Đâu Là Chân Hạnh Phúc

Mình Thương Ai Nhất



Phàm nói đến thương yêu thì những người được thương là cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh em… Đó là những đối tượng được thương đứng hàng đầu mà không ai phủ nhận. Nhưng tại sao đây hỏi “mình thương ai nhất”. “Ai” mà mình thương nhất đó là nhân vật nào mà quan trọng đến thế?

Trong kinh A-hàm, có đoạn ghi: Một hôm vua Ba-tư-nặc hỏi phu nhân Mạt-lợi:

– Trên đời này ái khanh yêu ai nhất?

Phu nhân Mạt-lợi đáp:

– Dĩ nhiên, người thiếp yêu chính là bệ hạ.

Vua Ba-tư-nặc nói:

– Trẫm cũng đoán rằng khanh sẽ nói như thế.

Phu nhân Mạt-lợi mỉm cười:

– Tâu bệ hạ, nếu thánh thượng cho phép, thần thiếp sẽ nói khác đi một tí, nhưng xác thực hơn.

Vua Ba-tư-nặc bảo:

– Khanh cứ nói!

Phu nhân Mạt-lợi thưa:

– Tâu bệ hạ, người mà thần thiếp yêu quý nhất chính là thần thiếp.

Vua Ba-tư-nặc ngạc nhiên:

– Sao? Mình lại yêu mình? Trẫm không hiểu khanh muốn nói gì?

Phu nhân Mạt-lợi thưa:

– Tâu bệ hạ, vì có ái trọng tự ngã mình, nên thần thiếp mới yêu thương bệ hạ, vì bệ hạ là người đem lại hạnh phúc cho cái tự ngã này.

Vua Ba-tư-nặc nói:

– Trẫm biết điều đó, nhưng vẫn chưa hiểu rõ ý của khanh.

Phu nhân Mạt-lợi dè dặt:

– Tâu bệ hạ, thần thiếp mạn phép nêu ra một câu hỏi: “Trên đời này bệ hạ yêu thương ai nhất?”

Vua Ba-tư-nặc cười:

– Ái khanh chứ còn ai!

Phu nhân Mạt-lợi hỏi tiếp:

– Giả sử thần thiếp yêu thương một người đàn ông khác thì bệ hạ sẽ làm gì?

Vua Ba-tư-nặc lúng túng:

– À, trẫm sẽ… trẫm sẽ…

Phu nhân Mạt-lợi tiếp lời:

– Bệ hạ sẽ nổi trận lôi đình, chém đầu thần thiếp ngay lập tức phải không?

Vua Ba-tư-nặc giả lả:

– Khanh hỏi rắc rối quá! Rắc rối thật!

Phu nhân Mạt-lợi hỏi:

– Tâu bệ hạ, có đúng thế không ạ?

Vua Ba-tư-nặc đáp:

– À… à…..

Phu nhân Mạt-lợi hỏi dồn:

– Đúng, phải không bệ hạ?

Vua Ba-tư-nặc im lặng giây lâu, nói:

– Có lẽ khanh nói đúng.

Phu nhân Mạt-lợi nói:

– Thế là bệ hạ đã đáp câu hỏi của thần thiếp rồi!

Yêu người ta nhất đời mà người ta yêu kẻ khác thì chặt đầu. Như vậy có yêu nhất đời chưa? Nếu yêu nhất đời thật, thì dù người ta có thương ai khác, mình cũng vẫn thương người ta. Đằng này người ta không thương mình thì mình chặt đầu, vậy thương đó là qua ai? Thương đó là vì mình! Mình chỉ thương mình thôi! Tất cả mọi đối tượng mà mình thương mến đều vì mình mà mình thương, thương người qua tự ngã của mình đó vậy.

Hôm sau vua Ba-tư-nặc xa giá đến tinh xá Kỳ Viên thăm Phật và trình bày câu chuyện đối đáp giữa vua và hoàng hậu. Phật xác nhận ý kiến của phu nhân

Mạt-lợi qua bài kệ như sau:

Tâm ta đi cùng khắp 

Tất cả mọi phương trời 

Cũng không tìm thấy được

Ai thân hơn tự ngã 

Đi tìm khắp phương trời

Cũng không tìm đâu thấy 

Ai thân hơn tự ngã 

Vậy ai yêu tự ngã 

Chớ hại tự ngã người.

Đó là lời xác nhận của Phật: Chúng sanh yêu tự ngã mình hơn hết.

Đa số người đời thương tự ngã mình hơn hết mà không biết, cứ nghĩ thương người này hết lòng, thương người kia hết lòng. Hoặc giả có biết mình thương tự ngã mình cũng không can đảm nói thật, nói gạt thiên hạ là mình thương chúng sanh, chứ đích thật mình thương mình là gốc. Thí dụ có một Phật tử rất tốt, tu hành rất tinh tấn, song đối với mình lúc nào họ cũng chỉ trích. Mình nói nhiều họ cũng chỉ trích, mình đi đứng không nghiêm trang họ cũng chỉ trích, mình lười ngồi thiền họ cũng chỉ trích. Họ cứ chỉ trích đả phá mình hoài, nên mình không chịu nổi, không thương họ được. Hầu hết chúng ta thương ai, mến ai là vì người đó thương mình, giúp mình, đem sự lợi lạc, an ổn cho mình. Nếu không như vậy chắc mình không còn thương họ. Như vậy, cái thương đó là cái thương vì bản ngã.

Cái đau khổ nhất của con người là thấy mình tối thượng, lúc nào cũng nghĩ về mình, song tự đánh mất mình mà không hay. Tất cả đều quy hướng về bản ngã, nhưng rốt cuộc rồi lại bỏ quên cái thật ngã chính mình! Hằng ngày chúng ta cứ đuổi theo cái giả ngã, vun bồi cho nó được sung túc to lớn, mai kia nó hư hoại mất đi, chừng đó chúng ta không biết làm sao đây? Như vậy, nói thương mình lại vô tình đánh mất mình mà không biết. Đó là một sự thật đáng thương mà ít ai thấy.

Tôi xin hỏi: Thương mình là thương cái gì? Phải chăng thương thân tứ đại? Thân tứ đại là do đất, nước, gió, lửa hợp lại mà thành, chúng có đặc tính xung khắc chống đối nhau, thường bất hòa không an. Một lúc nào đó sẽ rã tan. Khi rã tan thì cái gì thật là mình mà mình thương yêu? Nói tứ đại không thật là mình nên mình không thương, vậy mình thương cái gì? Có phải mình thương tâm mình? Tâm mình là cái nghĩ suy tính toán, một khi đã nghĩ điều gì thì cho điều mình nghĩ là chân lý, nếu có ai cãi lại thì không chịu, có thể tranh luận hoặc đánh đá để bảo vệ cái mình nghĩ. Bảo vệ tức là yêu nó chứ gì? Nhưng cái suy nghĩ đó nó không thật, nó nghĩ cái này nó nghĩ cái kia, khi nhìn lại nó đâu mất, tìm không ra. Nó chợt hiện chợt mất, nó không có hình dáng nào cố định cả; không có hình dáng cố định làm sao thật được? Cái không thật mà cho là mình, có đúng không? Không hợp lý. Lại cái suy nghĩ đó khi nghĩ điều thiện, tốt như hiền thánh, lúc nghĩ điều ác, dữ như cọp sói.

Như vậy, mình là hiền thánh, hay mình là cọp sói? Lại nữa, nó vừa nghĩ điều thiện liền biết nó đang nghĩ thiện; nó vừa nghĩ ác, liền biết nó đang nghĩ ác. Như vậy, nó là cái bị biết thì nó là khách, đâu phải là chủ là mình? Mọi người dồn hết tâm lực để lo cho mình, thế mà tứ đại không phải là mình, cái nghĩ suy cũng không phải là mình. Vậy chúng ta thương mình là thương cái gì? Quý vị thử nói xem? Thương đất nước gió lửa không được, vì đất nước gió lửa vô tri, có gì mà thương? Thương cái nghĩ suy cũng không được, vì cái nghĩ suy chợt hiện chợt mất, làm sao thương? Vậy chúng ta thương cái gì đây? 

Mọi người đều lầm tưởng có “cái mình” thật, nhưng không ngờ đó chỉ là nhóm tứ đại tập hợp và những niệm nghĩ suy sanh diệt, mọi người bám vào đó cho là mình. Kinh Viên Giác, Phật dạy: “Chấp thân tứ đại là mình, chấp cái nghĩ suy phân biệt là mình đó là vô minh.” Thế nên ai yêu thân tứ đại, ai yêu cái nghĩ suy phân biệt đều là vô minh. Càng yêu nó là càng chìm trong sanh tử, càng yêu nó là càng mất mình!

Đây tuy nói là yêu mình nhất, chứ kỳ thật chúng ta yêu sáu trần hơn hết. Tại sao tôi nói khác lạ như thế? Vì giờ tọa thiền, cốt yếu là giữ cho thân tâm yên lặng thanh tịnh, thế mà không bỏ nó được, lát nhớ cảnh vật này, lát nhớ âm thanh nọ… cứ nhớ hoài! Như vậy thì còn yêu ai hơn nó? Trong kinh Thủ-lăng-nghiêm, Phật có nói: “Chúng sanh quên mình theo vật.” Quên mình theo vật là khi mắt thấy sắc thì chỉ biết có cảnh vật đẹp xấu, khi tai nghe tiếng thì chỉ biết có âm thanh hay dở, quên mình có “cái hay thấy hay nghe”, chỉ một bề chạy theo âm thanh sắc tướng bên ngoài mà quên “cái mình chân thật”. Hằng ngày, hằng giờ, hằng phút chúng ta quay về với mình (tánh thấy tánh nghe) hay chúng ta đuổi theo sáu trần? Rõ ràng đang chạy theo sáu trần. Ngồi thiền mắt nhìn xuống, tuy không thấy cảnh vật chung quanh, chứ tâm cũng chạy theo pháp trần. Xả thiền ra thì mắt chạy theo cảnh, tai đuổi theo tiếng… không bao giờ dừng nghĩ. Chạy theo sáu trần không dừng nghĩ, không yêu nó thì yêu ai? Nếu không yêu nó mà chạy theo nó để làm gì? Rõ ràng là yêu sáu trần và chạy theo nó nên quên mình, mất mình. Sống như thế không phải quên mình theo vật là gì?

Chúng ta là người thật tu thì phải biết rõ chủ yếu của sự tu là gì? Tu là trở về cái thể chân thật của chính mình. Có trở về cái thể chân thật của mình mới thật là yêu mình. Đang quên mình theo vật thì làm sao gọi là yêu mình được? Đây tôi dẫn kinh điển Nguyên thủy và kinh điển Đại thừa, cũng như lời khai thị của thiền sư, để quý vị thấy chúng ta là người quên mình chứ không yêu mình. Một hôm tôn giả Phú-lâu-na xin Phật dạy cho phương pháp tu đơn giản để ngài đến nơi thanh vắng tu. Phật dạy: “Mắt thấy sắc không đuổi theo không dính mắc là gần với Niết-bàn, tai nghe tiếng không đuổi theo không dính mắc là gần với Niết-bàn, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân duyên xúc, ý duyên pháp không đuổi theo không dính mắc là gần Niết-bàn.” Đó là trở về mình, trở về cái thể chân thật của chính mình. Ngài Phú-lâu-na tu chỉ ba tháng chứng quả A-la-hán. Như vậy, chính khi sáu căn không dính mắc với sáu trần là mình trở về với mình, đó là gần Niết-bàn, ngược lại là xa Niết-bàn.

Kinh Kim Cang ngài Tu-bồ-đề hỏi Phật: “Người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác làm sao hàng phục tâm, làm sao an trụ tâm?” Phật dạy: “Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.” Nghĩa là không nên khởi tâm dính mắc với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, đó là chỗ an trụ của người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nghe tới đây Lục Tổ liền ngộ, không phải ngài chỉ ngộ cái lý “Không trụ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, sanh tâm…” mà ngài còn thấy xa hơn nữa. Ngài thấy tánh mình xưa nay vốn thanh tịnh, tánh mình xưa nay vốn không sanh diệt, tánh mình xưa nay vốn tự đầy đủ. Xuyên qua lý “Sáu căn không dính với sáu trần là chỗ an trụ của người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.” Ngài liền nhận ra cái thể chân thật của chính mình mà thiền gia gọi là Bản lai diện mục. Sở dĩ chúng ta không nhận ra bộ mặt thật xưa nay của chính mình là vì chúng ta chạy theo sáu trần. Ngược lại, không đuổi theo sáu trần thì bản lai diện mục hiện tiền. Sau đây là câu chuyện đối đáp của thiền sư Cảnh Thanh với thị giả.

Một hôm trời mưa, ngoài vườn có tiếng nhái kêu vì bị rắn bắt, ngài hỏi thị giả:

– Tiếng gì đó?

Thị giả thật thà đáp:

– Tiếng nhái kêu.

Ngài nói:

– Chúng sanh khổ lại có khổ chúng sanh.

Tại sao “Chúng sanh khổ lại có khổ chúng sanh?” “Chúng sanh khổ” là con nhái bị con rắn cắn gần chết nên kêu la. Còn “khổ chúng sanh” là thị giả nghe tiếng nhái kêu chạy theo tiếng nhái, quên mình. Hiện tại chúng ta sống có phải là “khổ chúng sanh không?” Đa số đều chạy theo sáu trần, mà quên mất mình, sống mà cũng như chết. Không khổ chúng sanh là gì?

Rồi một hôm trời mưa, tiếng mưa rơi tí tách. Ngài hỏi thị giả:

– Tiếng gì đó?

Thị giả thưa:

– Tiếng mưa rơi.

Ngài bảo:

– Chúng sanh quên mình theo vật.

Thị giả nghe tiếng mưa rơi chỉ một bề nhớ tiếng mưa rơi mà không nhớ mình có tánh nghe. Nên bị ngài quở quên mình theo vật. Nếu chúng ta được hỏi như thế, chắc cũng trả lời như thị giả ở đây. Phải trả lời sao mới không quên mình theo vật? Con đang nghe. Khi nghe tiếng mưa, nhớ mình có tánh nghe, nên nói con đang nghe.

Chúng ta là người tu, mục đích là tìm lại con người chân thật của chính mình. Như thế mới là thương mình, chứ còn chạy theo sáu trần mà nói thương mình, cái yêu đó chỉ là yêu sáu trần, yêu tứ đại chứ không thật yêu mình. Thế nên phải buông xả sáu trần, xả sáu trần mới trở lại mình được, không thì đánh mất mình.

Quý vị có dám buông xả sáu trần không? Sáu trần là tướng sanh diệt bên ngoài, nếu theo đuổi dính mắc nó thì “cái chân thật” sẽ bị quên đi. Lục Tổ khi ngộ được lý này rồi, ngài thường đề cập đến việc “kiến tánh”, tức là nhận được thể tánh chân thật của chính mình và khi đã kiến tánh thì không còn dính mắc sáu trần nữa.

Vua Trần Thái Tông đời Trần, lúc việc nước rảnh rang, ngài đọc kinh Kim Cang, nghiền ngẫm câu: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.” Sau ngộ được lý này, trong bản Thiền Tông Chỉ Nam ngài có soạn pháp sám hối tên “Lục thời sám hối” trong đó ngài sám hối mắt, sám hối tai, sám hối mũi, sám hối lưỡi, sám hối thân, sám hối ý. Mỗi thời sám hối một căn. Sám hối như vậy cốt để gỡ cái dính mắc sáu trần. Do ngộ mà ngài chế ra nghi thức sám hối ngay nơi sáu căn, đó là điều đặc biệt của riêng ngài, không bắt chước các thiền sư, các nhà giảng kinh ở Trung Hoa. Và đây là tựa bài kệ Tứ Sơn (kệ bốn núi: sanh, già, bệnh, chết) trong đó ngài sám hối sáu căn:

Tỷ trước chư hương thiệt tham vị

Nhãn mạnh chúng sắc nhĩ văn thanh

Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách

Nhật viễn gia hương vạn lý trình.

Nguyễn Lang dịch:

Lưỡi vướng vị ngon, tai vướng tiếng

Mắt theo hình sắc, mũi theo hương 

Lênh đênh làm khách phong trần mãi 

Ngày hết, quê xa vạn dặm đường.

Là một ông vua bận rộn việc nước mà ngộ được lý đạo nhắc nhở chúng ta tu như thế, thật là chuyện hiếm có. Chúng ta là người đủ duyên phước xuất gia sống trong cửa thiền, duyên đời được cắt nhiều mà cứ dính mắc với sáu trần mãi thì biết bao giờ mới thấy đạo? Thời vua Trần Thái Tông là thời đất nước loạn ly, quân Nguyên xâm lăng. Việc nước nặng nề bận rộn, mà ngài tu thấy đạo nói được những câu như vậy, chúng ta là người ở trong chùa rảnh rang ít việc, không bận bịu gia đình, không lo nghĩ chuyện đói no ấm lạnh, thế mà buông sáu trần không nổi, thì chẳng biết nói sao! Thật đáng xót thương cho mình! Đó là “khổ chúng sanh”. Muốn tìm lại mình, sống với chính mình mà cứ dính với sáu trần hoài thì làm sao sống với mình đây?

Lâu nay chúng ta đang đánh mất mình, không riêng gì chúng ta mà cả nhân loại cũng đang mất mình. Như vậy người tu có ích kỷ không? Vì tìm lại mình lo cho mình, theo quan niệm người đời là ích kỷ. Chúng ta dồn hết tâm lực xoay lại tìm cho ra cái chân thật của mình, thiền gia gọi là phản quan tự kỷ. Luôn luôn xem xét mình thấy như ích kỷ, chỉ vì mình. Song đó là việc làm lợi tha vô kể. Vì bao nhiêu tỷ người đang quên mình đang đánh mất mình. Nếu mình tìm được cái chân thật của mình rồi, mình chỉ cho mọi người nhận ra cái chân thật của họ thì cứu giúp nhân loại biết là bao!

Chúng ta sống mà không biết mình sống, nói mình, mà không biết cái gì là mình. Như vậy là sống hay chết? Nói mình là cái nói rỗng, không có ý nghĩa, chúng ta tu là phải xoay lại tìm cho ra cái chân thật đó, luôn luôn phải nỗ lực cố gắng không thể chần chờ. Muốn tìm ra cái chân thật đó là phải đừng thương sáu trần. Quý vị có chấp nhận không thương sáu trần nữa không? Dám xả ly nó không? Quý vị mà xả ly sáu trần, quý vị không muốn làm thánh cũng là thánh. Còn nếu không xả ly nó, thì nó dẫn quý vị đi mãi trong vòng luân hồi sanh tử. Tu cốt để giải thoát ra khỏi sanh tử, muốn hết sanh tử là phải nhận ra cái thể chân thật không sanh không diệt có sẵn nơi mình bằng cách xả ly sáu trần. Nếu theo sáu trần thì cái chân thật đó không hiện.

Từ ngày tôi hướng dẫn cho quý vị tu tới giờ, lúc nào tôi cũng khuyên quý vị hãy xả ly sáu trần, đến nay quý vị có chịu xả ly chưa?

– Chưa, chắc còn khắn khít lắm. Cái mà Phật răn, tổ quở, thầy rầy mà không chịu bỏ, không yêu nó tột đỉnh là gì? Chúng ta học đạo, hiểu đạo rồi, nhất định phải tìm cho ra cái thể chân thật của chính mình là xây lưng với sáu trần đó là bối trần hiệp giác, chứ không được bối giác hiệp trần nữa. Mong quý vị can đảm xả ly nó để trở thành hàng thiệu long thánh chúng.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.