Như thế nó lại bị người ghét. Vì sao bị người ghét? Như tháng mùa hè nóng bức, có người khỏe mạnh, chợt vừa chập tối phát bệnh cấp bách, sau đó liền tắt thở. Tắt thở đến khoảng giữa đêm, mùi hôi xông đến những người bên cạnh, họ vội vàng dùng quan tài đựng rồi đậy lại, chưa đến sáng đã gấp gấp đem đi thiêu. Dù là những người quyến thuộc chí thân chí ái cũng không cho để lại lâu. Lấy đây mà xét, hôm qua mới chiều còn là người mạnh, hôm nay sớm thành một nắm xương tro, không biết thức thần của họ đã đi về đâu? Sự đổi thay nhanh chóng này trọn chẳng do ông. Đã là thân thể của ông lý đáng phải do ông quản lý. Đã chẳng do ông quản lý, tại sao vọng nhận nó là thân của ông, từ đó bị nó ràng buộc làm lui sụt đạo tâm?
Quyến thuộc của ông cũng thế, họ và ông đồng mang một đấy da thối, họ và ông đều chẳng tự do, họ và ông đều quản lý chẳng được, cơn vô thường đến họ và ông đều chẳng thể thay nhau. Ngày thường trước mắt họ và ông bị ân tình ràng buộc gọi là quyến thuộc, sau khi nhắm mắt thì ông và họ không còn biết nhau. Thế mà tại sao vọng nhận họ làm quyến thuộc, bị họ ràng buộc phải thối thất đạo tâm?
Gia nghiệp của ông cũng vậy, khi còn khỏe mạnh tính toán kinh doanh quý tiếc giữ gìn, cho là sẽ thọ dụng trăm ngàn muôn năm. Ai biết một hơi thở chẳng hít vào thì một mảy tơ đem đi chẳng được. Tại sao lại nhận gia nghiệp của ông, bị nó trói buộc phải thối thất đạo tâm? Đã trải qua nhiều đời bị cái gì sai khiến đó ư?
Hôm nay quý vị đã nghe lời này, cần phải hồi quang chiếu phá, tự tỉnh ngộ ba thứ ràng buộc trên đây, chớ nhận chớ luyến chớ tham đắm, giữ phận an định hồn nhiên qua ngày. Lại phải xoay lại niệm đầu, nhằm trên việc sanh tử phấn phát dũng mãnh tinh tấn tìm đến chỗ sáng tỏ. Gần đây trong chúng có nhiều người ngu muội, thường thường do tâm nhỏ hẹp sanh kiến chấp đoạn diệt. Họ cho rằng lìa ngoài ba thứ trên thì không có chỗ nương tựa, do đó trước mắt buông xả chẳng được. Sao không nghĩ thái tử Tất-đạt-đa sanh trong vương cung, thân đủ ba mươi hai tướng tốt, lấy chủng tộc tôn quý làm quyến thuộc, lấy giàu sang trên thiên hạ làm gia nghiệp, so với các ông hơn kém nhiều ít? Thế mà thái tử Tất-đạt-đa trọn không quyến luyến, một hôm bỏ ân cắt ái, cạo tóc hủy hình, trốn vào chốn sâu trong núi Tuyết, thân thể đói khát gân cốt nhọc nhằn, khổ hạnh đến sáu năm để cầu Phật đạo. Sau khi thành đạo quả báo theo đó, ở trong hội Hoa Nghiêm trên tòa trang nghiêm bách bảo, hiện thân tôn đặc công đức vô tận tự tha thọ dụng, ấy là Báo thân. Bốn mươi mốt vị, mỗi vị có vô lượng vi trần số pháp thân Bồ-tát vây quanh thưa hỏi, ấy là Quyến thuộc. Vô biên thế giới Hoa Tạng Hải lớp lớp không cùng lẫn nhau không ngại, đó là Báo độ. Do nơi quả mà xét đến nhân, bởi ngài sớm tỉnh ngộ, phát đại dũng mãnh, dẹp bỏ ba thứ nghiệp ràng buộc, cần khổ tu hành nên hay cảm ba thứ quả báo thù thắng này. Giả sử khi ngài ở vương cung, tham luyến việc trước mắt buông bỏ chẳng được thì đâu có được quả báo trang nghiêm thù thắng như thế. Việc này mỗi người đều có phần, mỗi người đều làm được, bỏ được liền làm được chẳng thiếu một mảy tơ. Kẻ sợ rơi vào Không, phải thấy rõ chỗ này mà thầm tỉnh.
Duy Tắc tôi nhân ngày kỵ Tiên sư, chúng thỉnh phổ thuyết, từ chối không được, bất đắc dĩ mượn tòa Tiên sư vì chúng nêu bày. Tự hổ thẹn bất tài không thể niêm tụng cơ duyên cổ kim, đề trì cương yếu hướng thượng, lại nói ba hoa thao thao, phát ra bao nhiêu lời cạn cợt quê mùa, làm nhục Tiên sư, làm trò cười cho hàng tác gia. Tuy nhiên, nếu là tác gia thì chẳng nên cười, vì:
Một bản nhạc đồng quê,
Vui buồn người tự khác.
(Sư Tử Lâm Thiên Như Hòa Thượng Ngữ Lục – quyển 9)
*
Thiền sư Lương Giới ở Động Sơn.
Thư từ biệt cha mẹ, lược đại ý:
Được nghe chư Phật ra đời đều do cha mẹ mà có thân, muôn loài sanh trưởng thảy nhờ trời đất che chở. Cho nên không có cha mẹ thì chẳng sanh, không có trời đất thì chẳng trưởng, thảy nhờ ơn dưỡng dục, đều thọ đức che chở.
Song mà, tất cả hàm thức, vạn tượng hình nghi đều thuộc vô thường, chưa lìa sanh diệt. Tuy ơn bú sú nặng nề, công nuôi dưỡng sâu thẳm, nếu đem của cải thế gian phụng dưỡng trọn khó đáp đền, dùng máu thịt dâng hiến cũng không được bền chắc. Trong Hiếu Kinh nói: “Dù một ngày giết đôi ba con vật để cung hiến cha mẹ vẫn là bất hiếu. Vì sẽ lôi nhau vào vòng trầm luân chịu muôn kiếp luân hồi.” Muốn đền ơn sâu dày của cha mẹ đâu bằng công đức xuất gia. Vì sẽ cắt đứt dòng sông ái sanh tử, vượt qua khỏi biển khổ, đáp ơn cha mẹ ngàn đời, đền công từ thân muôn kiếp, bốn ơn ba cõi thảy đều đền đáp. Kinh nói: “Một đứa con xuất gia, chín họ đều sanh lên cõi trời.” Con thệ bỏ thân mạng đời này, chẳng trở về nhà, đem căn trần muôn kiếp chóng tỏ sáng Bát-nhã.
Cúi mong cha mẹ mở lòng hỷ xả, ý chớ trông mong, học theo gương phụ vương Tịnh Phạn và thánh mẫu Ma-da. Hẹn đến sau kia sẽ gặp nhau trong hội Phật, còn hiện nay cam chịu lìa nhau. Con chẳng phải quên ơn dưỡng dục, chỉ vì “thời giờ chẳng đợi người”. Cho nên nói: “Thân này chẳng hướng đời này độ, lại đợi đời nào độ thân này?”
Xin cha mẹ lòng chớ nhớ mong.
Tụng rằng:
Vị liễu tâm nguyên độ sổ xuân,
Phiên ta phù thế mạn thuân tuần,
Kỷ nhân đắc đạo Không môn lý,
Độc ngã yêm lưu tại thế trần.
Cẩn cụ xích thư từ quyến ái,
Nguyện minh đại pháp báo từ thân,
Bất tu sái lệ tần tương ức,
Thi tự đương sơ vô ngã thân.
Dịch:
Chưa rõ nguồn tâm qua mấy năm,
Thương thay mê mải luống trị trầm,
Cửa Không đã lắm người đắc đạo,
Riêng ta trì trệ ở trong trần.
Xin viết thư này từ cha mẹ,
Nguyện thông đại pháp báo từ thân,
Chớ nên rơi lệ thường thương nhớ,
Xem tự buổi đầu con không thân.
Thư sau
Con từ lìa cha mẹ chống tích trượng dạo phương Nam, tháng ngày trôi qua thoáng chốc mười năm, trên đường con đã trải qua muôn dặm.
Cúi mong mẹ đem hết tâm ý hướng về Phật pháp, đừng ôm ấp tình ly biệt, chớ đứng tựa cửa trông con. Mọi việc trong nhà tùy thời sắp đặt, việc nhiều thì phiền não thêm nhiều. Phần anh thì nên tận tâm hiếu thuận, học đòi gương Vương Tường nằm giá, còn em thì hết sức bắt chước Mạnh Tông khóc măng. Phàm người ở đời phải biết tu thân hiếu đễ mới hợp lòng trời. Kẻ làm tăng trong cửa không thì mộ đạo tham thiền để đáp ơn cha mẹ.
Ngày nay hai đường xa cách muôn sông ngàn núi, mượn giấy mực viết vài hàng để tỏ bày tấc dạ.
Tụng rằng:
Bất cầu danh lợi bất cầu Nho,
Nguyện nhạo Không môn xả tục đồ.
Phiền não tận thời sầu hỏa diệt,
Ân tình đoạn xứ ái hà khô.
Lục căn giới định hương phong dẫn,
Nhất niệm vô sanh tuệ lực phò.
Vị báo Bắc đường hưu trướng vọng,
Thí như tử liễu thí như vô.
Dịch:
Chẳng cầu danh lợi, chẳng cầu Nho,
Ưa thích cửa Không bỏ thế đồ.
Phiền não hết rồi lửa sầu tắt,
Ân tình dứt bặt, sông ái khô.
Sáu căn giới định gió thơm cuốn,
Một niệm vô sanh sức tuệ phò.
Xin nhắc mẹ già thôi buồn ngóng,
Vi con đã chết, ví như không.
Thư gửi mẹ
Mẹ cùng con đời trước có nhân duyên mới kết thành tình mẹ con. Kể từ ôm thai trong lòng, sớm chiều cầu thần khấn Phật nguyện sanh được con trai. Thai bào đủ tháng mạng sống chỉ mành, sanh con được toại nguyện quý như châu bảo. Không nề phân uế hôi hám, chẳng ngại bú sú nhọc nhằn. Con vừa thành người dắt đến trường học tập. Hoặc khi con đi chơi về trễ, mẹ tựa cửa trông mong.
Con viết thư về quyết xin xuất gia. Cha đã mất, mẹ già, anh yếu em nghèo nàn, mẹ trông cậy vào ai? Con có ý bỏ mẹ, chớ mẹ nào có tâm quên con. Từ khi con cất bước tha phương, ngày đêm mẹ thường rơi lệ. Khổ thay! Khổ thay
Nay con lại thệ chẳng về quê, mẹ cũng tùy chí nguyện của con. Mẹ không dám mong con như Vương Tường nằm giá, Đinh Lan khắc cây, chỉ mong con như tôn giả Mục-liên độ mẹ thoát khỏi trầm luân tiến lên Phật quả. Nếu mẹ không như vậy e phải có tội. Con cần phải giải quyết cho xong.
(Quân Châu Động Sơn Ngộ Bản Thiền Sư Ngữ Lục)
*
Hòa thượng Say
Thượng tọa Pháp Minh ở chùa Khai Nguyên -Hình Châu, là đệ tử thiền sư Báo Bổn Hữu Lan dòng Vân Môn, chưa bao lâu thầm được pháp nhẫn. Sau trở về quê, thích lang thang, thường uống rượu đánh bạc, mỗi lần quá say hát mấy bài Liễu từ, ngày nào cũng thế, dân làng xem thường Sư. Được mời thọ trai Sư cự, mời uống rượu Sư vui. Hơn mười năm như vậy, mọi người đều gọi là Hòa thượng Say. Một hôm Sư bảo chúng trong chùa:
– Sáng mai ta sẽ đi, các ông đừng đi đâu.
Chúng cười thầm. Sáng hôm sau, Sư đắp y lên tòa kêu to:
– Ta đi đây! Nghe ta nói kệ.
Chúng chạy ào đến xem. Sư nói:
Các Giai Thoại Thiền
Bình sinh túy lý điên quyết,
Tuy lý khước hữu phân biệt,
Kim tiêu tửu tỉnh hà xứ?
Dương liễu ngạn, hiểu phong tàn nguyệt.
Dịch:
Bình sinh say sưa té ngã,
Trong say lại có phân biệt,
Tối nay rượu tỉnh đi đâu?
Bờ dương liễu trăng tàn gió sớm.
Nói xong Sư ngồi yên thị tịch, tới lay thì đã đi rồi.
(Phật Tổ Cương Mục – quyển 37)
*
Lưu đạo giả. Sư hiệu Tu Diễn ở chùa Đông Sơn -Dự Chương. Sư đắc pháp với Thạch Môn Khiêm, có kệ rằng:
Vị ngộ chi nhật yếu tham thiền,
Nhất kiến Thạch Môn tiện thản nhiên.
Mông sư chỉ cá chân tiêu tức,
Phương tri diêm hàm thố thị toan.
Dịch:
Ngày chưa ngộ đạo cần tham thiền,
Gặp Thạch Môn rồi liền thản nhiên.
Nhờ sư chỉ rõ tin tức thật,
Mới hay muối mặn giấm chua lè.
Từ đó Sư chuyên tu hạnh đầu-đà, mùa hạ ban đêm thường cởi trần để bố thí máu cho muỗi. Có người đem y cúng dường Sư, Sư cúng cho vị khác. Sư làm kệ:
Tứ thập niên lai thường tiển tục,
Bất thế đầu hề bất tháo dục,
Quận quan vị ngã hoán y sam,
Chỉ khủng bình sinh nguyện bất túc.
Dịch:
Bốn chục năm liền thường chân trần,
Chẳng cạo đầu chừ chẳng tắm thân,
Quan quận vì tôi đổi chiếc áo,
Chỉ ngại chẳng đủ nguyện bình sinh.
Sau Sư ngồi kiết già thị tịch và nhập tháp nguyên trạng.
(Vân Ngọa Kỷ Đàm – quyển thượng)
*
Tăng hỏi Triệu Châu:
– Được nghe Hòa thượng thân thấy Nam Tuyền phải không?
Triệu Châu đáp:
– Trấn Châu sản xuất củ cải to.
Quốc sư Nhất Sơn bình:
La bặc thân tằng xuất Trấn Châu,
Môn tiền thiên cổ lộ du du,
Triều triều mộ mộ nhân lai khứ,
Kỷ cá thân tằng đảo địa đầu.
Dich:
Củ cải chính từng xuất Trấn Châu,
Đường xưa trước cửa tít xa mù,
Chiều chiều sớm sớm người qua lại,
Mấy ai từng đến chốn này đâu!
(Nhất Sơn Quốc Sư Ngữ Lục – quyển thượng)
*
Quốc sư Phật Quang Viên Mãn Thường Chiếu, năm Ất Hợi rũ áo về chùa Năng Nhân núi Nhạn Đăng, Ôn Châu. Năm sau, quân Nguyên kéo đến, chúng đều chạy hết. Sư không đi, một mình ngồi trong chùa. Quân Nguyên lấy dao kề cổ, thần sắc Sư không thay đổi, liền nói kệ:
Càn khôn vô địa trác cô cung,
Hỷ đắc nhân không pháp diệc không,
Trân trọng Đại Nguyên tam xích kiếm,
Điển quang ảnh lý trảm xuân phong.
Dịch:
Không đất cắm dùi khắp càn khôn,
Mừng được người không pháp cũng không,
Xin thỉnh Đại Nguyên ba thước kiếm,
Trong ánh chớp lòe chém xuân phong.
Quân Nguyên nghe xong, hối hận rút lui.
(Phật Quang Quốc Sư Ngữ Lục – quyển 9)
*
Thiền sư Mân ở Viên Thông, Nội hàn Phạm Công đến viếng Sư, Nội hàn than:
– Tuổi sắp già rồi, rơi vào hàng quan lại, cách việc này hơi xa.
Sư liền gọi:
– Nội hàn!
Ông ứng thanh:
– Dạ!
Sư bảo:
– Đâu có xa.
Ông vui mừng nói:
– Xin Thầy chỉ dạy thêm.
Sư nói:
– Đây cách Hồng Đô bốn chặng đường.
Nội hàn suy nghĩ, Sư bảo:
– Thấy thì liền thấy, suy nghĩ là sai.
Nội hàn rất vui, từ đây có chỗ vào.
*
Gián nghị Bành Nhữ Lâm chép kinh Quan Âm đến tặng Sư, Sư đưa lên hỏi:
– Cái này là kinh Quan Âm, cái nào là kinh Gián nghị?
Bành thưa:
– Đây là chính tôi chép.
Sư bảo:
– Chép là chữ, cái nào là Kinh?
Bành cười thưa:
– Lại hiểu không nổi.
Sư bảo:
– Liền hiện thân tể quan mà vì nói pháp.
Bành thưa:
– Người người có phần.
– Chớ chê bai Kinh.
Bành thưa:
– Thế nào là phải?
Sư đưa quyển Kinh lên chỉ ông. Bành vỗ tay cười to nói:
– À!
Sư bảo:
– Vậy mà nói chẳng hiểu nổi!
Bành đảnh lễ.
(Tùng Lâm Thạnh Sự – quyển thượng)
*
Lược truyện Phó đại sĩ
Phó đại sĩ còn gọi là Thiện Huệ đại sĩ. Ngài sanh ngày mùng 8 tháng 5 năm Đinh Sửu, nhằm niên hiệu Kiến Võ năm thứ tư (497 TL) nhà Tề, trong gia đình Phó Tuyên Từ ở làng Song Lâm, làm nghề nông. Ngài tên tục là Hấp, mẹ họ Vương.
Năm mười sáu tuổi, ngài thành hôn với con gái nhà họ Lưu là Diệu Quang. Sau này sanh hai người con trai là Phổ Kiến và Phổ Thành.
Năm hai mươi bốn tuổi, Đại sĩ gặp vị tăng ở Ấn Độ hiệu Tung Đầu-đà bảo ngài rằng:
– Tôi cùng ông đã phát thệ nguyện độ sanh thời Phật Tỳ-bà-thi, nay ở cung Đâu-suất y bát hiện còn, đến bao giờ mới trở về?
Vị tăng liền bảo ngài đến bờ hồ xem bóng sẽ thấy. Ngài xem thấy bảo cái và vòng hào quang của mình, liền ngộ nhân duyên trước. Ngài cười nói với Đầu-đà:
– Trong lò rèn còn nhiều sắt thô, cửa thầy thuốc còn nhiều con bệnh, độ sanh là việc gấp, đâu rảnh mà nghĩ cái vui kia.
Đầu-đà chỉ chỗ hai cây cao vót trên núi Tùng, bảo:
– Nên ở chỗ đó.
Đại sĩ liền dẫn cả gia đình vào núi Tùng, dưới hai cội tùng lớn cất am để hiệu là “Song Lâm thọ hạ đương lai giải thoát Thiện Huệ đại sĩ”. Ở đây Đại sĩ cùng gia đình trồng tỉa lấy mà ăn, ngày làm đêm tu, suốt bảy năm như thế.
Một hôm Đại sĩ đang ngồi yên bỗng thấy ba đức Phật: Phật Thích-ca, Phật Kim Túc, Phật Định Quang từ phương đông đi đến phóng hào quang sáng như ban ngày. Đại sĩ lại thấy hào quang trên trời tụ họp xung quanh ngài. Từ đây về sau có khi Đại sĩ bảo đồ chúng: “Ta được Thủ-lăng-nghiêm Tam-muội” hoặc “ta được Vô lậu trí”. Tăng tục bốn phương nghe tiếng lần lượt kéo đến tụ tập rất đông. Am này trở thành ngôi già lam sung thịnh. Đại sĩ giáo hóa bà Diệu Quang và hai người con đều xuất gia làm tăng.
Đến giữa niên hiệu Đại Thông thứ sáu (534 TL) nhà Lương, Đại sĩ đến triều kiến vua Lương Võ Đế. Một hôm vua thỉnh Đại sĩ giảng kinh Kim Cang. Đại sĩ vừa đăng tòa liền cầm thủ xích vỗ trên bàn một cái rồi xuống. Nhà vua ngạc nhiên. Chí Công tâu:
– Bệ hạ hội chăng?
Vua nói:
– Chẳng hội.
Chí Công tâu:
– Đại sĩ giảng Kinh xong.
*
Một hôm Đại sĩ đầu đội mũ Đạo sĩ, thân mặc ca-sa, chân mang giày Nho đi vào triều. Vua hỏi:
– Là Tăng ư?
Đại sĩ chỉ cái mũ. Vua hỏi:
– Là Đạo sĩ ư?
Đại sĩ chỉ đôi giày. Vua hỏi:
– Là thế tục ư?
Đại sĩ chỉ ca-sa.
Niên hiệu Thái Kiến năm đầu (569 TL) nhà Trần, ngày 24 tháng 4, Đại sĩ quy tịch, thọ 73 tuổi. Những tác phẩm còn lưu lại là: Tứ Thời Thi, Tâm Vương Minh, Hoàn Nguyên Thi, Phù Âu Ca, Hành Lộ Nan, Hành Lộ Dị…
Kệ tụng của Phó đại sĩ
Dạ dạ bão Phật miên,
Triệu triệu hoàn cộng khởi,
Khởi tọa trấn tương tùy,
Ngữ mặc đồng cư chỉ.
Tiêm hào bất tương ly,
Như thân ảnh tương tự,
Dục thức Phật khứ xứ,
Chỉ giá ngữ thanh thị.
Dịch:
Đêm đêm ôm Phật ngủ,
Sáng sáng cùng Phật dậy,
Đứng ngồi thảy theo nhau,
Nói nín đồng tư thái.
Mảy may cũng chẳng rời,
Dường như hình bóng vậy,
Muốn biết chỗ Phật đi,
Chỉ nơi ngôn ngữ ấy.
Kệ pháp thân
Không thủ bả sừ đầu,
Bộ hành kỵ thủy ngưu,
Nhân tùng kiều thượng quá,
Kiều lưu thủy bất lưu.
Dịch:
Tay không cầm cán mai,
Đi bộ lưng trâu ngồi,
Người trên cầu qua lại,
Cầu trôi nước chẳng trôi.
(Phật Tổ Cương Mục – quyển 27, 28)
*
Kinh Kim Cang, Phật nói: “Tri ngã thuyết pháp như phiệt dụ giả, pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp.”
Phó đại sĩ tụng:
Độ hà tu dụng phiệt,
Đảo ngạn bất tu thuyền,
Nhân pháp tri vô ngã,
Ngộ lý cự lao thuyên.
Trung lưu nhưng bị nịch,
Thùy luận tại nhị biên,
Hữu vô như thủ nhất,
Tức bị ô tâm điền.
Dich:
Qua sông, bè phải có,
Đến bờ chẳng dùng thuyền,
Nhân -pháp biết vô ngã,
Ngộ lý nhọc gì bàn.
Giữa dòng vẫn bị đắm,
Ai luận tại hai bên,
Có -không nếu giữ một,
Liền bị nhơ tâm điền.
(Chỉ Nguyệt Lục – quyển 18)
*
Tán dương công đức Lục Tổ và khánh chú phục hưng chùa Nam Hoa
Đại sư Thái Hư
Tôi vừa sang Quảng Châu liền đến Tào Khê, có hai ý:
Nhân vì tùng lâm Thiền tông do một phái Tào Khê truyền khắp thiên hạ, như Thiền tự ở Nhật Bản, Cao Ly đều là Tổ tông nơi Tào Khê. Nhưng từ Lục Tổ về sau, chùa Nam Hoa ở Tào Khê thời gian hưng thịnh thì ngắn, thời gian suy tàn thì dài. Đời Minh đã được đại sư Hám Sơn trùng hưng, hiện nay lại có hòa thượng Hư Vân đến dự định chấn hưng, thật là thịnh hội ngàn năm khó gặp!
Cho nên tôi đến chiêm lễ nhục thân Lục Tổ, đồng thời cũng đến khánh chú đạo tràng Lục Tổ phục hưng. Bởi thế tôi đến đây thật là hướng Hòa thượng và các vị Thủ lãnh chức sự chúc mừng, vốn không có pháp gì để nói. Nhân tại tòa có một số người mới phát tâm thọ giới và tín chúng tại gia các nơi tụ về, đồng nhóm họp tại đạo tràng chân thân Lục Tổ, thật là có nhân duyên thù thắng, cho nên tưởng cũng cần tán thán một điểm quan hệ công đức Lục Tổ, để khởi xướng.
Tại thời Lương Võ Đế, ở Ấn Độ có Trí Dược Tam Tạng đi đường biển sang miền Nam. Trước đây, các học giả Ấn Độ sang Trung Quốc phần lớn đều đi đường Tây Bắc mà đến. Đi từ Nam Hải đến, chỉ có Khương Tăng Hội vào thời Tam quốc, sau này e chỉ có Trí Dược Tam Tạng mà thôi. Trí Dược Tam Tạng lưu nhiều linh tích tại Quảng Đông, trước là trồng một cây bồ-đề tại chùa Quang Hiếu ở Quảng Châu, dự đoán rằng: “Sau một trăm bảy mươi năm sẽ có nhục thân Bồ-tát thế phát thọ giới tại đây.” Sau ngài đến Tào Khê uống nước có vị thơm, liền tìm đến chỗ này lập ngôi chùa Bảo Lâm, cùng ghi lời tiên tri rằng: “Một trăm bảy mươi năm sau có nhục thân Bồ-tát ở đây khai diễn thượng thừa, độ vô lượng chúng, truyền Phật tâm ấn.”
Ở đây nói nhục thân Bồ-tát là Lục Tổ đại sư, trên Phật giáo sử đã sớm chứng thực rồi. Chúng ta nhằm trên công đức hành sự một đời của Lục Tổ, cũng đủ xác tín ngài là một vị đại Bồ-tát ứng thế. Có nhiều người thường cho Lục Tổ xuất thân là một tiều phu dốt nát, bèn cho là Phật giáo hoàn toàn xa lìa văn tự, vì Lục Tổ chẳng cần văn tự mà thông suốt Phật lý. Đâu chẳng biết Lục Tổ tùy thời cơ thị hiện như thế, quyết không phải là dốt nát, mà đã thành tựu vô lượng ngôn ngữ văn tự tam-muội đà-la-ni, không phải những người bác học đa văn, thế trí biện thông ở thế gian có thể so sánh được. Điều này từ chỗ nào để chứng minh? Như trong kinh Pháp Bảo Đàn nói: “Nghe ni Vô Tận Tạng tụng kinh Niết-bàn, liền biết diệu nghĩa.” Lại nghe Pháp Đạt tụng kinh Pháp Hoa đến khai thị ngộ nhập tri kiến Phật, liền suốt được áo chỉ. Nếu chẳng phải đã sâu trồng gốc công đức, trí tuệ như biển thì làm sao được như vậy? Lại ngài nghe người tụng kinh Kim Cang, liền hoát nhiên khai ngộ, cũng là một loại phương pháp ứng cơ thị hiện, vì khi ấy kinh Kim Cang được phổ biến hoằng thịnh ở đời, do đó ngài đến tham lễ Ngũ Tổ, vừa nghe kinh Kim Cang liền khai ngộ. Vì thế, chẳng những ngài truyền Phật tâm ấn, và cũng truyền trì pháp tạng, không riêng gì Lục Tổ như thế, mà từ Ca-diếp về sau đều như vậy cả.
Lại kinh luận Đại Tiểu thừa, tinh mật vi diệu nhất không qua các bộ kinh luận Duy thức, như các kinh Lăng-già, Thâm Mật, Hoa Nghiêm cũng đều như thế, mà bốn quyển Lăng-già truyền Phật tâm ấn, là từ Sơ tổ Đạt-ma trải qua các đời trao truyền. Trong kinh Pháp Bảo Đàn nói: “Có Tỳ-kheo Trí Thông thường xem kinh Lăng-già đến hơn ngàn lần, mà không hiểu tam thân tứ trí, lễ Sư cầu giải nghĩa này.” Khi ấy, Lục Tổ liền vì ông giải đáp: “Ba thân ấy, thanh tịnh pháp thân là tánh của ông, viên mãn báo thân là trí của ông, thiên bá ức hóa thân là hạnh của ông.” Sơ sài vài câu thế ấy, liền bao trùm được nghĩa tam thân trong tất cả các kinh luận đã nói không sót. Bởi ngài ngay Người hiện tại rõ ba thân, nên nói: “Nếu lìa bản tánh riêng nói ba thân, liền gọi là thân không trí.” Vì từ bản nhân mà nói ba thân, mới hiển bày Phật pháp bình đẳng. Học Phật là việc bổn phận của mỗi người. Nếu không từ tự tánh nói ba thân thì, ba thân dường như hoàn toàn thuộc trên Phật quả của người khác mà có, đâu không phải chính ta lại vô phần hay sao? Cho nên khảo sát chư cổ đức đối kinh luận giải nghĩa ba thân, chưa có vị nào nêu bày sáng sủa bằng.
Trí Thông đã rõ Tam thân, liền hỏi nghĩa Tứ trí thế nào? Tổ bảo: “Đã hiểu ba thân liền rõ tứ trí, nếu lìa ba thân riêng nói tứ trí, đây gọi là có trí không thân.” Đó là hiển bày lý thân trí không hai, cùng với Thành Duy Thức luận, Phật Địa Kinh luận nói lý tam thân tứ trí rất giống nhau. Bởi vì pháp thân tức là lý thể pháp thân thành tựu. Thành Duy Thức luận nói: “Trong phần tứ trí công đức chân thật, Cảnh trí khởi lên thường khắp sắc thân, nhiếp tự thọ dụng. Bình đẳng trí hiện ra Phật thân, nhiếp tha thọ dụng. Thành sự trí hiện ra các thứ thân tướng tùy loại, nhiếp biến hóa thân.” Trong đây đã nói rõ sự xen lẫn quan hệ của Tam thân và Tứ trí, đến như diệu dụng của Diệu quan sát trí tức là xem cơ nói pháp. Cho nên biết Tam thân chẳng lìa Tứ trí, Tứ trí chẳng rời Tam thân, nghĩa này rất sâu!
Phật thường tự nói: “Ta đối phàm ngu chẳng khai diễn”, mà bị Lục Tổ mấy câu phá xong. Nên biết Lục Tổ là bậc đại thánh Bồ-tát ứng hiện, nếu thật là người dốt nát thì làm sao đối với học lý cao thâm của Duy thức mà có trình độ thấy được như thế? Vả lại, ngài còn nói kệ tụng giản lược rõ ràng và khái quát thâm nghĩa chuyển thức thành trí. Kệ rằng:
Đại viên cảnh trí tánh thanh tịnh,
Bình đẳng tánh trí tâm vô bệnh,
Diệu quan sát trí kiến phi công,
Thành sở tác trí đồng Viên cảnh.
Ngũ bát, lục thất quả nhân chuyển,
Đản chuyển danh ngôn vô thật tánh,
Nhược năng chuyển xứ bất lưu tình,
Phồn hưng vĩnh xứ Na-già định.
Đại viên cảnh trí tánh thanh tịnh là, khi thức thứ tám a-lại-da đến quả vị Phật chuyển thành Đại viên cảnh trí, liền xả bỏ hết tất cả pháp sanh tử hữu lậu và vô lậu, cùng pháp giới bình đẳng thanh tịnh tương ưng, vô lậu hữu vi vô vi được tròn sáng triệt để. Song pháp giới thanh tịnh vẫn là tự tánh sẵn vậy, chúng sanh Phật bình đẳng, mà chúng sanh mê nên ở trong đó vọng có sanh tử điên đảo lưu chuyển, vì chư Phật ngộ liền tương ưng như như, chuyển thành Đại viên cảnh trí, pháp thân cứu cánh thanh tịnh.
Bình đẳng tánh trí tâm vô bệnh là, chúng sanh chúng ta sở dĩ có các thứ bệnh sanh-già-bệnh-chết, nó kết tụ bởi “vô minh, hữu ái”. Trong kinh Duy-ma-cật nói: “Vô minh, hữu ái này thật là căn nguyên các bệnh của thân tâm.” Nói rộng ra, thức thứ bảy luôn luôn tương ưng với ngã si, ngã ái, ngã kiến, ngã mạn bốn thứ căn bản phiền não. Bởi vì thức mạt-na thứ bảy ở nhân địa nhiễm ô, mê muội không có trí, thường thường chấp kiến phần thức thứ tám làm tự nội ngã, đây là cái ngã si mà người ngu không thể đạt đến, do ngu si không rõ chân thức thứ tám, vọng khởi chấp ngã kiến, y đó liền khởi tham trước nên có ngã ái, bởi ngã ái nên cao mình lấn người, thành có ngã mạn. Do bốn thứ phiền não này theo đuổi nơi tâm, nên vô lượng phiền não đều nhân đó mà khởi, thành có tâm bệnh. Nếu đem tâm bệnh trên thức thứ bảy dẹp bỏ, tâm bệnh tự nhiên thuyên giảm. Bình đẳng tánh trí cũng tự nhiên hiện bày. Thế nên dùng ba chữ tâm vô bệnh, để hiển bày bình đẳng tánh trí thật là ách yếu.
Diệu quan sát trí kiến phi công là, thông thường nhiều người cho Diệu quan sát trí là do trí phân biệt kiến giải khởi lên, song thật Diệu quan sát trí là vô phân biệt trí, thuần túy, nếu có phân biệt năng quán sở quán, kiến phần tướng phần liền rơi vào cái quán tưởng bất diệu của điên đảo phân biệt, trở thành chướng ngại vật của Diệu quan sát trí. Vô phân biệt trí tức là Bát-nhã diệu tuệ, do văn tự Bát-nhã đến quán chiếu Bát-nhã, do quán chiếu Bát-nhã đến thật tướng Bát-nhã tức là đến cảnh giới vô phân biệt trí. Chỉ ban đầu do văn tự giáo lý mà khởi quán chiếu, giáo lý này cũng là giáo lý vô phân biệt, quán chiếu này cũng là quán chiếu vô phân biệt. Song hai vị này thảy ở trên năng sở đối đãi, mục tiêu của nó là cầu chứng vô phân biệt trí, nên khởi gia hạnh vô phân biệt trí, chính quán chiếu Bát-nhã cũng thành vô phân biệt. Từ đây lại tiến lên chứng được thật tướng Bát-nhã tức căn bản vô phân biệt trí, liền cùng vô phân biệt tánh thể, như như tương ưng, lý trí không hai, năng sở cả hai đều mất, mới là căn bản vô phân biệt trí. Do căn bản vô phân biệt trí này, sanh khởi Hậu đắc trí, Gia hạnh trí, đều là vô phân biệt trí, chính đây là Diệu quan sát trí. Vì thế, Diệu quan sát trí nếu ở trong phân biệt kiến thì không phải Diệu quan sát trí, cho nên nói kiến phi công. Phải do vô phân biệt trí rỗng sạch hết tất cả kiến phân biệt, như hư không tan nát, đại địa chìm lặn, trọn không sở đắc thì Diệu quan sát trí mới hiển hiện. Thế nên dùng kiến phi công hiển bày Diệu quan sát trí, chỗ ách yếu này trong các luận thích không thể nói được.
Thành sở tác trí đồng Viên cảnh là, vì năm thức trước ở trong nhân vị, cùng thức thứ tám đồng hiện lượng tánh cảnh, nếu trên cái kiến văn giác tri chẳng rơi vào Độc đầu ý thức, trọn cùng thức thứ tám một loại duyên hiện lượng tánh cảnh. Chỉ bình thường chưa cùng Đại viên cảnh trí tương ưng thì không có diệu dụng, phải đợi thức thứ tám chuyển thành Đại viên cảnh trí, vô cấu thức hiện ngũ căn thanh tịnh, năm thức trước cũng theo đó chuyển thành Thành sở tác trí thanh tịnh, nên nói đồng Viên cảnh.
Ngũ bát, lục thất quả nhân chuyển, đản chuyển danh ngôn vô thật tánh, là năm thức trước cùng thức thứ tám chuyển thành trí là ở trên quả vị, thức thứ sáu cùng thức thứ bảy chuyển thức thành trí là ở trên nhân vị. Chỗ này ở trong các kinh luận Duy thức có thuyết minh rõ ràng, Lục Tổ dùng một câu khéo hay khái quát nghĩa đó. Chỉ nói chuyển là chuyển xả danh ngôn tập khí của Biến kế phân biệt trên Y tha khởi tánh. Danh ngôn tập khí này, trong ngũ pháp là: danh, tướng, phân biệt. Do danh ngôn tập khí này, nên từ thức thứ tám hiện khởi các thứ nhiễm pháp sanh diệt lưu chuyển. Nói chuyển thức thành trí, tức là chuyển danh ngôn tập khí các thứ hư vọng phân biệt nhiễm pháp trên Y tha khởi tánh này, trở thành tịnh trí thuần túy vô lậu, chẳng có một vật thật có thể chuyển. Thật tánh là chỉ bình đẳng pháp thân, từ xưa đến nay chẳng tăng chẳng giảm, chẳng cấu chẳng tịnh, không động không dao, không chuyển không chẳng chuyển, tuy nói ngũ bát, lục thất quả nhân chuyển, chỉ chuyển pháp sanh diệt, mà Thành thật tánh này vốn không chuyển biến. Cốt yếu ở chuyển xứ bất lưu tình, ngay đó liền đồng Phật quả.
Phồn hưng vĩnh xứ Na-già định là, đi đứng ngồi nằm nói nín động tịnh đều là sinh hoạt ở trong định tuệ. Na-già là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Long, dụ Phật là rồng trong loài người, thường ở trong định, nên nói: “Na-già thường tại định, không có khi nào chẳng định.” Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền, tìm tướng bốn oai nghi trọn không thể được, trụ nơi Vô trụ Đại Bát-niết-bàn, tịch mà thường dụng, dụng mà thường tịch, thường thường ứng cơ hiện thân nói pháp mà thường thường không tướng có thể được, thường thường không tướng có thể được mà thường thường ứng cơ nói pháp, tột mé vị lai không có cùng tận.
Lục Tổ nói chuyển bát thức thành tứ trí, cốt yếu trở về trên bản thân của mỗi người, cốt yếu mỗi người ngay chỗ chuyển chẳng lưu phàm tình, là thực hiện vô phân biệt vô trụ tướng tứ trí Bồ-đề Niết-bàn. Hành sự theo nhật dụng bình thường đều là an trụ trong tứ trí Bồ-đề, thế ấy mà ai được thân thiết liền biết thú vị. Cho nên Lục Tổ chẳng những không dốt nát mà là đủ đại trí tuệ, đầy đủ văn tự ngôn ngữ tam-muội, thật không phải người phàm có thể đo lường được. Tóm lại Phật pháp là việc trên bổn phận mỗi người, nếu đối bổn phận rõ suốt thì, tam tạng mười hai bộ Kinh cũng chẳng qua chú giải trên bổn phận của chính mình, của mỗi người mà thôi. Phật thuyết pháp độ sanh cũng từ trên bổn phận của chính mình thị hiện nói pháp độ sanh. Khi này Lục Tổ ứng hóa thị hiện, cũng đâu chẳng phải việc trên bổn phận của chính mình? Cho nên Phồn hưng vĩnh xứ Na-già định, cũng có thể nói Na-già định vĩnh phồn hưng dụng.
Hiện nay chúng ta tất cả người vật ở trong đạo tràng Lục Tổ, đâu chẳng phải là Lục Tổ phồn hưng đại dụng kiến lập, đâu không phải là pháp thân công đức đẳng lưu của Lục Tổ thị hiện. Như đại sư Hám Sơn vẫn là công đức của Lục Tổ thị hiện, chính nay Lão hòa thượng Hư Vân nhận lời thỉnh của tứ chúng ở Quảng Đông đến trùng hưng đạo tràng này cũng là Lục Tổ hiện thân không khác. Thế nên, quan sát thể nghiệm công đức Lục Tổ thì, công đức Lục Tổ đầy khắp chỗ này, tất cả chúng ta ở trong đạo tràng của Lục Tổ, đều cùng Lục Tổ thân thiết tương ưng đương thể không khác Lục Tổ.
Hiện nay, các vị mới phát tâm thọ giới ở đây phải biết nghĩa lý lời nói của Lục Tổ “tâm địa không lỗi tự tánh giới”. Khi thọ giới tuy có tam sư thất chứng, cùng với các phương pháp nghi thức, cốt yếu tất cả giới pháp đều từ pháp thân Phật Thích-ca-mâu-ni đẳng lưu mà ra, pháp thân và sanh thân không hai, xưa nay tự tánh thanh tịnh, tự tánh thanh tịnh tức là giới thể. Cho nên thọ giới là chẳng từ người khác được, chính do tự tánh vô cấu tâm của mỗi người làm giới thể thanh tịnh, mới gọi là đắc giới. Mỗi người đắc tự tánh giới, tức đồng Lục Tổ tự tánh giới. Nhưng những người thọ giới tại đây cũng phải biết các nhân vật Hòa thượng, Giới sư, Dẫn lễ sư v.v… đều từ công đức Lục Tổ đẳng lưu thị hiện. Thành tựu tất cả công đức như thế thì đạo tràng Tam bảo này được thành tựu, là phước điền chân chánh của trời người.
(Thái Hư Toàn Thư – quyển 7 )