Trong bốn chữ Thiền Quan Sách Tấn, tuyển giả Châu Hoàng chú trọng chữ “quan”. Quan có nghĩa là cửa, cũng có nghĩa là cổng. Nói cửa tam quan là cổng bên ngoài, khác với chữ “môn” là cửa vào trong nhà. Hai chữ đều có nghĩa là cửa, nhưng khác nhau ở vị trí, nằm trong nhà gọi là môn, ngoài cổng là quan.
Thiền lại có cửa (quan) sao? Đạo vốn không có trong ngoài, ra vào; nhưng người hành đạo bởi có mê ngộ nên bậc đại thiện tri thức giữ cửa không thể không có khi mở đóng.
Đúng ra vào đạo không có cửa vì đó là chỗ đại từ bi, rỗng rang, thanh thoát không có gì ngăn trở, nhưng vì hành đạo có kẻ mê, người ngộ nên tạm mở cửa phương tiện. Với người ngộ, cửa lúc nào cũng sẵn mở, song đối với kẻ mê, thân tuy hành đạo nhưng tâm miệng không có đạo, tâm nghĩ xằng, miệng nói bậy. Những người đó nếu không ngăn rào, chẳng lẽ để họ làm loạn trong đạo hay sao? Cho nên đối với kẻ mê phải có cửa.
Các ngài giữ khóa chốt kỹ càng, tra hỏi nghiêm ngặt, khiến những kẻ loạn ngôn tà ý muốn vượt qua bị cửa ngăn cản không thể thực hiện được mưu gian, và từ lâu rồi cửa ải này không dễ gì vượt qua.
Những kẻ loạn ngôn tu chưa ra gì lại dám tự xưng hiền thánh. Tà ý tức là đến với đạo vì mong cầu danh lợi v.v… Những người đó đến cửa thiền đều bị ngăn cản không cho thực hiện mưu gian. Nếu không như thế họ sẽ hủy nhục đạo pháp, chứ không phải đạo khó khăn. Ngài Châu Hoàng giải thích lý do thiền tại sao lại có quan, đó là kế gìn giữ đạo lâu dài.
Tôi khi mới xuất gia được gặp một pho sách để trong phòng tên Thiền Môn Phật Tổ Cương Mục. Trong ấy ghi chép những lời tường thuật của các vị tôn túc về sự tham học, tu chứng của mình. Nào lúc mới tham học khó khăn thấu hiểu, lúc thực hành công phu nhọc nhằn khổ sở, đến sau cùng bỗng nhiên thấu ngộ. Tôi đọc qua, lòng rất kính mộ, nguyện học theo gương các ngài. Bộ sách này các nơi khác không thấy có. Kế tôi đọc bộ Ngũ Đăng, chư ngữ lục, tạp truyện, không luận những vị xuất gia hay tại gia có thật tham, thật ngộ, tôi đều góp nhặt thêm vào phần trước pho sách.
Tôi chọn rút những chuyện cốt yếu, xếp theo loại, biên thành tập lấy tên là Thiền Quan Sách Tấn. Ở nơi nào thì tôi để nó trên bàn, đi đâu thì mang theo trong bị, mỗi lần đọc cảm thấy khích lệ tâm chí, tinh thần phấn phát, như có một sức mạnh vô hình thúc đẩy gắng tiến.
Có người nói quyển sách này rất cần thiết đối với người chưa vượt qua khỏi cửa, nếu với kẻ vượt khỏi cửa đã xa thì đâu còn cần dùng?
Tuy nhiên, ngoài cửa này còn lớp cửa khác.
Có người nói giá trị của quyển sách này, rất cần cho người vào đạo, đặc biệt những người chưa qua khỏi cửa, chưa ngộ. Nếu người đã ngộ, đã qua khỏi cửa thì đâu cần dùng đến cửa phương tiện. Tuy nhiên trong cửa tu chứng không phải chỉ có một mà nhiều lớp cửa. Chúng ta thường tưởng vào cửa là xong việc, nhưng không phải, còn tới ba bốn cửa. Qua lớp rào này còn lớp rào khác, như nói được vô tâm tưởng là đạo nhưng không ngờ vô tâm còn cách một lớp rào.
Chẳng qua giả mượn tiếng gà, tạm rời miệng cọp.
Như người muốn qua cửa ải mà trời chưa sáng, nên giả tiếng gà gáy để quan giữ cửa tưởng trời gần sáng ra lệnh mở cửa ải. Đây gọi là giả mượn tiếng gà để qua miệng cọp. Ý nói người tu vượt được lớp cửa đầu, cũng chỉ mới tạm khỏi một chút nguy hiểm, chưa phải là xong.
Được ít cho là đủ là người tăng thượng mạn. Sông chưa cùng, núi chưa tột vẫn phải gắng tiến.
Trên đường tu, chưa đến chỗ cùng tột vẫn gắng tiến, dù được gì cũng phải tiến. Đừng nói tôi đã đắc cái này, cái kia rồi dừng lại, như vậy không phải. Sông chưa cùng, núi chưa tột thì cứ tiến, tiến hoài, tiến chừng nào sông cùng núi tột mới dừng.
Chạy mau, đi mãi bao giờ vượt khỏi cái cửa đen tối sau cùng, chừng ấy sẽ chậm rãi nghỉ ngơi chưa muộn.
Niên hiệu Vạn Lịch năm thứ 28, đầu mùa xuân
Chùa Vân Thể
Sa-môn Châu Hoằng
Kính ghi
Cửa đen tối sau cùng là gì? Là cửa sanh tử. Qua khỏi cửa sanh tử, nghĩa là hoàn toàn giải thoát chừng đó mới chậm rãi nghỉ ngơi. Chưa giải thoát rốt ráo lại cho là xong thì chưa đúng.
Ngài viết lời tựa quyển sách này nhằm đầu mùa xuân niên hiệu Vạn Lịch năm thứ 28.