Nội dung:
Hôm nay tôi có một vài vấn đề nhỏ nhắc nhở trong chúng.
Hồi xưa, khi tôi giảng bài Chứng Đạo Ca, có một câu nói rằng: “Liễu tức nghiệp chướng bản lai không, vị liễu ưng tu hoàn túc trái.” Nghĩa là người được liễu ngộ rồi thì nghiệp chướng xưa nay đều không; người chưa liễu ngộ phải đền nợ trước.
Có thiền khách Hạo Nguyệt hỏi thiền sư Trường Sa Cảnh Sầm:
– Cổ đức nói: “Liễu tức nghiệp chướng bản lai không, vị liễu ưng tu hoàn túc trái.” Vậy tổ Sư Tử ở Ấn Độ đã liễu chưa mà bị vua Kế-tân chặt đầu? Tổ Huệ Khả liễu chưa mà vẫn chết trong khám?
Đó là câu hỏi đa số người đều hoang mang nghi ngờ.
Ngài Trường Sa Cảnh Sầm trả lời rằng:
– Đại đức chưa hiểu nghiệp chướng.
Thiền khách hỏi lại:
– Thế nào là nghiệp chướng?
– Bản lai không.
Câu nói thật là khó hiểu!
Bây giờ tôi dẫn một câu của ngài Tông Mật: “Thể của tâm mình là không, thể không mà thành sự.” Hai bên đều nói một ý, nhưng bên kia nói văn chương, bên đây nói đơn giản. Cái gì là thể không? Cái gì là thành sự? Quay lại mình sẽ biết!
Tất cả nghiệp đều từ thân miệng ý phát sinh. Tuy nói thân, miệng, ý nhưng chủ động là ý, ý dấy niệm rồi phát ra ngôn ngữ, hành động. Ngôn ngữ hành động thiện là từ ý thiện, ngôn ngữ hành động ác là từ ý ác.
Mặc dù nói tất cả các nghiệp do ý tạo, nhưng sự thật cái trực tiếp tạo nghiệp là miệng và thân. Giả sử trong ý mình muốn giết người, nhưng nếu không nói, không làm thì không giết ai hết. Như vậy thành nghiệp là do lời nói và hành động. Còn nếu chỉ trong ý niệm thì chưa thành nghiệp.
Do đó, trong Luật nói, giả sử mình có ý niệm xấu với người nữ, lý đáng phạm tội, nhưng nếu biết dừng ngay lúc ý niệm đó vừa khởi thì không có tội, vì đâu phạm tới ai. Bởi vậy, cái chủ động tạo nghiệp là ý, nhưng thành nghiệp là khẩu và thân.
Bây giờ xét kỹ, ý có thật không? Những niệm khởi lên chúng ta nhìn tường tận tung tích nó thấy có thật không? Quý vị nghĩ cái này, cái kia liên miên nhưng khi quay lại tìm thì không thấy, nó lặng mất. Nếu thể nó là thật có, tìm ắt phải thấy, phải gặp. Nhưng vì thể không thật, nên tìm lại liền mất. Tìm lại nó mất nên gọi là thể không. Thể không nhưng theo nó thì thành nghiệp, thành sự.
Vậy khi ý niệm ác vừa dấy lên, mình biết quay lại tìm để dẹp bỏ, nó liền tan hoang, không thành, không có. Nếu theo ý niệm đó thốt ra lời ác, hành động ác thì thành sự, thành sự tức tạo nghiệp. Vậy gốc của nghiệp có hay không? Thật có hay thật không?
Gốc thì xưa nay là không, nhưng ngọn thì thành sự, thành có. Cho nên người tu thiền chúng ta phải đi thẳng từ gốc. Dẹp nghiệp không phải dẹp ở thân miệng mà dẹp ngay ở ý. Những ý niệm vừa dấy lên chúng ta phải quán chiếu cho nó tan mất, cũng giống như sương mù có ánh nắng rọi xuống thì tự nhiên tan, không còn gì. Nếu để nó dày đặc, thành sự rồi là thành nghiệp.
Như vậy câu nói “Liễu tức nghiệp chướng bản lai không” để chỉ rằng, người liễu ngộ thì thấu suốt bản chất của nghiệp xưa nay là không, thể không thật. Còn nếu người chưa liễu, nghĩa là chưa thấu suốt thì bị nghiệp dẫn đi tạo tội, sau phải đền tội. Làm ác thì chịu ác, quả báo nhất định không sai chạy.
Trở lại hai vị tổ Sư Tử và tổ Huệ Khả, hai vị đó liễu rồi, thấy bản chất nghiệp là không nhưng tại sao phải đền nợ trước? Chúng ta thấy các ngài có đền nghiệp, nhưng các ngài thấy nghiệp là không có thật. Thân đã không thật thì nghiệp làm sao thật! Bởi vậy khi vua Kế-tân hỏi tổ Sư Tử:
– Ngài nói rằng ngài đã được không tướng, đã lìa sống chết, vậy có thể cho ta cái đầu chăng?
Tổ trả lời:
– Thân chẳng phải của ta, sá gì cái đầu.
Vua liền chặt đầu ngài rơi xuống đất. Đối với Tổ, cái đầu cũng là không, vậy ngài có trả nghiệp chăng?
Đây là một vấn đề rất thiết yếu trong nhà Phật. Nghiệp đối với người mê thì phải đền trả đầy đủ, nhưng đối với người ngộ, thấy nghiệp không thật nên không có trả. Nói không trả, người ta tưởng rằng mọi oan khiên đã tạo chắc không dính dáng gì nữa. Chúng ta đừng nghĩ rằng ngộ đạo rồi, những oan khiên thuở xưa bỗng dưng hết sạch. Không phải vậy! Chính đức Phật còn bị các nạn kim thương, mã mạch…, ngài Mục-kiền-liên cũng bị người đánh bầm giập mình mẩy mà chết.
Như vậy, dù ngộ rồi, oan khiên xưa vẫn phải trả. Tuy nhiên, người mê khi trả thì oán hờn số phận, than trời trách đất. Người ngộ biết mình còn nợ cũ phải trả cho hết, nên trả với thái độ bình thản, không hờn trách gì cả. Thân này không thật thì bao nhiêu thứ nợ có thật đâu. Nên người ngộ đạo rồi trả mà thấy như không trả. Đó là trọng tâm.
Hiểu như vậy, trên đường tu chúng ta mới không buồn, không trách, sao có những vị Hòa thượng khi gần tịch rất thảnh thơi, ra đi một cách tự tại, mình thấy thích quá; lại có những Hòa thượng đạo hạnh rất cao, khi gần tịch bị đau đớn hành hạ; còn có người tu không cao khi ra đi lại thảnh thơi, an nhàn.
Điều đó nói lên những oan khiên cũ. Hiện đời tuy tu hành cao siêu nhưng oan khiên cũ còn thừa, thời gian cuối nó hành hạ. Còn những vị tu tuy không cao lắm, nhưng nợ trước không có, bây giờ tu không tạo nghiệp nữa nên ra đi thảnh thơi. Hiểu như vậy, quý vị sẽ không còn thắc mắc nghi ngờ.
Vậy trên đường tu hành, hiện tại chúng ta nỗ lực tu, đừng gây tạo ác nghiệp, luôn cố gắng dẹp bỏ các sự nhiễm ô. Còn nghiệp quá khứ nếu còn thừa thì phải trả, nhưng đền trả với tâm biết rõ thân này huyễn hóa không thật, đã không thật thì điều gì xảy đến cũng không oán hờn buồn tủi. Như vậy là trả mà coi như không trả. Ý nghĩa “nghiệp chướng bản lai không” mà vẫn đền nợ trước là vậy.
Tôi nhắc thêm về cái “biết”. Tánh của niệm hay ý là không. Khi mình quán chiếu lại thì ý niệm tan mất. Thể nó là không, nhưng nếu mình theo thì thành sự, tạo nghiệp sanh tử khổ đau.
Như vậy, xét cho tường tận, tại sao hiện giờ chúng ta tu mà bao nhiêu nghiệp chướng chưa sạch được? Vì vừa dấy niệm thương ai ghét ai, mình liền theo nó. Theo nó nên thương thì nói những lời tha thiết, ghét liền nói hung dữ thù hằn, do đó tạo thành nghiệp. Còn nếu vừa dấy niệm, liền quán chiếu cho tan nát thì không tạo thành nghiệp.
Vậy, chúng ta không chỉ tu trong giờ ngồi thiền, mà phải tu trong tất cả các giờ. Vừa có một ý niệm xấu dở, chúng ta liền phủi sạch, đừng để dính mắc thì tất cả nghiệp cũng theo đó mà hết. Nếu chúng ta nuôi dưỡng tất sẽ tạo thành nghiệp. Đừng nghĩ thể nó là không, rồi làm gì cũng không.
Tuy thể nó là không, nhưng theo thì thành sự. Nên trên phương diện tu hành, chúng ta phải luôn cần mẫn, chăm chỉ quán sát nội tâm mình, những gì xấu dở phải ngừa đón, dẹp bỏ ngay từ buổi đầu. Nói theo từ bây giờ là bóp chết khi còn trong trứng nước, đừng để nó thành hình, thì nghiệp hiện tại chúng ta không gây. Còn nghiệp quá khứ, nhẹ chúng ta chuyển được, nếu nặng phải trả, nhưng trả mà như không trả.
Đây là điều thiết yếu trong sự tu hành. Mong rằng tất cả chư tăng lúc nào cũng nhớ, cũng thấy rõ như vậy. Đừng nghĩ là mình tu, ráng tụng kinh tọa thiền đủ giờ, còn ngoài ra trong sinh hoạt bình thường không cần quán chiếu. Ngoài giờ chuyên tu ra, chúng ta vẫn theo dõi, thấy rõ từng tâm niệm của mình. Như vậy sự tu mới có kết quả nhiều, mới chóng được chín muồi, một ngày nào đó sẽ hốt nhiên cảm ngộ. Nếu không thì rất khó.
Tất cả chư tăng đã có túc duyên được cùng sống, cùng tu hòa hợp, nên ráng nuôi dưỡng phúc duyên lớn này và tu tập đến nơi đến chốn. Chớ để một lý do nào làm trở ngại sự tu của mình. Đó là sáng suốt, thành công trên đường tu.
Đừng bao giờ mơ ước những gì cao siêu, quá sức. Chúng ta cứ mỗi ngày nhìn kỹ, thấy rõ những niệm khởi của mình, rồi dẹp sạch thì sẽ được thanh tịnh. Mà thanh tịnh tức trở về với thể không sanh diệt chứ chẳng có gì lạ. Nếu cứ trông cậy, mơ ước những điều ở đâu bên ngoài, rốt cuộc chúng ta trở thành kẻ nô lệ, tay sai của quỷ thần.
Vậy mong toàn chúng biết quay nhìn lại mình để tu hành đạt kết quả tốt.
Buổi thỉnh nguyện hôm nay, tôi thấy toàn chúng rất thanh tịnh, đó là điều tốt. Chúng ta ở trong tập thể tu hành, mỗi ngày thân khẩu ý càng thanh tịnh. Đây là điều tôi rất hoan hỷ. Dù sống trong thời mạt pháp nhưng chúng ta có phước duyên rất nhiều, được chung sống một nơi, cùng tu cùng tiến, điều này hết sức quý báu.
Tuy nhiên, nhiều huynh đệ có cái nhìn không thấu đáo. Ví dụ, đang ở trong chúng yên tu lại nghĩ nên ra ngoài kiếm chỗ nhập thất. Nghĩ như vậy tưởng là tốt, tưởng mình sẽ có nhiều thời giờ tiến tu, nhưng thật tình tôi nói thẳng: Bỏ thiền viện này để đi tìm một nơi khác yên tu, tôi không tin chắc ở yên được. Vì sao? Tôi đã kinh nghiệm qua những chướng duyên của người tu.
Tôi thấy có nhiều thầy mới nhìn qua cũng không có dáng vẻ gì, nhưng khi nhập thất tu một mình, lâu lâu cũng bị nạn, nhất là nạn Ma-đăng-già. Bởi vậy, ở riêng đối với người chưa vững vàng là một cơ hội tốt để thối tâm, để mất giới luật, chứ không phải cơ hội tiến tu.
Ở đây, lâu lắm mấy huynh đệ mới tới phiên nhập thất, nhưng một ngày nhập thất là một ngày chí quyết tu hành, không có gì trở ngại. Mọi công tác huynh đệ lo hết, mình chỉ việc chuyên tu thôi. Thời gian tuy ngắn nhưng giá trị rất lớn.
Người quyết tâm tu ở trong chúng có sự bảo bọc đầy đủ. Còn ra tu riêng rời rạc, không có sự bảo bọc sẽ dễ bị vấp ngã, nhiều khi hình thức còn, mà tâm niệm tu đã mất hết. Nên tôi khuyên tất cả chúng, ai có phúc duyên được nương với chúng tu hành là điều đáng mừng. Đừng cho là duyên thường, trái lại phải thấy đó là duyên thù thắng. Phải cố gắng sao cho tâm niệm mình được bình an để yên ổn tu, dù chậm nhưng nhất định mỗi ngày mỗi tiến, chứ không lùi. Còn mình muốn cho nhanh cho gấp, tìm nơi này nơi kia ở riêng, làm theo ý mình để được kết quả sớm, nhưng kết quả chưa nắm chắc mà thất bại có thể đến dồn dập, bất ngờ.
Mong rằng trong chúng ý thức được sự tu hành của mình, cố gắng tự thúc liễm, tự kìm chế những quan niệm sai lầm, đừng để nó gạt. Như vậy đường tu mới được lâu dài, vững vàng, đạt kết quả tốt. Đó là lời tôi nhắc nhở toàn chúng.
Hôm nay thỉnh nguyện, toàn chúng đều được thanh tịnh, không có lỗi lầm, đó là điều rất tốt. Trên đường tu, chúng càng ngày càng được trong sạch và tinh tiến, tôi rất mừng.
Sau đây tôi có ít lời nhắc nhở toàn chúng. Nói là nhắc nhở nhưng sự thật tôi đặt ra một số câu hỏi cho tất cả quý vị tự nghiệm, rồi trả lời để thành một hệ thống trong buổi nói chuyện này.
Câu hỏi đầu tiên là: Tất cả chúng ta xuất gia, nhằm đạt mục đích gì?
– Chúng con xuất gia để thấy được lẽ thật và học theo mục đích của Hòa thượng là khôi phục Thiền tông Việt Nam, làm hưng thịnh Phật giáo Việt Nam nói chung, ngày sau lan rộng đến thế giới.
– Còn ai có ý kiến gì khác?
– Kính bạch Thầy, mục đích của con xuất gia là tìm sự giải thoát.
– Đây là câu hỏi rất thông dụng, nên tôi phải đặt lại cho tất cả nhớ. Đúng ra chúng ta phải trả lời: Mục đích của người xuất gia – chứ không riêng một cá nhân nào – đều nhằm giải thoát sanh tử. Tại sao chúng ta nhắm mục đích đó? Chính đức Phật sau khi chứng kiến cảnh già bệnh chết, ngài xuất gia tu để giải thoát sanh tử. Đó là mục đích của đức Phật, ngày nay chúng ta cũng nhắm theo đó thực hiện.
Như vậy, tôi nhắc lại cho dễ nhớ, mục đích chúng ta xuất gia là quyết tâm tu giải thoát sanh tử, không còn bị trở lui lại vòng lục đạo luân hồi. Đó là căn bản, là gốc của sự tu hành, còn tới chừng nào mới thành tựu là chuyện khác.
Câu hỏi thứ hai: Cái gì dẫn chúng ta đi trong luận hồi sanh tử?
– Bạch Sư ông, nghiệp dẫn đi trong luân hồi.
Mục đích của chúng ta là giải thoát sanh tử, nhưng bây giờ phải biết cái gì dẫn mình đi trong sanh tử để tu cho giải thoát. Chú này nói nghiệp, quý vị có đồng ý không?
– Kính bạch Thầy, vọng tưởng dẫn mình đi trong luân hồi sanh tử.
– Kính bạch Thầy, vô minh dẫn mình đi.
– Ai trả lời cũng đúng hết, nhưng nói thẳng là do nghiệp. Tại sao vậy? Bởi vì nghiệp là nhân lôi dẫn mình đi trong lục đạo luân hồi. Cho nên trong kinh dạy: Người tạo thập ác thì nghiệp ác dẫn đi vào địa ngục, người làm thập thiện thì nghiệp thiện dẫn sanh lên cõi trời. Còn giữ năm giới nghiệp dẫn sanh trở lại nhân gian.
Như vậy sở dĩ luân hồi trong lục đạo là do nghiệp dẫn. Vậy nghiệp là sức mạnh lôi kéo, dẫn mình luân hồi triền miên trong sáu đường. Đi đường này hay đường kia đều do nghiệp.
Câu hỏi thứ ba: Nghiệp từ đâu ra, theo thứ tự thì nghiệp từ đâu ra?
– Bạch Thầy, từ thân khẩu ý.
– Ờ đúng, nghiệp từ thân, khẩu, ý, đơn giản như vậy. Khi thân làm ác gọi là thân tạo nghiệp ác, làm lành là thân tạo nghiệp lành. Miệng và ý cũng như vậy. Nếu thân, khẩu, ý không tạo nghiệp thì hết luân hồi.
Như vậy, chúng ta thấy có sợi dây chuyền rõ ràng: Chúng ta đang bị trầm luân trong sanh tử luân hồi. Ngày nay, chúng ta phát nguyện tu là để giải thoát sanh tử. Muốn giải thoát thì phải biết cái gì dẫn mình đi trong sanh tử. Chúng ta đã biết rõ là do nghiệp dẫn, nghiệp này từ thân, khẩu và ý tạo ra. Nhưng trong ba cái đó, trọng tâm là ý.
Nếu ý nghĩ lành thì thân làm lành, nói lời lành. Nếu ý nghĩ dữ thì thân làm dữ, miệng nói dữ. Như vậy điều lành điều dữ do ý mà có. Tạo nghiệp lành thì sanh cõi trời, người, a-tu-la. Tạo nghiệp dữ sanh địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Đó gọi là lục đạo luân hồi.
Câu hỏi thứ tư: Muốn hết nghiệp chúng ta phải làm sao?
– Bạch Thầy, muốn hết nghiệp phải dừng ý nghiệp, vì nó là động lực luân hồi sanh tử.
– Ờ, muốn hết nghiệp phải dừng ý. Bởi vì ý chủ động tạo nghiệp, còn thân và miệng là cái bị động.
Bây giờ làm sao để dừng ý? Đó chính là lý do phải tu thiền. Chúng ta ngồi lại nhìn thấy từng niệm khởi, nếu chúng ta đi theo niệm lành thì tạo nghiệp lành, đi theo niệm dữ tạo nghiệp dữ. Người tu thiền không những bỏ niệm ác niệm dữ, ngay cả niệm thiện cũng bỏ luôn. Có lắm người thắc mắc, tu là bỏ ác làm thiện, tại sao tu thiền bỏ luôn cả ác lẫn thiện?
Nếu chúng ta bỏ ác, làm thiện thì còn nghiệp để sanh trong ba cõi lành là người, a-tu-la và cõi trời. Còn nghiệp là còn sanh. Bây giờ nếu muốn giải thoát sanh tử luân hồi là phải dứt nghiệp, dừng nghiệp. Muốn dứt nó thì phải dừng ngay động cơ chủ yếu tạo nghiệp là ý. Ý nghĩ lành chắc chắn sẽ làm lành, tạo nghiệp lành và sanh cõi lành. Ý nghĩ dữ thì tạo nghiệp dữ, sanh cõi dữ. Nay ý không nghĩ thì tạo nghiệp gì? Không nghĩ thì không còn tạo nghiệp, hết nhân tạo nghiệp. Lúc ấy thế nào?
– Bạch Thầy, được giải thoát.
– Đây tôi nói tuần tự để quý vị thấy rõ. Ví dụ như tu Tịnh độ, niệm Phật cầu vãng sanh. Niệm Phật là niệm lành, chuyên trì niệm danh hiệu Phật thì khi nhắm mắt được sanh về cõi lành, cõi Cực lạc. Như vậy còn niệm thì còn sanh. Cõi lành trong tam giới là trời, a-tu-la, người; cõi lành của Phật ở ngoài tam giới như cõi Cực lạc… đều còn niệm, còn sanh.
Vậy, niệm là cái nhân để sanh, tùy theo niệm lành dữ tốt xấu, niệm cao siêu hay thấp kém cạn cợt mà tạo nghiệp, tái sanh ở cảnh giới tương ưng. Chúng ta thấy rõ niệm là gốc của sanh tử, sanh nơi này nơi kia là do niệm. Do đó, còn niệm là còn sanh. Muốn hết sanh phải vô niệm, hết niệm tức vô sanh. Không còn niệm là không còn sanh tử.
Chúng ta phải thấy rõ mục tiêu mình nhắm tới và đường lối đang tu luôn phù hợp nhau. Vọng tưởng là nhân tạo nghiệp sanh tử, muốn hết sanh tử chúng ta phải dừng vọng tưởng. Nhân đã dừng thì quả sanh tử làm sao còn, thật là rõ ràng!
Bây giờ có người đặt câu hỏi: Khi hết niệm, không nghĩ thiện nghĩ ác nữa thì còn cái gì không, hay là hết trơn? Bởi vì còn niệm là còn sanh nơi này nơi kia, giờ hết niệm, không sanh đâu hết thì chừng đó còn cái gì?
Tôi dẫn câu chuyện Lục Tổ ôm bát đi về phương nam. Ngài đi được mấy ngày thì Huệ Minh đuổi kịp. Ngài để y bát lại trên bàn thạch, bước vào lùm cây ngồi ẩn. Huệ Minh gặp được y bát mừng quá liền cầm lên, nhưng không nhấc nổi, biết đây có cái gì mầu nhiệm chứ không phải tầm thường, nên đổi ý giành y bát thành tâm cầu pháp. Huệ Minh kêu:
– Hành giả! Hành giả! Tôi tới đây không phải vì y bát mà đến để cầu pháp.
Lục Tổ trong lùm cây đi ra nói:
– Nếu ông cầu pháp thì phải dứt hết các duyên, chớ sanh một niệm, tôi sẽ nói cho ông nghe.
Huệ Minh đứng yên lặng giây lát, Lục Tổ nói:
– Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính khi ấy cái gì là bản lai diện mục của thượng tọa Minh?
Ngay đó Huệ Minh liền ngộ.
Như vậy chúng ta mới thấy, không nghĩ thiện, không nghĩ ác thì bản lai diện mục hiện tiền chứ không phải là không ngơ. Đó là mặt thật muôn đời của mình, là cái chưa bao giờ sanh, chưa bao giờ diệt. Nếu sống được với mặt thật đó thì không còn bị nghiệp dẫn đi sanh tử, tức là giải thoát sanh tử. Cho nên chúng ta đừng ngại buông hết niệm thiện ác rồi trở thành không ngơ.
Tôi nói cái gần nhất, như hiện giờ đang ngồi, không nghĩ thiện nghĩ ác gì hết mà chúng ta vẫn biết. Đó, vẫn hiện tiền chứ nào phải không biết! Cái biết không khởi niệm thì đâu có tạo nghiệp. Rõ ràng cụ thể là tất cả chúng ta sẵn có cái giải thoát mà lâu nay chúng ta quên, chỉ sống theo thân tạm bợ và niệm sanh diệt, vì vậy mà tiếp tục luân hồi. Bây giờ muốn thoát khỏi sanh tử luân hồi thì chỉ dừng hết những ý niệm lăng xăng đó để trở về với bản lai diện mục của mình. Đó là giải thoát sanh tử. Đến đây là đạt được mục đích chứ chẳng có gì khác, khỏi nói sanh đi đâu hết.
Như vậy, chủ trương đường lối tu của mình, nhân và quả rõ ràng không nghi. Giải thoát sanh tử là cái quả mình mong muốn, thì nhân gây ra sanh tử phải dừng. Nhân sanh tử không còn thì quả giải thoát tự nhiên đến.
Vậy là rõ ràng đường tu đâu đó cụ thể, chứ không phải là ý niệm tưởng tượng, cũng không phải chúng ta tin suông tin rỗng. Nó thực tế như vậy, tôi nói cho tất cả hiểu, nắm vững để tu và dạy người khác tu đừng lầm lẫn. Nhiều khi dạy cũng không biết dạy cái gì, tu không biết tu ra sao, rồi cứ lẩn quẩn là không tốt.
Hôm rồi, người ta yêu cầu tôi giảng bài thơ của ngài Quảng Nghiêm, trong đó có câu ít ai dám dịch:
Nam nhi tự hữu xung thiên chí
Hưu hướng Như Lai hành xử hành.
“Làm trai tự có chí xông trời, đừng theo đường của Như Lai đã đi.” Nghe câu đó ai cũng giật mình. Tại sao mình tu theo Phật mà không đi đường của Phật? Vậy thì đi đường ai? Đi lối khác là theo đường tà rồi! Nhưng riêng tôi thấy câu đó hay quá, mỗi lần giảng mỗi lần thấy hay. Hôm rồi ngồi thiền, bất thần tôi nhớ lại câu này, thấy có một ý rất hay nên nói cho quý vị nghe.
Không đi theo lối mòn của đức Phật, ý này có hai: Thứ nhất là nói về sự tướng. Khi Thái tử đi tu không có ai hướng dẫn, cho nên phải tìm học với ngoại đạo. Ngài hành tới nơi tới chốn mà kết quả không đúng với mục đích ngài nhắm nên từ giã ngoại đạo ra đi. Thời đó người ta tán thán phép tu khổ hạnh nên ngài cũng tu khổ hạnh, nhưng vẫn không đạt được mục đích. Cuối cùng ngài mới tọa thiền dưới cội bồ-đề và đã đạt được mục đích của ngài nhắm là giác ngộ thành Phật.
Như vậy nếu đi theo đường của Phật thì có quanh co không? Chẳng lẽ chúng ta được Phật dạy rồi, khi đi tu mình lại theo ngoại đạo và tu khổ hạnh, rốt sau mới chịu ngồi thiền dưới cội bồ-đề. Như vậy là quanh co vô ích. Đó là lối mòn của Phật đã đi. Bây giờ mình đã được chỉ thẳng còn đi quanh co chi nữa? Đây là nói về sự.
Kế đến là lối mòn của giáo lý từng cấp bậc mà trong câu chuyện của ngài Vân Môn đã nói. Cái này mới thấm thía.
Bây giờ tôi lấy hình ảnh Phật dụ trong kinh Lăng-nghiêm và kinh Viên Giác. Phật nói rằng kinh điển như ngón tay chỉ mặt trăng. Quý vị thấy trăng mùng sáu mùng bảy hình dáng như lưỡi liềm, mọc ở phương đông. Có người mắt sáng thấy được mặt trăng đó, muốn chỉ cho những người chung quanh cùng thấy, nói rằng: “Kìa, có mặt trăng!” Nhưng có người mắt không tỏ sáng lắm, lại nhắm hướng không được chín chắn, nhìn chẳng thấy, hỏi rằng: “Ở chỗ nào?” Lúc ấy người thấy rồi phải làm sao? Phải chỉ: “Đây, cứ nương ngón tay tôi, nhìn thì sẽ thấy.” Người kia nương theo đúng hướng ngón tay chỉ, thấy được mặt trăng.
Ngón tay dụ cho kinh điển. Mặt trăng là mục đích giải thoát của mình. Chân lý giải thoát nằm ở chỗ mặt trăng chứ không phải ngón tay. Ta chỉ nương theo ngón tay để thấy mặt trăng, thấy được trăng là đạt mục đích tối thượng của mình.
Trong số người chung quanh đó, có người mắt sáng và định hướng rất rõ, khi hỏi mặt trăng chỗ nào, nói ở phương đông, từ chân trời lên khoảng ba sào, họ theo đó nhìn liền thấy mặt trăng. Người đó có cần ngón tay chỉ hay không?
2 Một hôm thiền sư Vân Môn thượng đường, đưa cây gậy lên bảo chúng: “Phàm phu gọi nó là thật, Nhị thừa phân tích nó là không, Viên giác gọi nó là huyễn có, Bồ-tát thì đương thể tức không, Thiền gia thì thấy cây gậy gọi là cây gậy, đi chỉ đi, ngồi chỉ ngồi, không được động đến.” (Thiền Sư Trung Hoa tập II, HT. Thích Thanh Từ soạn dịch)
Bây giờ chúng ta đặt lại vấn đề. Muốn giải thoát sanh tử thì vọng tưởng phải lặng, không còn nghĩ thiện ác. Bởi vậy kinh Phật dạy phải quán thân này là giả để mình không còn đắm nhiễm, cảnh cũng giả để tâm không đuổi theo, cốt cho tâm lặng không chạy, gỡ cho nó đừng dính mắc. Nhưng nếu có người biết rõ tâm rồi, họ tự dừng không dính mắc, đó là đúng mục tiêu Phật muốn chỉ.
Như trường hợp ngài Lâm Tế hỏi tổ Hoàng Bá:
– Thế nào là đại ý Phật pháp?
Ý hỏi mục tiêu của Phật dạy, chỗ cứu cánh của đạo Phật nằm chỗ nào. Ba lần hỏi, ngài Hoàng Bá ba lần đánh. Lâm Tế buồn bã từ giã ra đi, tới Đại Ngu. Ngài Đại Ngu chỉ hỏi:
– Hoàng Bá dạy lời gì?
Lâm Tế kể lại:
– Con ba phen hỏi đại ý Phật pháp, ba lần bị đánh. Chẳng biết con có lỗi hay không lỗi?
Ngài Đại Ngu nói:
– Hoàng Bá với tâm lão bà đã vì ông chỉ chỗ tột khổ, ông lại đến trong ấy hỏi có lỗi không lỗi!
Ngay câu nói ấy Sư đại ngộ, thưa:
– Xưa nay Phật pháp của Hoàng Bá không nhiều.
Ngài Lâm Tế đại ngộ là ngộ cái gì? Thấy có lỗi không lỗi tức thấy có hai. Nơi tâm mà còn hai là bệnh, tạo nghiệp sanh tử. Chủ yếu Phật dạy dứt cái hai đó. Nghĩ thiện nghĩ ác là hai, phải quấy là hai. Còn hai là còn vọng tưởng, nếu dừng vọng tưởng thì không có hai, ngay đó là thấy rồi.
Ngài Đại Ngu nắm đứng lại bảo:
– Con quỷ đái dưới sàng, vừa nói có lỗi không lỗi, giờ lại nói Phật pháp Hoàng Bá không nhiều. Ngươi thấy đạo lý gì? Nói mau! Nói mau!
Hết sức là đơn giản, phải không? Trường hợp này như người vừa được chỉ mặt trăng ở phương đông, nhìn lên chừng ba sào liền thấy. Trái lại chúng ta thì không thấy, phải nhờ người đưa tay chỉ, nhìn cho thật kỹ mới thấy. Hai bên khác nhau.
Ở đây ngài Lâm Tế ngộ được là do biết cái hai đó không phải đại ý Phật pháp. Đại ý Phật pháp là dừng cái hai đó. Nên hỏi thấy cái gì, ngài không nói, khởi nói là thành hai. Bèn thoi vào hông ngài Đại Ngu ba thoi. Ngài Đại Ngu nói:
– Thầy ông là Hoàng Bá, không can hệ gì đến ta.
Như vậy nào có kinh điển gì! Không phải giáo ngoại biệt truyền là gì? Mà có trái với giáo lý đâu. Giáo lý cốt để chỉ mặt trăng. Bây giờ không nương ngón tay mà ta vẫn thấy mặt trăng thì cái chủ đích nhắm đã đạt được, đâu còn cần ngón tay.
Tuy nhiên, có người thay vì nương ngón tay để thấy mặt trăng, lại cho ngón tay là mặt trăng, mình phải nói sao đây? Như vậy là mất ngón tay và mất mặt trăng luôn. Vì tưởng ngón tay là mặt trăng rồi cứ hài lòng ngón tay này là chỗ cứu cánh. Ngày nay Phật giáo Việt Nam có một số người lấy ngón tay cho là mặt trăng, cứ đem kinh ra tụng rồi cho như vậy là tu. Phật dạy trong kinh để chúng ta hiểu đường lối tu chứ đâu phải dạy mình tụng suông. Vậy mà cứ đem ra tụng hoài bao nhiêu đó, làm sao thấy mặt trăng được, tụng ngàn đời cũng không thấy. Nếu mình là người ngoài cuộc, biết rõ điều đó thì có nên nói hay không? Đồng ý như vậy hay là phải nói?
Đó là một vấn đề tôi thấy rất khó xử. Nói ra mích lòng, còn không nói thì mình có thể chấp nhận cho Phật giáo đi xuống như vậy hay sao? Thành ra cái lối mòn mà ngài Quảng Nghiêm nói đó, là lối mòn dựa theo kinh điển. Kinh điển chỉ là Phật phương tiện giải thích để mình tu, sửa trị lần lần. Nếu chúng ta đã thấy được cái gốc rồi thì quá tốt, đâu có cần phương tiện. Hiểu vậy mới thấy Thiền tông đi thẳng vào cốt tủy của đạo Phật, trở về cái gốc chẳng hề quanh co. Vậy mà những người chưa nắm vững chỗ này, thường chê bai Thiền tông.
Kiểm điểm lại chúng ta thấy sự sai lầm của giới tu sĩ mình rất đậm, rất sâu. Muốn sửa lại cũng cay đắng lắm, không phải năm năm mười năm mà được. Đời tôi chắc chưa làm xong, thôi thì ký thác cho đời mấy chú. Mấy chú ráng tu cho đến nơi đến chốn, rồi sau này chỉ cho người ta thấy những cái hay cái dở. Vì tu mà không đạt đạo là do những sai lầm đó. Cho ngón tay là mặt trăng thì muôn kiếp không thấy mặt trăng, không làm sao thấy được! Đây là lẽ thật, không có gì phải ngờ vực.
Điều này tôi rất đau lòng. Hôm nay giải thích rõ ràng để tất cả cùng hiểu.
Đó là phần nhắc nhở của tôi.
Hôm nay có hai việc cần nhắc quý vị:
Thứ nhất là có một Phật tử cho tôi biết có hai thầy đi chợ ghé quán uống cà-phê. Tôi không biết là thầy nào, hôm nay xin nhắc chung toàn chúng.
Mặc dầu trong giới luật cũng như Thanh quy, tôi không cấm uống cà-phê, nhưng quý vị nếu quen uống hoặc vì bệnh muốn uống cho ấm thì chỉ nên mua về chùa, chứ không nên ngồi quán. Đó là cái thói của thế tục, rảnh rang vô quán cà-phê uống nhâm nhi rồi nói dóc với nhau cho vui. Chúng ta là người tu chớ phạm điều này. Ra ngoài uống cà-phê như vậy, vô tình mình làm mất uy tín thiền viện.
Bây giờ Phật tử Đà Lạt biết quý thầy ở đây hết, cho nên ai đi ra ngoài, họ đều biết người đó ở thiền viện hay ở các chùa. Mình cà rà vô quán ngồi, thiếu tư cách khiến người quý trọng, và làm mất luôn uy tín của những huynh đệ trong thiền viện. Vì vậy từ đây về sau tuyệt đối không được ra chợ ngồi uống cà-phê, dầu sớm hay muộn đều không nên. Đó là điều tôi xin nhắc, mong quý vị nào đã lỡ thì từ đây về sau đừng tái phạm.
Thứ hai là tôi nghe có một số thầy còn nóng nảy, cãi với các cư sĩ và mấy người dân ở ngoài. Quý vị nên nhớ, dầu chuyện đúng một trăm phần trăm, mà nóng nảy lớn tiếng với người thế gian thì mình cũng bị thua thiệt rồi, vì họ nói mình sân. Tu hành mà tham sân si không giảm thì người ta đánh giá sự tu của mình không có kết quả. Bởi vậy quý vị nào nóng nảy phải ráng nhớ mình đã là tu sĩ, đừng tranh hơn thua với người.
Trong kinh Di Giáo, Phật dạy: “Người thế tục thọ hưởng dục lạc, chẳng phải là người hành đạo, không biết pháp ngăn ngừa, giận dữ còn có thể tha thứ. Người xuất gia học đạo, không còn thọ hưởng dục lạc mà vẫn ôm lòng giận dữ thì không thể được. Ví như trong lúc trời quang mây tạnh mà sấm chớp nổi lên là điều không thể có.”
Bởi vì chỉ khi trời chuyển mưa mới có sấm chớp. Nếu có sấm chớp lúc không chuyển mưa, đó là chuyện nghịch lý. Cũng vậy, chuyển mưa là dụ cho thế gian còn tham lam danh lợi. Vì còn tham lam mà không được toại ý nên nổi giận, cái đó còn có thể hiểu được. Còn người tu chúng ta đã dứt bỏ tham lam mà còn nổi sân là chuyện phi lý.
Bởi vậy phải chừa tật nóng nảy, dầu mình đúng một trăm phần trăm cũng phải nói nhỏ nhẹ, khuyên răn người ta, chứ không nên nổi nóng. Vì khi mình thốt ra những lời nóng giận là biểu hiện sự thô tháo, thiếu tính cách hiền hậu, nhu hòa của người tu. Vậy tất cả quý vị khi thấy ai làm việc gì sai quấy, mình phát nổi nóng thì tránh đi chỗ khác, đừng nói, để trong lòng êm dịu rồi dùng lời nhỏ nhẹ, ôn hòa khuyên người ta. Còn đang giận mà nói ra thì tự mình đã mất uy nghi của người tu, lại bị người chê cười sân si, đó là điều không tốt.
Mong tất cả quý vị tránh được những lỗi lầm đó để cho trong chúng hoàn toàn thanh tịnh và cũng khỏi nghe tiếng như xấu ở ngoài đồn đại tới tai tôi. Vậy ở trong chúng nếu có vài ba người vô tình hay cố ý làm hoen ố tập thể thì quý vị đó phải dừng lại, đừng nên tái phạm, không tốt. Đó là lời nhắc nhở của tôi đối với toàn chúng.
Bây giờ nói về sự tu hành của chúng. Thật ra hai năm qua, chư tăng tu hành có những bước tiến đáng mừng. Đó là sự tiến bộ riêng rẽ của từng người, chứ không phải của toàn tập thể một lượt. Nhưng thật ra, trong năm mươi, ba mươi người mà đã được năm bảy người tiến thì đó cũng là điều hy hữu đáng mừng.
Ngày xưa ở hội Quy Sơn một ngàn năm trăm người, nhưng kiểm lại những vị còn ghi trong sử thì chỉ có năm mười người ngộ đạo thôi, chứ không phải một ngàn người được đến năm trăm người. Chúng ta ở đây chỉ bốn năm mươi người, thật quá khiêm nhường, mà đã có được một số người tỉnh táo, sáng suốt hoặc một số người thấy cái chân thật, yên lòng tu hành không thối chuyển thì đó là điều rất đáng khích lệ. Sở dĩ được như vậy, không gì khác hơn là do tâm quyết liệt, liều chết tu, nhất định có kết quả. Tôi thường nói thế từ trước đến nay.
Hồi mới bắt đầu tu thiền, tôi cho đây là việc mò kim đáy biển chứ chẳng phải chuyện dễ. Chúng ta thường bị ám ảnh chỉ có những người thượng căn thượng trí tu thiền mới được, rồi xét lại, tự thấy mình không phải là các bậc ấy, e rằng khó thấy đạo. Đó là một mặc cảm đáng buồn. Rồi nghe nói đời mạt pháp chỉ tu Tịnh độ chứ tu Thiền không tới đâu, lại thêm một mặc cảm thứ hai. Còn mặc cảm thứ ba là các Tổ thời xưa được trực tiếp truyền thừa, thầy truyền qua trò thì tu mới dễ đạt đạo. Mình không được ai truyền, làm sao mà tu!
Mang ba mặc cảm đó tôi thấy rất khổ, không có một chút hy vọng. Nhưng vì tôi quyết tâm, liều chết tu, rõ ràng là có kết quả. Dù kết quả chưa trọn, chưa được viên mãn nhưng tôi thấy đúng như những gì tôi muốn.
Bản thân tôi ngày trước ở trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, không thầy không bạn mà tôi cố gắng làm được. Còn bây giờ toàn chúng ở đây, trên có thầy dưới có bạn, đồng thời hoàn cảnh rất thuận lợi, nếu tu không được quả là yếu đuối. Đó là do thiếu sự quyết liệt. Nếu tinh thần quyết liệt thì sự tu hành có kết quả không nghi ngờ. Bằng chứng là qua các vị quyết tâm tu đã cho tôi thấy những kết quả đáng vui mừng đó.
Như vậy, mong sao quý vị đã đến đây rồi thì phải tu một cách quyết liệt, đừng để thời giờ quý báu trôi qua mất. Bởi vì hoàn cảnh tốt không thể đến hai lần. Hễ không làm được lần này thì rất khó tìm lại lần thứ hai. Như trường hợp chú B.H, mỗi lần tôi về Thường Chiếu, chú đều đến sám hối để được trở lên đây. Tôi nói: “Đi rồi khó trở lại, tôi không chấp nhận điều đó.” Vậy mà mấy lần tôi về, chú đều đắp y đến sám hối.
Vậy quý vị thấy, lỡ lầm rồi muốn trở lại không phải dễ. Ai được tới đây mà tu hành lơ là không đến đâu, một khi lui sụt rồi, muốn trở lại rất khó. Vì vậy, tôi mong rằng trong chúng từ lớn tới nhỏ, đừng nghĩ mình già hay trẻ, mỗi vị đều quyết tâm tu. Như chúng ta đọc quyển Hoa Trôi Trên Sóng Nước, thấy một người phụ nữ lớn tuổi như vậy mà nỗ lực quyết tu cũng được kết quả. Huống chi mình ở đây là nam nhi, ai cũng có ý chí mãnh liệt hết, cứ ráng tu sẽ có kết quả không nghi!
Vậy mong toàn chúng nỗ lực tu hành, bỏ qua những chuyện tầm thường. Các việc thế gian mình đã quen tập, bây giờ phải bỏ hết, làm sao vượt qua được những si mê tăm tối, vọng tưởng điên đảo, để tâm mình trong sáng, thấy được và sống được với cái chân thật. Đây là điều cốt yếu, còn mọi chuyện thế gian chỉ là ảo tưởng, tạm bợ, sẽ tan hoại hết, không có nghĩa gì. Chỉ có cái chân thật mới cứu mình muôn đời.
Vậy tất cả phải ráng tu, đừng lơ là. Đó là lời nhắc nhở của tôi.
Hòa thượng nhắc nhở đại chúng nhân ngày vía Phật thành đạo.
Vừa rồi có một cô người Mỹ đến tập tu bên nội viện ni, hỏi tôi: “Thưa Thầy, quý Thầy tu hiện giờ, cái gì là khó nhất?” Giờ mấy chú trả lời coi!
– Dạ, tập khí.
– Câu này rất khó trả lời, nếu nói sân hoặc ái dục là khó thì mình phàm tục quá. Vậy cái gì khó nhất? Tôi trả lời: “Người tu chúng tôi bây giờ, nghe Phật dạy lẽ thật, mình thấy mình biết rồi, nhưng sống được với lẽ thật đó là khó nhất.” Tôi ví dụ, Phật dạy phải quán thân này là nhơ nhớp, vô thường sanh diệt, mạng sống trong hơi thở, đó là lẽ thật. Thế nhưng giả sử có ai chê mình là nhớp thì phản ứng ngay, lập tức bảo vệ nó, không hề công nhận thân mình là nhớp, là vô thường. Đó là một cái rất khó.
Kế nữa mình biết thân này là vô thường, mà nghe ai nói mình sắp chết thì tự nhiên có một cái gì đó không an ổn. Nói lo sợ thì quá đáng, nhưng thật có cái gì đó rất bất an. Như vậy là không thấy đúng như Phật dạy. Đó là nói về thân. Còn về tâm, Phật dạy suy nghĩ là vọng tưởng không thật, nên bỏ, rồi sẽ thấy cái chân thật hiện tiền. Bây giờ mình biết vọng tưởng nên bỏ, mà bỏ hoài không rồi, bỏ không hết, đó là cái rất khó.
Như vậy một người Mỹ cũng có cái nhìn sâu sắc về đạo chứ chẳng phải thường. Bây giờ mình giảng cho người ta nghe và giải đáp những thắc mắc của họ là cả một vấn đề. Nhất là kỳ này tôi nói chuyện với một nhóm giáo sư trong Học viện Chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh. Nói chuyện với họ một giờ, rồi cho họ hỏi nửa giờ. Họ hỏi đủ thứ, dài lắm. Nên tôi thấy lời của Mã Tổ nói về người muốn làm Phật sự thật là chí lý.
Mã Tổ bảo ngài Tây Đường Trí Tạng:
– Sao con chẳng xem kinh?
Ngài Trí Tạng nói:
– Trong đó có gì khác mà phải xem.
– Tuy như vậy nhưng về sau muốn vì người con cần phải xem.
Vì lợi ích cho người nên phải xem tạng Kinh. Đừng nghĩ “mình hiểu như vậy là đủ tu rồi”. Thật ra, khi ra ngoài người ta ít hỏi thẳng chỗ chân thật mà thường hỏi lời Phật tổ dạy trong kinh luận, mình không biết thì nguy lắm. Khi có người hỏi một điều gì, mình nói không biết ở kinh nào là nghe không ổn rồi.
Cho nên muốn tu đến nơi đến chốn chúng ta phải nỗ lực, còn muốn làm lợi ích cho người thì phải cần cù nghiên cứu cho kỹ. Nhất là quý vị sắp đi làm Phật sự, khi rảnh nên đọc lại mấy bộ A-hàm, bởi vì mấy cái đó dễ nói chuyện nhất. Giả sử có ai thỉnh thuyết pháp thì trích các bài kinh trong A-hàm nói về vô thường, hay dẫn mấy câu chuyện ngắn ngắn, gọi là những bài thuyết pháp bỏ túi.
Vậy, một là phải thuộc A-hàm, hai là Pháp Cú. Cố gắng thuộc lòng một số bài, ai hỏi liền đọc lên, giảng rộng ra, đó là tiện lợi. Còn nếu mình không nhớ gì hết thì làm sao linh động nói chuyện cho họ nghe? Ra ngoài Bắc, phần nhiều người lớn tuổi chưa biết nhiều về Phật pháp, nói cao họ đâu hiểu, nói chân tâm Phật tánh họ làm sao hiểu. Do đó, chỉ giảng những ý thông thường. Trong A-hàm, Phật dạy rất thiết thực, kinh Pháp Cú cũng vậy, nắm cho vững rồi nói. Còn các bộ kinh Đại thừa: Kim Cang, Lăng-nghiêm…, họ nghe không tới nổi.
Bởi vậy tôi dạy mấy chú cũng theo thứ tự. Các bộ A-hàm phải cho mấy chú học quen. Nắm vững A-hàm rồi đến Pháp Cú, xong mới lên mấy kinh cao. Đâu phải mấy chú núp ở đây hoài! Cũng có ngày xách gói đi làm Phật sự. Khi ra ngoài dốt quá cũng kẹt, nghe thưa hỏi lúng túng lắm, nên lúc rảnh phải tra cứu. Ở đây có thư viện, kinh sách cũng tạm đủ. Ông K.N có mua thêm kinh sách cho mấy chú nghiên cứu. Mình biết cái gốc rồi, phần ngọn cũng cần nắm cho vững.
Sở dĩ khi ra giảng tôi không sợ là vì tôi đã coi kỹ Đại tạng. Nói đúng ra, trừ phần Luật và Mật tông tôi ít đọc, còn các phần khác tôi đều đọc hết, nhất là tạng Kinh. Đọc để biết qua, người ta hỏi là mình biết ở đâu liền. Dù không nhớ hết nhưng ý chính mình cũng nắm được để giải thích cho người ta hiểu.
Thật ra, khi đi giảng dạy, thiên hạ hỏi đủ thứ, thấp có, cao có. Bao năm nay tôi giải đáp cho mọi người được, do nhờ trước đã từng coi qua Đại tạng kinh. Cho nên làm Phật sự nhu cầu rộng, không cho mình khu biệt. Như hòa thượng T.H nói, nếu theo chỗ thấy biết của nhà Thiền mà dạy người thì giảng đường cỏ mọc ba thước! Chỉ có cách làm quán tạp hóa như ngài Ngưỡng Sơn thì được: Từ phân chuột đến vàng ròng đều có đủ. Nếu chỉ vàng ròng không e chẳng xong. Nghèo quá không có tiền mà nói vàng ròng làm sao mua? Hiểu cho tới nơi, sau này mấy chú mới có lợi.
Lúc đầu tôi biết mấy chú nghĩ rằng tôi mâu thuẫn, vừa bắt tu lại vừa khuyến khích học. Nếu học thì sự tu bị trì trệ. Nhưng hoàn cảnh thực tế không cho phép mình chỉ đi một chiều. Theo một chiều sau này chúng ta sẽ lúng túng, sẽ bị chê “cô lậu quả văn”, nghĩa là kiến thức hẹp hòi, quê mùa ít hiểu biết. Thật ra việc tu đòi hỏi mình phải tu cho sáng, nhận chân được lẽ thật, nhưng làm Phật sự thì phải thông suốt giáo lý.
Lâu nay tôi rất dè dặt, ít cho mấy chú xuất đầu lộ diện là vì sao? Vì tập khí. Thơ kệ của ai trình thì tôi đọc, mà không nói tên người đó, vì nghe đọc thì thánh quá, những gì trong lúc tỉnh sáng viết hoặc nói đều rất hay, nhưng rồi thời gian sau tập khí chen vào liền hết hay.
Bởi vậy mình chưa tới đất thật, không sống luôn luôn với cái thật, nên có khi rất sáng, rất tỉnh táo, cũng có những lúc hơi hôn ám một chút liền lộ nguyên hình cũ, trái với những gì mình nói hay lúc trước, nên người ta sẽ hiểu lầm: “À, tu ngộ đạo rồi vẫn còn xấu, vẫn còn nóng giận…” Do đó, tôi thường giấu tên người trình, e rằng người khác không biết rồi cho mấy chú lầm lộn chưa sáng đạo tưởng đã sáng. Thật ra, tập khí thầm kín không biết đâu mà lường.
Khi nói về Thập lực của Phật, tôi thấy có “tri vĩnh đoạn tập khí trí lực”. Tới thành Phật mới vĩnh đoạn tập khí, còn mình đây là tạm đoạn chứ chưa vĩnh đoạn. Cái thô thì vượt qua được, còn cái tế vẫn thầm thầm ẩn khuất trong đó, gặp duyên hiện ra lúc nào không hay.
Vậy nên tôi nhắc hoài, mấy ông giảng sư nói thao thao bất tuyệt, nhưng gặp duyên cũng nổi sóng dùng dùng. Phật dạy nhớ được, hiểu được nhưng sống được mới quý. Mấy chú cố gắng tu, sáng được chỗ chân thật của mình, đó cũng là bước tiến vượt bậc rồi, nhưng bỏ tập khí là cả một vấn đề dài đằng đẵng. Mấy chú lâu lâu ai chọc có giận không?
– Dạ, có. Thưa Thầy cho tụi con ở đây tu luôn!
Tập khí khi nào có cơ hội mới hiện ra, lúc ấy mới biết mình thua hay thắng. Ở đây hoài đâu có ai chọc, biết tập khí ra sao! Chính khi ra đối đầu, gặp việc mới thấy tập khí của mình, coi cái gì còn cái gì hết, rất là đặc biệt. Tôi kinh nghiệm thấy rõ, mình hiểu được nói được mà gặp duyên không thắng được là chuyện rất thường. Do đó vừa làm Phật sự phải vừa tu.
Tu có định lực mới thắng được ngoại cảnh và làm chủ tập khí. Đồng thời phải coi thêm kinh luận. Được như vậy, ngày sau mấy chú ra làm Phật sự sẽ không lúng túng, mới giúp ích cho nhiều người.
Lý đáng hôm nay tôi nói về sự tu hành để nhắc nhở chúng, nhưng có một sự việc xảy ra không vui nên tôi chủ yếu nhắc riêng điều này.
Biết rằng trong chúng qua một năm nay có nhiều tin đáng vui mừng đối với tôi, nhưng cuối năm lại có một chuyện không vui xảy ra. Trong việc này tôi tự thấy mình có hai khuyết điểm lớn. Một là tôi chọn người không kỹ, cho nên bây giờ mới có cái tệ như thế này. Hai là sự tin tưởng của tôi quá lớn, tôi không bao giờ tin có những chuyện như thế xảy ra. Vậy mà bây giờ vẫn xảy ra, đó là điều ngoài sức tưởng tượng của tôi.
Trước đây tôi từng nói với tất cả chúng, ngày xưa khi tôi ở các Phật học đường, tu hành chung trong tập thể, sự sống thường sai biệt. Người nào được thầy tổ khá giả ủng hộ thì có tiền bạc rộng rãi. Tại Phật học đường Nam Việt tôi theo học hồi đó, mỗi tháng phải đóng hai trăm tiền cơm. Ngoài ra, giấy mực, sách vở, kể cả quần áo đều tự túc chứ nhà trường không thể giúp mình. Phần tôi được ưu tiên miễn phí, vì thầy tôi là hòa thượng Viện trưởng làm Đốc giáo tức Hiệu trưởng của trường.
Như vậy mỗi người muốn tới Phật học đường phải chịu chi phí rất nặng. Vừa đóng tiền cơm, vừa lo tiền sách vở, giấy mực v.v… Vì thế ai có cha mẹ hoặc thầy tổ khá giả thì sống tương đối sung túc. Ngược lại ai không được giúp đỡ, thật là thiếu thốn chật vật. Vì tình trạng chênh lệch đó nên trong Phật học đường hay Phật học viện thỉnh thoảng xảy ra những vụ ăn cắp. Mỗi lần xảy ra như vậy tôi thấy nhục nhã vô cùng. Bởi vì người cư sĩ ở ngoài chỉ giữ năm giới, mà giới không ăn trộm họ giữ thật nghiêm chỉnh, thanh tịnh. Còn mình tu, giữ từ mười giới tới hai trăm năm mươi giới, trong đó giới trộm cắp thuộc về trọng giới mà không giữ được thì có đáng buồn không? Đó là đứng về mặt giới luật.
Ở đây tôi đã tổ chức làm sao cốt tránh tệ hại trên, người này dư người kia thiếu dễ sanh ra cái nạn ăn trộm ăn cắp. Cho nên tôi muốn thực hiện cho được tinh thần lục hòa, vì vậy ở đây không ai được quyền giữ tiền. Chỉ có Thủ bổn chi ra cho Tri sự mua sắm đồ đạc hoặc trả tiền nhân công và cho Tri khố đi chợ. Như vậy trong đây chỉ có hai người xài tiền là Tri sự và Tri khố, còn Thủ bổn thì giữ tiền. Ngoài ra trong chúng không ai có xu con nào.
Tất cả nhu cầu trong chúng, ai thiếu cái gì thì Ban Quản chúng cho cái ấy, không để thiếu ăn thiếu mặc, thiếu các nhu cầu cần thiết. Như vậy ở đây ai cũng như ai, sống một cách bình đẳng, đầy đủ tiện nghi không thiếu thốn. Không có gì đòi hỏi mình cần phải có tiền hết. Vậy thì lý do gì lại đi ăn cắp tiền? Thật không thể hiểu nổi!
Thiền viện này là lý tưởng tối hậu của đời tôi, nên bao nhiêu công sức, tâm huyết tôi dồn hết vào đây để lo cho chư tăng tu học. Vậy mà có người vào đây còn ăn cắp nữa thì không thể tưởng tượng được! Đó là sự thất vọng lớn lao của tôi! Mình đem hết tâm lực lo mọi mặt, mà bây giờ có người làm những việc như vậy, thì còn đạo lý gì! Như vậy công mình làm thật là công dã tràng. Đó là điều tôi rất buồn.
Bởi vậy, người nào làm việc này thật là không tu hành chút nào. Dù mang hình thức người tu nhưng thực tình không tu. Như vậy để cho quý vị biết, trong chỗ đông đảo, nơi tôi chủ trương tu hành chân chánh, mà vẫn có một người tu hành không ra gì, nói thẳng ra là không tu hành gì hết, đang lẫn lộn ở đây. Một con sâu trong rổ rau, mình phải bắt nó ra thì ăn rau mới ngon. Nếu còn con sâu trong đó, cả rổ rau sẽ bị ảnh hưởng không tốt.
Vậy nên toàn chúng lưu tâm kỹ, coi có người nào giả bộ vào tu để phá chúng như vậy, ráng phát hiện để loại ra. Còn không thì tôi cũng nguyện Tam bảo gia hộ, làm sao cho những kẻ tà đó rời khỏi chỗ này sớm chừng nào tốt chừng nấy.
Vừa rồi tôi về Thường Chiếu, được nghe kể lại mấy đứa cháu của tôi có phiền trách rằng: Tôi cất chùa bạc tỷ, trong khi tụi nó nghèo thiếu, tôi không bao giờ giúp. Nghe vậy, một buổi chiều tôi gọi lại nói cho tụi nó hiểu: “Thầy là người tu, tất cả tiền bạc là của Tam bảo chứ không phải của riêng cá nhân. Của Tam bảo mà người tu lấy để xài riêng, hoặc cho con cháu thì đó là tội đọa địa ngục.”
Quý vị còn nhớ câu chuyện thiền sư Tông Diễn nuôi mẹ không?
Khi Sư mới mười hai tuổi, một hôm mẹ đi chợ, dặn Sư ở nhà nấu canh cua. Nhưng vì thương xót mấy con cua nên ngài đem ra ao đổ hết. Trưa về, ăn cơm, mẹ hỏi món canh, Sư thật tình thưa lại mọi việc. Bà giận quá xách roi đánh. Sư sợ hãi bỏ nhà chạy mất, sau vào chùa tu hành.
Hơn ba mươi năm sau Sư trở thành vị trụ trì, về quê thăm mẹ, được biết mẹ đang bán nước trà tại một quán nhỏ bên đường. Sư vào quán hỏi han chuyện trước, biết đúng là mẹ mình. Sư hỏi bà có muốn ở chùa không. Trước còn ngần ngại, sau bà lão bằng lòng.
Sư về chùa họp chúng, bàn chuyện đem bà lão bán nước trà về nuôi, đại chúng đều hoan hỷ. Sư cho người đi đón bà lão về rồi cất am tranh cạnh chùa cho bà ở. Mỗi ngày ngài phân công cho bà quét sân nhổ cỏ, đến bữa ăn cơm chùa. Ngài luôn luôn nhắc nhở bà tu hành.
Một thời gian sau bà bệnh, Sư có việc đi xa nên dặn chúng: Nếu ở nhà bà lão có mất thì để bà trong áo quan, đừng đậy nắp, chờ Sư về. Đúng như dự đoán, Sư đi được ít hôm bà lão mất, tăng chúng làm theo lời dặn. Khi Sư về, đến bên áo quan nhìn mặt bà lần cuối rồi đậy nắp lại. Ngài nói to: “Như lời Phật dạy, một người tu hành ngộ đạo, cha mẹ sanh thiên. Nếu lời ấy đúng xin cho quan tài bay lên để chứng minh.” Sư cầm tích trượng gõ vào quan tài ba cái, quan tài từ từ bay lên hư không rồi hạ xuống. Tới lúc đó mọi người mới biết bà lão là mẹ của Sư.
Tuy Sư có nuôi mẹ bằng tiền chùa, nhưng vẫn cắt đặt công việc cho bà làm tùy theo sức khỏe của bà và luôn khuyên nhắc tu hành. Đồng thời Sư không hề tiết lộ cho bà biết mình là con, để tránh tâm niệm ỷ lại.
Qua đó chúng ta thấy người xưa làm việc gì rất là dè dặt, chẳng những sợ tội cho mình mà còn sợ tội cho những người thân của mình, nên không dám nhận cái lợi nhỏ để bị cái hại to. Chúng ta bây giờ cũng nên noi gương người xưa, sống cho hợp đạo lý.
Bởi vậy tôi nói rõ với mấy đứa cháu, tôi không có đồng tiền nào riêng hết. Tất cả tiền của người ta cúng, dù trực tiếp cho tôi vẫn là của Tam bảo chứ không phải của riêng. Vì là của Tam bảo nên tôi không có quyền cho. Nếu lấy cho, tôi sẽ đọa địa ngục và những người được tôi cho cũng sẽ đọa địa ngục, vì họ có tu hành gì đâu mà xài phí của Tam bảo.
Như vậy cần thấy rõ một điều rất quan trọng là nếu mình lợi dụng của Tam bảo để đem về nuôi gia đình, nuôi con cháu thì đó là nhân đọa địa ngục. Mình đọa, con cháu cũng đọa chứ không cứu giúp được gì. Bởi vậy ai có tâm như vậy là tâm đọa địa ngục, lại còn làm lây đến những người thân của mình nữa, không phải là chuyện tốt lành. Vì nếu chỉ nghĩ tới điều tạm bợ trước mắt là có tiền, còn mai kia ra sao không cần biết thì thật là nông nổi khờ dại.
Người biết tu rồi phải thấy xa, của Tam bảo mà đem nuôi người thế gian là cái nhân đọa địa ngục, chứ không phải thường. Đức Phật đã dạy như vậy. Cho nên những người tu chân chánh lúc nào cũng sợ tội, luôn làm sao cho mình và thân quyến tu được. Đời này thà chịu khổ chút ít mà đời sau được an lành, tự tại giải thoát. Người tu mà không tránh điều tội lỗi là đi tìm chỗ đọa chứ không phải tìm đường tu. Thà là ở đời lo kiếm tiền, do bàn tay, sức lực của mình làm ra đem giúp gia đình thì hợp lý. Còn ở trong chùa mà lấy của chùa cho gia đình là trái với đạo lý.
Đó là tôi nhắc cho toàn chúng hiểu rõ ý nghĩa của việc đem tiền Tam bảo về nuôi gia đình hay những người thân. Đó là tội lỗi lớn chứ không phải nhỏ. Nói cho tất cả hiểu, để đừng lầm rằng đem tiền chùa về nuôi gia đình là tốt, đừng bao giờ nghĩ lầm như vậy.
Sở dĩ trong đời tu của tôi, hô lên là có người ủng hộ, chỉ vì tôi không nghĩ đến riêng mình, mà thường lo cho đạo, cho chúng, nhờ vậy mọi việc tôi muốn làm đều làm được không khó khăn. Vậy, có phước là do quyết tâm tu và hết lòng phục vụ đạo, chứ không phải từ sự gian tham của nhà chùa mà được.
Còn một điểm nữa là trong chúng đây, dường như cứ nghĩ mình chỉ lo việc lớn, lo tu hành cho đắc đạo, lo làm những việc to mà coi thường những cái nhỏ. Vừa rồi tôi được nghe báo cáo rằng ở trong chúng, khi quý vị tắm xong không dọn sạch nhà tắm, đi vệ sinh rồi không đóng cửa để gió đập. Quý vị nên cẩn thận từ những việc nhỏ mới thành tựu được việc lớn. Vì nếu việc nhỏ không làm tròn thì việc lớn chỉ nói chơi chứ không thể làm được. Cho nên trong chúng phải nghiêm trang, tề chỉnh, trật tự, vệ sinh.
Đó là những điều tôi nhắc nhở. Mong toàn chúng cố gắng thực hành.
Hôm nay tôi có một vài vấn đề nhỏ nhắc nhở trong chúng. Tất cả việc làm của chúng ta bao giờ cũng là tương đối, được mặt này thì có mặt khác không được. Như vậy phần được đáng cho chúng ta mừng và tin tưởng năm mươi phần trăm, tất sẽ có điều ngược lại mất mát hoặc đáng buồn cũng tới ba mươi phần trăm. Đó là lẽ thật chúng ta kinh nghiệm trong năm qua.
Những mất mát đó đã xảy ra không những ở thiền viện Trúc Lâm mà còn ở các thiền viện khác nữa. Nếu tôi là người không có chút ít đạo lực vững vàng thì chắc cũng rối đầu lắm. Nhưng nhờ sức tu hành tôi cứ bình tĩnh để mọi việc trôi qua nhẹ nhàng, không đến nỗi có tác động mạnh.
Thông thường, sự tu hành chúng ta càng tiến, càng cao thì trở ngại càng lớn. Chúng ta phải nắm cho vững điều đó, trên đường tu mới không bị thối chuyển; nếu không hiểu sẽ thấy bối rối. Như vừa rồi, tôi thấy không có gì đáng để có người phải rời chúng, tìm cách ở riêng. Chẳng qua là có cái gì đó thúc đẩy, xúi giục rồi tự mình thấy bất an nên đi theo vọng tưởng. Đó là mình đã thua, đã thất bại.
Những sự việc xảy ra trong năm rồi lớn có nhỏ có, hoặc lộ ra ngoài hoặc âm thầm ở trong, đều là chướng ngại đối với người yếu. Còn đối với người quyết tâm tu, đó lại là cơ hội giúp ta thấy rõ những gì làm ngăn trở sự tu hành của mình, để rồi vươn lên, đừng mắc kẹt, không thua nó nữa. Đó là tôi nói kết quả năm qua, tốt xấu đều có. Những gì gọi là ngăn trở rồi cũng chuyển hướng bình thường trở lại.
Giờ đây tôi nói cho tất cả quý vị biết, chúng ta nhìn cho thật kỹ sự truyền bá, sự tu hành, cũng như ảnh hưởng của mình đối với Phật tử, quý vị thấy một năm qua chúng ta gây được lòng tin cho Phật tử gần xa rất nhiều. Ngay trong thiền viện chúng ta, sự tu hành tiến bộ của huynh đệ cũng đáng kể. Phật tử tới lui với chúng ta ngày càng đông thêm.
Như vậy Phật sự của mình đang trên đà phát triển mạnh và nhanh mà tuổi tôi thì càng ngày càng lụn, cũng như ngọn đèn sắp tàn sắp tắt. Vậy trách nhiệm duy trì đà tiến này là của ai? Không phải của tôi nữa – tôi còn ngày nào mừng ngày đó – mà là của những vị lớn, như Đắc Pháp, Nhật Quang v.v… Quý vị thấy những vị đó có thể thế tôi được không? E rằng tôi ra đi thì quý vị đó chắc cũng sớm theo chân tôi. Người nào cũng là bệnh nhân hết, không ai mạnh khỏe, cũng không ai có sức chịu đựng như tôi.
Như vậy, những vị đệ tử lớn không thay tôi được, ai sẽ thay tôi đây? Vậy là những người hiện có mặt sẽ thay thế tôi để duy trì Phật sự lớn lao này. Đây là tôi nói xa, chưa biết ngày nào tôi từ giã ra đi. Nhưng bây giờ quý vị phải ý thức rõ trọng trách của mình. Trọng trách đó không phải là vô cớ từ đâu chất lên vai mình, mà do mình đã tự nguyện, đã quyết tâm gánh vác để đem chánh pháp truyền bá khắp xứ sở, chẳng những ở xứ sở mình mà ở các nơi khác nữa.
Vậy nên quý vị tự mình phải nhận lấy trọng trách, rồi cố gắng duy trì phát triển, chứ không thể ỷ lại nơi tôi được. Vì sức khỏe của tôi cũng có chừng mực, ngày nào không còn khỏe thì tôi nghỉ việc, khi đó những người có mặt ở đây từ lớn tới nhỏ, mỗi người phải thấy trọng trách của mình.
Ngày xưa, trước năm 1970, tôi thấy rõ ở Việt Nam chỉ có thiền ngoại đạo, ví dụ như thiền xuất hồn, thiền của hội Pháp Hoa ở ngoài Nha Trang… chứ chưa có một đường lối tu thiền rõ ràng, nhất là Bắc tông không có một chủ trương tu thiền cụ thể nào hết. Chỉ có thiền Nguyên thủy của các chùa Nam tông còn khá rõ nét.
Từ năm 1970 mãi đến bây giờ là hai mươi bảy năm, tôi cố gắng gầy dựng, phát triển, coi như đó là một chủ trương của cá nhân tôi. Quý vị thử kiểm lại, đầu tiên tại Chơn Không chỉ có mười người, rồi từ từ biến thiên, từ một thiền viện Chơn Không rất đơn sơ, lần lần đến các Chiếu, lên tới đây. Bây giờ nhìn trở lại Chơn Không và các Chiếu, quý vị thấy thiền viện nào cũng quy mô, đông đảo.
Như vậy từ con số không mà tôi cố gắng gầy dựng, duy trì, phát triển cho tới ngày nay được rỡ ràng như vậy, chẳng những trong nước mà cả ngoài nước. Chẳng những tại đây mà cả ngoài Trung ngoài Bắc người ta cũng biết. Vậy từ đây về sau là trách nhiệm của quý vị có mặt ở đây. Nhất là những người lớn, những người đã có niềm tin chắc chắn rồi, phải có bổn phận tự nhận lấy trách nhiệm, kế thừa và tiếp nối. Đừng để một ngọn đèn vừa cháy sáng phải tắt liền. Không thể nào tôi tịch rồi, mọi việc theo tôi mà tiêu mất. Như vậy thật là đáng buồn!
Chúng ta thấy chư tổ ngày xưa, như tổ Bồ-đề- đạt-ma sang Trung Hoa, chỉ mình ngài chịu cực khổ và khó khăn, tìm được một đệ tử là tổ Huệ Khả, rồi từ đó truyền nối mãi cho đến ngày nay. Trên một ngàn năm rồi vẫn còn có những người tiếp nối. Nay tại Việt Nam chúng ta, chẳng lẽ tôi gầy dựng được dòng Thiền, rồi sau tôi liền tắt ngấm?
Cho nên tất cả quý vị ở đây và những người chưa lãnh trách nhiệm đều phải ý thức rõ ràng rằng: Chúng ta cần nối tiếp ngọn đèn tổ cho được sáng rực chứ không nên để lu mờ. Vì vậy mỗi người phải có ý thức cụ thể, dù khó hay dễ, dù vui hay buồn, trong công tác Phật sự mình phải một lòng một dạ, chết sống cũng làm cho tròn. Giữ cho được những gì người đi trước đã làm, thì mai sau Phật giáo Việt Nam mới có cơ hội sáng sủa hơn, tốt đẹp hơn.
Nếu một vị nào đó vì lẽ buồn phiền, bực bội muốn rút lui, rồi ai cũng có thái độ như vậy, thì mai kia tôi tịch rồi không biết sẽ ra sao, trách nhiệm đó ai chịu? Vì vậy nên hôm nay, với những kinh nghiệm năm cũ, tôi nhắc cho tất cả chư tăng có mặt ở đây, mỗi người phải ý thức việc làm của mình. Quý vị phải làm sao tự thắp sáng ngọn đuốc, ngọn đèn của Phật tổ, rồi phải mồi phải truyền cho những người xung quanh mình cùng sáng, không để tắt mất.
Cần có nguyện lực mạnh, quyết tâm dũng mãnh để làm tròn sứ mệnh của mình. Đến ngày nào hết duyên ra đi thì người khác tiếp tục duy trì. Đó là trách nhiệm chung chứ không của riêng ai.
Thực tình Phật sự này không phải thầy tổ tôi giao, cũng không phải Phật bắt tôi làm. Nhưng tôi có mặt trên đời, có mặt trong đạo, tôi cảm thấy phải làm sao cho đời được tốt, cho đạo được phát triển dài lâu. Tâm nguyện của tôi là đem Phật pháp soi sáng thế gian, để những người mê lầm trong cuộc đời này thấy ánh sáng của đạo mà bớt khổ đau. Như vậy chúng ta làm lợi cho đạo mà cũng ích cho đời. Còn nếu mình cứ lôi thôi, hoặc sống cầu an thì Phật pháp ngày mai không biết sẽ ra sao.
Vậy mong trong chúng mỗi vị ý thức được bổn phận của mình mà nỗ lực tu và cố gắng duy trì, phát triển đạo đức, sao cho ngày càng thấm nhuần trong tất cả người dân Việt Nam nói riêng và tất cả chúng sanh nói chung. Đó là sự mong mỏi của tôi, cũng là lời nhắc nhở đầu năm.
Buổi thỉnh nguyện hôm nay, trong chúng chỉ có một lỗi nhỏ, đó là điều rất tốt. Trong những năm gần đây, chư tăng từ con số năm mươi dần dần đông hơn. Trên đường tu, mỗi năm rõ ràng thấy mỗi tiến, đó là điều rất đáng mừng. Nhưng tôi thường hay nói với toàn chúng, tất cả chúng ta đối với lý đạo có thể dễ thâm nhập, dễ hiểu nhưng đến khi ứng dụng lại khó. Mà khó nhất là tập khí nhiều đời.
Ai đi tu cũng có ý chí liều chết cố gắng tu hành để đạt đạo. Mỗi người ở đây, không ai không có quyết tâm đó. Nhưng lúc tu chúng ta thấy thỉnh thoảng cũng có xảy ra những chuyện vui buồn, hoặc một hai khi sân hận. Những điều đó đáng lý phải dẹp hết không còn. Nhưng thật sự, tu là một việc, còn tập khí vẫn sống, vẫn ẩn trong tiềm thức của mình, gặp duyên bất giác nó phát ra. Nếu chúng ta chưa đủ đạo lực thì không kìm chế nổi.
Do đó, thỉnh thoảng trong chúng cũng xảy ra những điều sai phạm. Nhưng tôi nghĩ, ai cũng quyết tâm thì tất cả những sai phạm đó từ từ sẽ tiêu giảm. Tập khí tuy lâu đời lâu kiếp, không phải chỉ trong đời này, nhưng nó cũng là thứ không thật. Bởi nó không thật, nên chúng ta quyết tâm tu, nó sẽ tiêu mòn dần.
Cho nên tất cả chư tăng đừng bao giờ có mặc cảm sao mình quá nhiều vọng tưởng, nhiều thói xấu dở. Không nên mặc cảm điều đó. Chỉ nên hổ thẹn là có dở xấu mà không biết sửa, không biết chừa. Đó mới là đáng tội, đáng trách. Chúng ta đều đang tu, không ai là thánh. Đã không phải thánh thì không có ai hoàn toàn tốt, thỉnh thoảng cũng có một hai điều sai quấy. Ví dụ, trong lục hòa có “khẩu hòa vô tránh”, mà mình vẫn bị lỗi lời tiếng tranh cãi. Hoặc “ý hòa đồng duyệt”, nghĩa là ý hòa để cùng vui với nhau, mà thỉnh thoảng ý cũng có chống đối.
Đối với những điều đó, tôi thường nói: Trong cuộc sống này không ai giống hệt ai. Mỗi người đều có tập khí riêng, do đời này hoặc những đời về trước tập nhiễm. Do đó, khi sống chung với nhau có những điều bất như ý, chúng ta phải khéo điều hòa. Một là xả phần chấp của mình để điều hòa với huynh đệ. Hai là biết rõ mình đang tiến tới chỗ chân thật cứu cánh, thì những tập khí, những bất hòa chỉ là việc trẻ con không đáng phải bận tâm. Phải luôn luôn làm chủ, bỏ qua hết, vượt qua các thói quen cũ.
Nếu tu mà vẫn còn cố chấp những ý niệm riêng tư, cho đó là đúng, là chân lý, rồi sanh ra bất đồng với huynh đệ thì không hay. Bởi vì chúng ta biết rõ những thói quen đó là thói trần tục, phàm phu, phải buông xả hết mới tiến được.
Đó là đối với những thói quen bình thường, với tập khí nhiều đời còn phải cẩn trọng hơn. Thực tình chúng ta ai cũng có những huân tập nhiều đời nhiều kiếp về trước, hoặc hay hoặc dở. Có những điều chúng ta chưa bao giờ dám nghĩ đến mà bất thần vẫn xảy ra.
Ví dụ như chư tăng luôn cố giữ giới thanh tịnh, nhưng đôi khi vẫn mộng thấy những chuyện lôi thôi, thấy những cảnh không tốt mà mình không làm chủ được. Hoặc trong giấc mộng còn những thói cũ trái đạo lý sống trở lại mà mình vẫn theo. Đó là tập khí nhiều đời còn thừa còn sót, nên bây giờ tuy không nghĩ tưởng mà nó vẫn hiện ra.
Lại có những tập khí đến trong lúc sinh hoạt ban ngày. Ví dụ như người nào đó trước là tướng, là quan quyền quen thói nóng nảy la lối. Bây giờ tu rồi, nghiêm chỉnh nhu nhuyến, nhưng bất thần có một điều gì không vừa ý xảy ra thì tật nóng nảy, la lối cũ cũng trỗi dậy, kìm chế không kịp. Biết vậy rồi, chúng ta thông cảm với nhau, xây dựng cho nhau, đừng vì chỗ bất giác của họ mà cố chấp, gièm pha, không hay.
Tôi nhắc lại một lần nữa, lúc Phật đương thời, ngài Ca-diếp là một vị tu hành hết sức miên mật, đức Phật thường tán thán ngài là vị tu khổ hạnh bậc nhất, và đôi ba lần xác nhận: Ta được cái gì thì Ca-diếp được cái ấy, ta biết cái gì thì Ca-diếp cũng biết cái ấy. Như vậy là Phật tán thán ngài Ca-diếp có cái nhìn cái biết đồng với Phật.
Thế mà một hôm, khi thần Càn-thát-bà đánh đàn cúng dường Phật quá hay, bất giác ngài Ca-diếp đứng dậy nhảy múa theo. Thử hỏi một tu sĩ nghiêm trang khổ hạnh mà có hành động như vậy, quý vị chấp nhận được không? Thế nên lúc ấy đại chúng thắc mắc hỏi Phật:
– Ngài Ca-diếp tu hành rất nghiêm chỉnh, tại sao nghe nhạc lại đứng dậy múa?
Đức Phật đáp rằng:
– Trước kia Ca-diếp đã nhiều đời làm nhạc công, nên bây giờ tập khí cũ còn, nghe nhạc quá hay thì tự phát ra như vậy.
Ngài Ca-diếp còn không làm chủ được tập khí của mình thì chúng ta có bảo đảm làm chủ được không? Đó là điều rất đáng sợ! Nên tôi thường nói với chư tăng, dù ai có tu hành khá, đạo lý thâm sâu, cũng đừng bao giờ bảo rằng mình thắng được tất cả tập khí. Trái lại luôn luôn phải dè dặt, đi đâu làm gì cũng phải cẩn thận, đừng tưởng mình sạch hết, đó là lầm. Đến lúc tập khí nổi dậy, dù có ăn năn hối cải cũng đã muộn màng.
Tôi hay nói rằng tập khí của mỗi người thật đáng sợ chứ không phải thường. Vì nó ẩn tàng ở đâu mình không hiểu, mỗi khi gặp cảnh duyên lại bất chợt phát ra, mình không làm chủ được, thật là nguy hiểm! Cho nên tất cả chư tăng phải tự cảnh tỉnh, luôn luôn dè dặt, đừng khinh suất. Khinh suất là cơ hội để tập khí bất giác xuất hiện, lúc ấy hối hận không kịp.
Tôi là người có trách nhiệm hướng dẫn tăng ni, nhìn lại tập khí tôi phải giật mình. Nhiều điều tôi nghĩ không bao giờ xảy ra mà vẫn xảy ra như thường, thật đáng sợ! Nên tôi khuyên tất cả ráng tu chân chánh, thành tâm sám hối mỗi đêm cho bao nhiêu tập khí cũ chóng sạch, được trong sáng thanh tịnh, để đời tu của mình đừng có gì bất trắc xảy ra khiến phải sơ suất, có lỗi với đạo.
Vì vậy, trong huynh đệ nếu thỉnh thoảng có người nào bất thần lộ ra những điều dở xấu của họ thì chúng ta cũng thông cảm. Đó là tập khí nhiều đời chưa tiêu hết được. Vào đây rồi không ai còn muốn tranh hơn tranh thua, hoặc tham lam, nóng giận gì nữa, chỉ là do bất chợt phát ra. Chúng ta hiểu rồi nhắc nhở, khuyến khích nhau tu, còn hơn là ngồi trách cứ, không bao giờ hết cái dở được. Tập khí chỉ hết khi nào cố gắng tu, nó sẽ tiêu mòn dần.
Tôi thấy rất rõ, chư tăng cũng như chư ni, có nhiều người bình thường thấy rất dễ thương, dễ dạy, nhưng khi gặp duyên gì đó, tập khí nổi dậy không làm chủ được, nên có những lỗi mình không thể lường trước được. Do đó chư tăng, một là nên lấy đây làm kinh nghiệm bản thân để tự dè dặt, luôn luôn miên mật làm chủ, đừng thả lỏng. Hai là khi có huynh đệ nào tập khí nổi dậy chưa thắng kịp, mình cũng thông cảm tha thứ cho nhau. Như vậy trên đường tu mới có thể bền lâu, vững vàng và tất cả chúng ta mỗi ngày mỗi tiến lên một cách vững chắc, nếu còn cố chấp với nhau sẽ không tránh khỏi những chuyện lôi thôi.
Hơn nữa, tập khí người ta thì mình thấy, còn tập khí của mình lại không hay biết. Bởi không tự thấy mà chỉ thấy người rồi phê phán đủ thứ, quên bẵng tập khí của chính mình. Đó là chỗ sơ suất làm cho tập khí cũ sống dậy lâu dài.
Bởi vậy, thỉnh nguyện hàng tháng là để mỗi vị tự kiểm tra lại mình có những xấu dở gì để tự ra trình bày sám hối. Nói cách khác là phát lồ sám hối giữa đại chúng để tiêu mòn nghiệp chướng. Nếu ai không tự thấy lỗi mình thì nhờ huynh đệ có thấy chỉ cho để sám hối. Như vậy là chu toàn nhất, bởi vì không ai là người hoàn toàn tốt đẹp, thỉnh thoảng cũng có chen một hai cái xấu dở theo thói quen cũ.
Vậy nên trong buổi thỉnh nguyện, chúng ta phải tha thiết, chân thành nói lên lòng cầu mong sửa đổi tất cả lỗi lầm. Như vậy trên đường tu sẽ được tiến mãi. Đó là lời nhắc cho toàn chúng nhớ để cố gắng ứng dụng.
Buổi thỉnh nguyện hôm nay toàn chúng chỉ vài người có lỗi nhỏ, đó là điều rất tốt.
Hôm nay, tôi nhắc nhở một điều thường xảy ra trong chúng. Thông thường, người thế gian vì lòng tham danh lợi, tài sắc, ngũ dục, tham mà không được nên nổi sân, cái đó còn hợp lý. Còn trong giới tu sĩ chúng ta không tham như người thế gian, mà lâu lâu nổi sân là sao? Cái đó có phải là điều phi lý không? Danh lợi tài sắc không mến tiếc, thì cá nhân mình có ai nói nặng nói nhẹ, mình có giận không? Sở dĩ giận là vì bản ngã, sợ mất uy tín, mất danh dự. Ở đây không có danh thì có cái gì để giận?
Hiện nay ở trong chúng, tôi thấy có một số người cũng hay nóng nảy, điều đó không tốt, trái với mục đích mình nhắm. Chúng ta đi tu là để tiêu diệt tham sân si, phá sạch bản ngã, mà có ai nói đụng tới liền nổi sân đùng đùng lên, như vậy là bản ngã y nguyên. Bản ngã còn thì lòng hiếu danh vẫn còn.
Vì vậy, tôi mong tất cả chư tăng từ lớn đến nhỏ phải sống cho hợp đạo lý. Nhất là những khi huynh đệ xúc chạm chút ít đến bản ngã của mình thì nên nghĩ: Tu rồi bản ngã là vô nghĩa không đáng. Không nên tôn trọng bản ngã rồi sanh chống đối nhau, vô tình trong giới tu sĩ chúng ta cũng còn hơn thua phải quấy, đó là điều không tốt. Quý vị đã xả bỏ tất cả mà còn duy trì bản ngã, điều này làm mình tu không tiến và đạo đức bị tổn giảm.
Cho nên mong rằng chư tăng phải thấy rõ điều đó, đừng vì chút lời qua tiếng lại hoặc những câu nói vô tình của người mà sanh sân hận, không tốt. Hoặc giả có một hai việc làm của người khác lỡ trái ý mình, nổi nóng la om sòm cũng là điều không nên có, vì tất cả việc đó đều là hiện tượng của bản ngã còn được coi trọng quá, chưa hề tiêu giảm. Đạo Phật là đạo vô ngã, nghĩa là “cái ta” không có thật. Nó không có chủ thể thì có gì đâu mà phải bênh vực, phải bảo vệ quá đáng cho trái với đạo lý.
Cho nên tôi nhắc nhở tất cả chư tăng ráng giữ lòng mình ôn hòa, nhu thuận để cuộc sống được vui tươi, đừng xảy ra chuyện gì đáng tiếc. Bởi vì những điều xảy ra lúc nóng giận đó, mọi người xung quanh đều nhìn thấy, nhất là nếu có cư sĩ, họ sẽ đánh giá tập thể chúng ta không tốt đẹp.
Nóng giận là chuyện phàm phu, mà ở trong đây tu hành vẫn còn như vậy thì không hơn phàm phu bao nhiêu. Do đó quý vị phải dè dặt. Nếu lỡ nóng giận thì phải khéo né tránh, đừng để sanh ra đụng chạm, rất dở, rất tội lỗi. Đó là lời nhắc nhở của tôi hôm nay.
Buổi thỉnh nguyện hôm nay toàn chúng đều có tinh thần tự giác, ra giữa chúng sám hối lỗi lầm của mình. Đó là đức tánh rất tốt, còn vị nào chưa thấy được lỗi, nhờ huynh đệ chỉ để sửa cũng tốt, như vậy tinh thần thỉnh nguyện mới đầy đủ ý nghĩa. Tự giác là tinh thần cao thượng, tự mình biết nhận lỗi, sửa đổi những xấu dở thành tốt đẹp.
Chúng ta còn là phàm phu, không ai tránh khỏi lỗi lầm. Khi sống chung với nhau cũng phải làm những công việc lặt vặt, có làm là có va chạm. Vì khi làm có kẻ giỏi người dở, kẻ mạnh người yếu, người siêng kẻ lười, không giống nhau nên rồi cũng có những sai biệt. Từ sai biệt sanh ra bực bội, rồi có những chuyện bất đồng. Mà chúng ta đã là người tu rồi thì bất đồng nào cũng phải hóa giải, đừng để gây chia rẽ, bất an hoặc buồn phiền. Điều đó không tốt, gây trở ngại cho sự tu. Đó là tôi nhắc nhở toàn chúng tinh thần thỉnh nguyện và sống trong tập thể phải nhớ như vậy.
Giờ tôi nhắc thêm trên mặt giới luật, đây nói cho Tỳ-kheo mà Sa-di cũng nên biết để sau này tập cho được như vậy. Trong giới Tỳ-kheo khi nói về pháp Tứ y, trong đó có nhắc chúng ta bốn điều mà Tỳ-kheo phải thực hiện cho được.
1- Bị người mắng không được mắng lại.
2- Ai giận mình không được giận lại.
3- Bị giễu cợt không giễu cợt lại.
4- Bị đánh không đánh lại.
Đó là bốn điều mà ai thọ giới Tỳ-kheo cũng phải giữ. Bây giờ tôi giải thích cho quý vị thấy tại sao bị mắng không được mắng lại. Chúng ta sống trên thế gian này, ngoài tập thể tu hành của mình còn bao nhiêu người thế gian rất phức tạp, kẻ thì quý trọng đạo đức, người lại khinh thường đạo đức, kẻ gian manh, người lương thiện, không ai giống ai.
Trong chỗ phức tạp như vậy, thông thường người có đạo đức thấy người tu thì mến, kẻ không đạo đức thấy người tu sẽ không ưa. Không ưa thì khi thấy cái gì làm họ thiệt thòi đôi phần, họ dễ dàng mắng chửi. Nếu họ là người phàm tục mắng chửi mình, mình mắng chửi lại thì có khác họ không? Người ta không tu mắng chửi mình, mình đã tu mà mắng chửi lại tức hai bên cùng là phàm phu tục tử hết, không có ai là người đạo đức thật.
Bởi vậy Phật mới dạy chúng ta dù có bị mắng chửi cũng không nên mắng chửi lại, như vậy mới rõ ràng ai là người đạo đức, ai là người vô đạo đức. Nếu bên này mắng qua bên kia mắng lại, thì hai người như nhau, đều không có đạo đức.
Đó là ý nghĩa rất quan trọng đối với người tu, nhất là hàng Tỳ-kheo không thể nào quên được điều đó. Nếu quên thì mình giống hệt người thế gian.
Thứ hai, bị người giận không được giận lại. Tại sao người ta giận mình mà mình không có quyền giận họ? Vì họ là người chưa hiểu đạo, chưa biết tu nên cái gì không vừa ý liền giận. Họ luôn cho là mình đúng, nói rằng việc đó đáng giận… Nhưng với người tu chúng ta, mỗi lần giận bị thiệt hại lớn lao trên đường tu. Vì giận dễ thốt ra lời không lành, giận sẽ có những hành động không tốt, làm thương tổn đạo đức của mình. Đó là bên ngoài, còn bên trong khi giận người ta thì lòng mình bất an, rối rắm không thể nào ngồi thiền tu định được, vừa trở ngại sự tu, vừa hạ thấp giá trị đạo đức của mình nữa. Cho nên khi người ta giận mình Phật cấm mình giận lại là vậy.
Thứ ba, người ta giễu cợt mình, mình không được giễu cợt lại. Vì người đời hay đùa cợt khi thấy ai có cái gì lạ. Ví dụ họ thấy mình tu liền nói “thầy chùa nấu canh chua”, là sao? Có phải giễu cợt không? Nếu mình giễu cợt lại thì đều là những người nói tào lao tầm bậy. Cho nên thế gian họ giễu cợt mình, mà mình vẫn trầm tĩnh, an nhiên thì sự giễu cợt đó thành vô nghĩa. Nếu mình tìm những lời để cợt lại họ, hay nói cho họ bực tức thì đó là trái đạo lý, mất tính cách điềm đạm bình tĩnh của người tu. Vì vậy mà Phật không cho giễu cợt lại.
Thứ tư, người ta đánh mình, mình không được đánh lại. Điều này quý vị thấy rất khó phải không? Tại sao rất khó? Đánh tức là xúc phạm đến cơ thể này, thì phản ứng tự nhiên là nó chống trả lại. Nhưng với người tu, lúc nào cũng làm chủ mình, nên những sự vô lễ nếu có tác hại đến thân mình, ta nên lặng lẽ tránh, để giữ cho đúng thái độ người tu. Nếu một ông thầy mặc áo tràng vàng, áo tràng nâu ra đường gặp người nào đó đang bực mình đến đánh, lúc đó mình đánh lộn với họ thì thế gian sẽ đánh giá làm sao? Mình là người tu hay là không tu? Vì vậy trước những kẻ hung hăng chúng ta nên né tránh, đừng để xảy ra chuyện đánh đập lẫn nhau. Làm như vậy trái đạo lý, thiên hạ sẽ chê cười là mình không có đạo đức.
Phật đặt bốn điều này ở bên cạnh các giới trọng mà người xuất gia phải thọ phải giữ. Trong chúng cần hiểu rõ những điều này để sống sao cho đúng, cho tròn với những gì đã hứa trước Phật, nguyện trước chư tăng khi mình thọ giới. Những điều quan trọng đó mà không giữ thì làm giảm giá trị của người tu.
Trong kinh Phật dạy mình phải như đất, dù họ có xoi xỉa, có tiểu trên đất, đất cũng không giận, nhưng thường mình có giận không? Mình bị xoi xỉa một chút thì chịu không nổi. Phật lại dụ chúng ta như nước, nước đem lại mát mẻ cho người, nước còn bị người ta sử dụng để tắm, giặt đồ nhơ uế, mà nước cũng không buồn không giận, người tu cũng phải như vậy.
Do đó tất cả chúng ta tu phải chấp nhận những gì người ta đem tới, dù không tốt mình vẫn giữ được tinh thần đạo lý, vẫn im lặng chấp nhận mà tâm không ô nhiễm thì mới tốt, mới là đạo đức thật. Đừng tỏ ra mình khôn lanh, rồi chống đối người này, cự lộn người kia, đó là dở. Cái khôn lanh đó là thế tục chứ không phải đạo đức.
Ở đây đạo đức là chúng ta ẩn nhẫn, chịu đựng hết những điều xấu dở mà lòng không thù giận, không phiền não. Đó mới thật là đạo đức. Còn nếu thù giận thì đạo đức suy giảm, đưa đến mất hết giá trị của người tu. Vì vậy hôm nay tôi mong tất cả chư tăng đều có tinh thần ẩn nhẫn cao đối với những việc không như ý, đừng nên có tâm phiền não, dấy động làm mất giá trị người tu, người đạo đức.