Chánh văn:
Hành giả chuyên tâm tu hành, hoặc tứ đại có bệnh là vì dùng quán tâm, quán hơi thở kích động bệnh cũ phát khởi. Hoặc không khéo điều hòa ba việc: thân, tâm và hơi thở, trong ngoài có chỗ sai suyển cho nên có bệnh hoạn. Phàm phương pháp tọa thiền nếu khéo dụng tâm thì bốn trăm lẻ bốn bệnh tự nhiên lành, nếu dụng tâm sai suyển thì bốn trăm lẻ bốn bệnh nhân đó phát sanh. Thế nên, nếu tự tu hay dạy người tu, phải khéo biết gốc bệnh, phải khéo biết phương pháp dùng nội tâm trị bệnh trong lúc tọa thiền. Một phen phát bệnh chẳng những chướng ngại sự tu hành, còn lo mất mạng là khác.
Nay nói về pháp trị bệnh có hai ý:
1/ Tướng bệnh phát khởi.
2/ Phương pháp trị bệnh.
I- Tướng bệnh phát khởi
Bệnh phát tuy có nhiều cách, lược nói không ngoài hai thứ:
Nếu địa đại tăng thì mắc bệnh thũng kiết trầm trọng, thân thể khô gầy, như thế một trăm lẻ một bệnh sanh. Nếu thủy đại tăng thì đàn ấm dẫy đầy, ăn uống không tiêu, đau bụng, hạ hơi v.v… một trăm lẻ một bệnh sanh. Nếu hỏa đại tăng thì chợt lạnh, chợt nóng toàn thân đau nhức, hôi miệng, đại tiểu không thông v.v… một trăm lẻ một bệnh sanh. Nếu phong đại tăng thì thân thể lơ lửng như treo trên không, lăn lộn đau nhức, phổi sưng thở gấp, ụa mửa, mệt lả v.v… như thế một trăm lẻ một bệnh sanh. Cho nên trong Kinh chép: “Một đại không điều hòa thì một trăm lẻ một bệnh sanh, tứ đại không điều hòa thì bốn trăm lẻ bốn bệnh đồng khởi.” Tứ đại phát bệnh mỗi thứ có tướng mạo của nó, chính trong khi ngồi thiền và trong khi mộng phải khảo sát cho rõ.
Từ tim sanh bệnh thì thân thể nóng, lạnh, đầu nhức, miệng khô v.v… vì tim là chủ về miệng. Từ phổi sanh bệnh thì thân thể mập phù, tứ chi mỏi mệt, mũi nghẹt v.v… vì phổi chủ về mũi. Từ gan sanh bệnh trong lòng thường không vui, buồn rầu, thương lo, giận hờn, đầu nhức, mắt mờ v.v… vì gan chủ về con mắt. Từ lá lách sanh bệnh thì thân thể và trên mặt nổi phong khắp cả, ngứa ngáy đau nhức, ăn uống không ngon v.v… vì lá lách chủ về lưỡi. Từ trái thận sanh bệnh thì ở cổ sanh nấc cục, bụng no, lỗ tai bùng v.v… vì trái thận chủ về lỗ tai. Năm tạng sanh bệnh rất nhiều, mỗi cái có tướng của nó, phải xem xét trong khi ngồi thiền và trong mộng thì biết được.
Như thế nguyên nhân sanh bệnh của tứ đại ngũ tạng không phải một, tướng bệnh rất nhiều không thể nói hết. Hành giả nếu muốn tu pháp môn Chỉ Quán để thoát ly sanh tử, phải khéo biết nguyên nhân sanh bệnh. Hai thứ bệnh này nguyên nhân chung là do trong và ngoài phát động. Nếu bên ngoài bị trúng gió lạnh phát sốt, hoặc ăn uống không tiêu mà bệnh, từ hai chỗ này phát ra nên biết bệnh do bên ngoài phát khởi. Hoặc do dụng tâm không điều hòa, quán hạnh sai lạc, hoặc do khi pháp định phát sanh không biết giữ gìn đến khiến tứ đại ngũ tạng sanh bệnh, ấy là tướng bệnh do bên trong phát khởi.
Lại nữa, có ba thứ nhân duyên khiến người mắc bệnh:
– Tứ đại, ngũ tạng tăng giảm khiến người mắc bệnh như đã nói ở trên.
– Quỷ thần gây nên khiến người mắc bệnh.
– Nghiệp báo khiến người mắc bệnh.
Những bệnh như thế, mới mắc phải sớm trị rất dễ được lành, nếu để qua thời gian lâu bệnh thành thục, thân gây bệnh nặng, chữa trị rất khó lành.
II- Phương pháp trị bệnh
Đã rõ nguyên nhân phát bệnh, cần tạo phương pháp trị bệnh. Phương pháp trị bệnh có nhiều cách, tóm lược không ngoài hai phương tiện Chỉ và Quán.
Có thầy nói: “Phải an tâm ngưng tại chỗ bệnh, tức là bệnh lành. Tại sao? Vì tâm là chủ của thân quả báo trong một thời kỳ, ví như vua đến chỗ nào thì bọn trộm cướp đều tan sạch.” Lại có thầy bảo: “Dưới rốn một tấc gọi là đan điền, nếu ngưng tâm tại chỗ này không tán loạn, trải qua thời gian lâu đa số bệnh đều dứt.” Có thầy bảo: “Thường ngưng tâm dưới chân, bất luận đi, đứng, nằm hay nghỉ liền trị được bệnh. Vì cớ sao? Vì người do tứ đại không điều hòa cho nên sanh các bệnh, đó là do tâm thức duyên lên trên khiến tứ đại không điều hòa. Nếu an tâm ở dưới thì tứ đại tự nhiên điều hòa, các bệnh đều lành.”
Có thầy bảo: “Chỉ cần biết các pháp Không, không thật có, không chấp giữ tướng bệnh, lặng lẽ dừng trụ, phần nhiều trị được bệnh. Tại sao? Do tâm nhớ tưởng kích động tứ đại nên có bệnh sanh. Dứt tâm, vui hòa, các bệnh liền trừ. Nên kinh Tịnh Danh nói: Cái gì làm gốc bệnh? Chính là phan duyên. Làm sao đoạn dứt phan duyên? Chính là tâm không chỗ được.” Như thế nói các thứ tướng dùng Chỉ để trị bệnh chẳng phải một, nên biết khéo tu pháp Chỉ có thể trị các bệnh.
Có thầy nói: Dùng Quán tâm tưởng sáu thứ hơi thở trị bệnh, tức là dùng Quán trị bệnh. Thế nào là sáu thứ hơi thở? Nghĩa là: xuy, hô, hy, ha, hư, hứ. Sáu thứ hơi thở này đều do trong lưỡi, miệng và tâm tưởng phương tiện chuyển động mà thành, phải dùng đều đều nhẹ nhẹ. Bài tụng nói:
Tâm thuộc về Ha, thận thuộc Xuy,
Tỳ Hô, phổi Hứ, thánh đều biết,
Gan và tạng nhiệt do chữ Hư,
Tam tiêu ngăn trệ chỉ nói Hy.
Có thầy nói: Nếu khéo dùng Quán tưởng vận chuyển mười hai thứ hơi thở thì trị được nhiều bệnh. Mười hai thứ hơi thở:
1/ Hơi thở lên.
2/ Hơi thở xuống.
3/ Hơi thở đầy.
4/ Hơi thở tiêu.
5/ Hơi thở tăng trưởng.
6/ Hơi thở diệt hoại.
7/ Hơi thở ấm.
8/ Hơi thở lạnh.
9/ Hơi thở xông lên.
10/ Hơi thở gìn giữ.
11/ Hơi thở điều hòa.
12/ Hơi thở bồi bổ.
Mười hai thứ hơi thở này đều do tâm quán tưởng mà có. Nay lược tướng đối trị của mười hai thứ hơi thở. Hơi thở lên trị bệnh trầm trọng. Hơi thở xuống trị bệnh lơ lửng. Hơi thở đầy trị bệnh khô gầy. Hơi thở tiêu trị bệnh thũng phù. Hơi thở tăng trưởng trị bệnh ốm yếu. Hơi thở diệt hoại trị bệnh tăng thạnh. Hơi thở ấm trị bệnh lạnh. Hơi thở lạnh trị bệnh nóng. Hơi thở xông lên trị bệnh ngăn nghẹn không thông. Hơi thở gìn giữ trị bệnh lăn lộn. Hơi thở điều hòa chung trị bệnh tứ đại bất hòa. Hơi thở bồi bổ bồi dưỡng tứ đại suy kém. Khéo dùng các thứ hơi thở này, có thể trị lành các bệnh, suy ra có thể biết.
Có thầy nói: Khéo dùng Giả tưởng quán hay trị hết các bệnh. Như người mắc bệnh lạnh, tưởng trong thân hơi lửa xông ra liền trị được bệnh lạnh. Cách trị bệnh này trong kinh Tạp A-hàm về bảy mươi hai thứ bí pháp trị bệnh có nói rộng.
Có thầy bảo: Dùng Chỉ Quán kiểm xét tứ đại trong thân không có bệnh, tâm cũng không có chỗ sanh bệnh thì các bệnh tự lành.
Như thế, bao nhiêu thuyết nói dùng Quán trị bệnh chỗ ứng dụng không đồng, nếu khéo hiểu được ý đều trị lành bệnh.
Hai pháp Chỉ Quán nếu người khéo hiểu được ý thì không bệnh nào mà trị chẳng lành. Nhưng người thời nay căn cơ tối cạn, đa số tập quán tưởng không thành công nên pháp này ít được lưu truyền. Lại có người tu không được pháp này, bèn xoay qua học khí thuật, nhịn cơm, e sau này sanh kiến chấp tà dị. Những thứ thuốc bằng cây cỏ, vàng đá… thích hợp với bệnh thì nên dùng.
Nếu là bệnh do quỷ phá thì phải lập tâm cho vững, thêm tụng chú để giúp sự trị bệnh. Nếu là bệnh nghiệp báo cần phải tu phước và sám hối, bệnh ắt tiêu diệt. Hai pháp Chỉ Quán trị bệnh, nếu người khéo hiểu một pháp cũng đủ tự tu và dạy người, huống là thông đạt cả hai. Nếu cả hai pháp đều không biết thì bệnh sanh không thể trị, chẳng những bỏ bê sự tu hành, còn e tánh mạng khó bảo toàn làm sao tự tu và dạy người? Thế nên, người muốn tu Chỉ Quán phải hiểu phương pháp nội tâm trị bệnh. Pháp này không phải một, hiểu ý tại người, chứ không thể truyền bằng văn tự.
Lại nữa, trong khi ngồi thiền dụng tâm trị bệnh cần phải gồm đủ mười pháp sẽ được lợi ích. Mười pháp:
1/ Tin.
2/ Dùng.
3/ Siêng.
4/ Thường trụ trong duyên.
5/ Phân biệt nguyên nhân bệnh khởi.
6/ Phương tiện.
7/ Thực hành lâu.
8/ Biết thủ xả.
9/ Giữ gìn.
10/ Biết ngăn cản.
Thế nào là tin? Nghĩa là tin pháp này hay trị được bệnh.
Sao là dùng? Nghĩa là tùy thời hằng dùng.
Sao là siêng? Chuyên cần không nghỉ, đến khi lành bệnh mới thôi.
Sao là trụ trong duyên? Tâm vi tế luôn luôn y nơi pháp, không duyên cái gì khác.
Sao là phân biệt nguyên nhân bệnh khởi? Như đoạn trước đã nói.
Sao là phương tiện? Là thở ra, hít vào tâm tưởng vận chuyển khéo léo thành tựu không cho trái phép.
Sao là thực hành lâu? Nếu áp dụng chưa có lợi ích chẳng kể ngày tháng thường tập không phế bỏ.
Sao là biết thủ xả? Biết cái có ích liền chuyên cần, cái có hại liền xả đi, chín chắn chuyển tâm điều trị.
Sao là gìn giữ? Khéo biết các duyên xúc phạm mà giữ gìn.
Sao là ngăn cản? Được điều ích lợi không đến người khác nói, chưa tổn hại không sanh nghi chê.
Nếu y mười pháp này trị bệnh quyết định có hiệu nghiệm không dối vậy.
Giảng:
Hành giả chuyên tâm tu hành, hoặc tứ đại có bệnh là vì dùng quán tâm, quán hơi thở kích động bệnh cũ phát khởi. Hoặc không khéo điều hòa ba việc: thân, tâm và hơi thở, trong ngoài có chỗ sai suyển cho nên có bệnh hoạn. Phàm phương pháp tọa thiền nếu khéo dụng tâm thì bốn trăm lẻ bốn bệnh tự nhiên lành, nếu dụng tâm sai suyển thì bốn trăm lẻ bốn bệnh nhân đó phát sanh.
Tu thiền đúng thì bệnh hết, tu sai bệnh thêm. Người chuyên tâm tu hành tứ đại có bệnh là do quán tâm, quán hơi thở kích động nên bệnh cũ phát khởi. Ví dụ người có bệnh ho hen, lúc ngồi thiền không khéo điều hòa hơi thở, để kéo khò khè hoài thì bệnh sẽ tăng. Nếu khéo định tâm điều hòa hơi thở, có khi mũi dường như không thở mà hơi thở đi khắp các lỗ chân lông, ra vào nhẹ nhàng như có như không. Định tâm và điều hòa như vậy, bệnh hen suyễn và những bệnh nhẹ khác sẽ hết. Đó là từ tu mà hết bệnh, còn không khéo thì lại sanh bệnh. Nếu khéo dụng tâm thì trị được bốn trăm lẻ bốn bệnh của tứ đại. Mỗi đại có một trăm lẻ một bệnh, cộng chung bốn đại thành bốn trăm lẻ bốn bệnh.
Tại sao tôi phải giảng quyển này kỹ, vì nhiều người hay nói tu thiền điên rồi sợ tu thiền, nếu nghe hiểu nắm vững đường lối tu, chẳng những không bị bệnh mà còn lành bệnh, đó là chỗ quan trong. Cho nên người khéo tu sẽ trị được những bệnh ở bên trong phát ra, nếu ham tu thiền mà không hiểu rồi đổ thừa là tại tu thiền sanh bệnh thì không đúng.
Thế nên, nếu tự tu hay dạy người tu, phải khéo biết gốc bệnh, phải khéo biết phương pháp dùng nội tâm trị bệnh trong lúc tọa thiền. Một phen phát bệnh chẳng những chướng ngại sự tu hành, còn lo mất mạng là khác.
Nay nói về pháp trị bệnh có hai ý:
1/ Tướng bệnh phát khởi.
2/ Phương pháp trị bệnh.
Tại sao chúng ta ngồi thiền phải có bồ đoàn tọa cụ, phải có người đi xem ngồi đúng hay sai để sửa? Đó là vì sợ sai rồi sanh bệnh. Nếu khi tu thấy điều gì lạ thì thưa hỏi quý thầy hướng dẫn cho rõ để tránh bệnh. Tránh bệnh được thì có lợi lớn, nếu để sanh bệnh dễ thối tâm, làm sao tu được. Cho nên người khéo tu thì sẽ ít bệnh.
Bản thân tôi cũng là một người bệnh. Vào năm 1960, tôi đang dạy học ở chùa Phước Hòa – Trà Vinh, thầy Huyền Vi làm Đốc giáo ở Ấn Quang, Thầy sắp đi Ấn Độ nên cùng với Hòa thượng Giám đốc xuống gọi tôi trở về. Như vậy là tôi một mình làm hai việc, vừa dạy phần của tôi lại gánh thêm phần của thầy Huyền Vi, lại còn tụng kinh và đi giảng chỗ này chỗ kia nữa. Do tôi làm việc quá sức nên bị bệnh phổi phải vào Bệnh viện Đồn Đất nằm ba tháng. Tôi nghĩ, mình đã bệnh phổi mà tụng kinh niệm Phật nhiều quá thì không đủ sức, nên thử dùng phương pháp tu thiền để trị bệnh xem sao. Ngang đó tôi dứt khoát tu thiền, nhưng vì không có thầy dạy nên phải tìm xem trong kinh sách. Tôi xem Lục Diệu Pháp Môn của ngài Trí Khải thật kỹ rồi ứng dụng tu. Khi ra viện bác sĩ dặn mỗi tháng trở lại lãnh thuốc, uống trong vòng ba tháng. Tôi thầm nghĩ, nhất định không trở vào nhà thương nữa. Quyết định rồi tôi vào thất ngồi thiền tu tập, mãn ba tháng thấy bệnh tình nhẹ dần rồi lần lần hết hẳn. Sau một năm mở trường Huệ Nghiêm, tôi dạy học luôn mấy năm mà không sao hết. Từ đó tôi tu thiền cho đến khi lên núi.
Lúc ấy tôi dám tự hào, mỗi khi chớm cảm ngồi thiền một hai giờ mồ hôi xuất ra, xả thiền lấy khăn lau khô là hết cảm. Khi trước cứ mỗi lần cảm là mỗi lần ho, giờ hết cảm thì hết ho, bệnh phổi cũng theo đó mà hết. Như vậy mới thấy bệnh cũng tùy thuộc vào sự tu của mình, nếu vận dụng hơi nhiều thì phổi phải yếu, nên yên lặng lại bớt, tránh không bị cảm, bệnh sẽ giảm. Diệu dụng của tu thiền ở chỗ đó.
Nhờ tu thiền nên những năm kế tôi không bệnh, nhưng sau này tôi lại bị bệnh tim. Lúc trước ở Chơn Không quen rồi, đến lúc dời xuống núi ở đất bằng khó chịu, nên tôi lên Đà Lạt xin đất cất thiền viện. Từ năm 1987 đến 1991 cứ chạy tới chạy lui hoài, hết gạo mà vẫn chưa xong, do lo buồn nên sanh bệnh tim. Năm 1993 được giấy phép cho xây thiền viện. Xây dựng xong, bác sĩ Kim ở Cali chuyên về tim mạch rất giỏi, gửi thư mời qua trị bệnh, tôi đồng ý. Qua Pháp, Canada, rồi sang Mỹ đến Cali gặp bác sĩ Kim. Sau khi kiểm tra, bác sĩ kết luận Thầy không có bệnh. Tôi ngạc nhiên, lâu nay bệnh tim uống thuốc mấy năm, sao qua đây hết bệnh? Khi ấy có các bác sĩ là Phật tử đề nghị, tôi đã đi hết nửa vòng trái đất rồi chẳng lẽ về không, sẵn dịp nên thông tim mạch. Tôi nói, các bác sĩ có lòng tốt, nhưng tôi chưa bệnh thông tim làm gì? Sau đó tôi trở về và hết bệnh luôn.
Như vậy cho thấy bệnh tim là do lo buồn, khi hết lo buồn thì bệnh tim cũng hết. Phần tâm của chúng ta rất quan trọng, nếu buồn phiền lo lắng nhiều thì dù khỏe mạnh cũng bệnh đau. Cho nên vui vẻ là thuật để sống khỏe, còn buồn rầu là tự chôn mình gấp. Chúng ta tu đừng để buồn giận trong lòng, mọi sự vui buồn đều bỏ qua, cố gắng tu thì mọi việc sẽ tốt, bệnh hoạn cũng theo đó hết. Đừng sợ bệnh, càng sợ thì bệnh càng nặng. Phần này tôi nói dài dòng một chút là muốn cho tất cả nhớ mà lo tu tập.
I- Tướng bệnh phát khởi
Bệnh phát tuy có nhiều cách, lược nói không ngoài hai thứ:
Nếu địa đại tăng thì mắc bệnh thũng kiết trầm trọng, thân thể khô gầy, như thế một trăm lẻ một bệnh sanh. Nếu thủy đại tăng thì đàn ấm dẫy đầy, ăn uống không tiêu, đau bụng, hạ hơi v.v… một trăm lẻ một bệnh sanh. Nếu hỏa đại tăng thì chợt lạnh, chợt nóng toàn thân đau nhức, hôi miệng, đại tiểu không thông v.v… một trăm lẻ một bệnh sanh. Nếu phong đại tăng thì thân thể lơ lửng như treo trên không, lăn lộn đau nhức, phổi sưng thở gấp, ụa mửa, mệt lả v.v… như thế một trăm lẻ một bệnh sanh. Cho nên trong Kinh chép: “Một đại không điều hòa thì một trăm lẻ một bệnh sanh, tứ đại không điều hòa thì bốn trăm lẻ bốn bệnh đồng khởi.” Tứ đại phát bệnh mỗi thứ có tướng mạo của nó, chính trong khi ngồi thiền và trong khi mộng phải khảo sát cho rõ.
Địa đại tăng thì sanh ra bệnh bướu cổ trầm trọng, thân thể khô gầy… Thủy đại tăng thì đàm ngăn trong cổ nhiều, khò khè ăn uống không tiêu, đau bụng hạ hơi… Hỏa đại tăng thì khi nóng khi lạnh, toàn thân đau nhức, miệng hôi, đại tiểu không thông… Phong đại tăng thì thân thể lơ lửng, đau nhức, ụa mửa v.v… Như vậy cứ mỗi đại phát sanh một trăm lẻ một bệnh, nếu tứ đại không điều hòa được thì bốn trăm lẻ bốn bệnh đồng thời phát khởi.
Bệnh là do tứ đại không khéo điều hòa mà sanh ra, nên trong khi ngồi thiền hoặc nằm mộng, thấy những hiện tượng phải khéo khảo sát xem thuộc về bệnh gì để biết điều trị. Đó là điều quan trọng.
Từ tim sanh bệnh thì thân thể nóng, lạnh, đầu nhức, miệng khô v.v… vì tim là chủ về miệng. Từ phổi sanh bệnh thì thân thể mập phù, tứ chi mỏi mệt, mũi nghẹt v.v… vì phổi chủ về mũi. Từ gan sanh bệnh trong lòng thường không vui, buồn rầu, thương lo, giận hờn, đầu nhức, mắt mờ v.v… vì gan chủ về con mắt. Từ lá lách sanh bệnh thì thân thể và trên mặt nổi phong khắp cả, ngứa ngáy đau nhức, ăn uống không ngon v.v… vì lá lách chủ về lưỡi. Từ trái thận sanh bệnh thì ở cổ sanh nấc cục, bụng no, lỗ tai bùng v.v… vì trái thận chủ về lỗ tai. Năm tạng sanh bệnh rất nhiều, mỗi cái có tướng của nó, phải xem xét trong khi ngồi thiền và trong mộng thì biết được.
Đây có hai trường hợp biết bệnh. Một là ngồi thiền, hai là mộng. Trong mộng thấy bay bổng lên là phong đại thịnh, thấy lửa thiêu đốt là hỏa đại thịnh… thấy lội sông hoặc thấy chết chìm là thủy đại thịnh. Như vậy chính trong khi mộng mà đoán được bệnh của mình, cái nào thịnh cái nào suy chúng ta có thể biết.
Như thế nguyên nhân sanh bệnh của tứ đại ngũ tạng không phải một, tướng bệnh rất nhiều không thể nói hết. Hành giả nếu muốn tu pháp môn Chỉ Quán để thoát ly sanh tử, phải khéo biết nguyên nhân sanh bệnh. Hai thứ bệnh này nguyên nhân chung là do trong và ngoài phát động. Nếu bên ngoài bị trúng gió lạnh phát sốt, hoặc ăn uống không tiêu mà bệnh, từ hai chỗ này phát ra nên biết bệnh do bên ngoài phát khởi. Hoặc do dụng tâm không điều hòa, quán hạnh sai lạc, hoặc do khi pháp định phát sanh không biết giữ gìn đến khiến tứ đại ngũ tạng sanh bệnh, ấy là tướng bệnh do bên trong phát khởi.
Khi tu có những hiện tượng phát ra, như ngồi thiền được tâm an tịnh nhẹ nhàng sanh ra mừng sợ thành bệnh, hoặc do khi tu đi đứng ngồi nằm không đúng cách nên sanh ra bệnh. Đó là không khéo giữ gìn, vậy nên phải khéo giữ cho đúng để không sanh bệnh.
Lại nữa, có ba thứ nhân duyên khiến người mắc bệnh:
– Tứ đại, ngũ tạng tăng giảm khiến người mắc bệnh như đã nói ở trên.
– Quỷ thần gây nên khiến người mắc bệnh.
– Nghiệp báo khiến người mắc bệnh.
Những bệnh như thế, mới mắc phải sớm trị rất dễ được lành, nếu để qua thời gian lâu bệnh thành thục, thân gây bệnh nặng, chữa trị rất khó lành.
Có ba trường hợp sanh bệnh. Thứ nhất là không khéo điều hòa tứ đại và gìn giữ ngũ tạng. Hai là quỷ thần phá phách. Ba là do nghiệp báo, đời trước đã tạo những nghiệp nặng, nên bây giờ tuy được làm người mà bị chướng, bệnh hoài không lúc nào khỏe. Trong ba trường hợp này, nếu là tứ đại thì phải khéo điều hòa, bị quỷ thần phá thì phải biết đối trị như đoạn trước đã nói, do nghiệp báo thì ráng tu tập sám hối làm những điều thiện để bệnh chóng lành.
II- Phương pháp trị bệnh
Đã rõ nguyên nhân phát bệnh, cần tạo phương pháp trị bệnh. Phương pháp trị bệnh có nhiều cách, tóm lược không ngoài hai phương tiện Chỉ và Quán.
Có thầy nói: “Phải an tâm ngưng tại chỗ bệnh, tức là bệnh lành. Tại sao? Vì tâm là chủ của thân quả báo trong một thời kỳ, ví như vua đến chỗ nào thì bọn trộm cướp đều tan sạch.”
Nếu bệnh ở bụng thì trụ tâm ở bụng bệnh sẽ được lành. Có người thuật lại cho tôi nghe, đầu gối của họ mới nổi khối u, biết rồi khi ngồi thiền trụ tâm tại khối u đó, một thời gian sau khối u tự tan. Đây nói, tâm là vua mà bệnh là kẻ trộm, vua tới đâu thì trộm cướp tan sạch tới đó. Cho nên bệnh ở chỗ nào thì trụ tâm ở đó bệnh sẽ tan.
Lại có thầy bảo: “Dưới rốn một tấc gọi là đan điền, nếu ngưng tâm tại chỗ này không tán loạn, trải qua thời gian lâu đa số bệnh đều dứt.”
Một tấc ta xưa, bây giờ là ba phân. Trụ tâm ở đan điền, còn gọi là huyệt khí hải, tức chỗ của hơi hội tụ. Trụ tâm thì chỗ đó sẽ nóng lên khiến các bệnh được lành.
Có thầy bảo: “Thường ngưng tâm dưới chân, bất luận đi, đứng, nằm hay nghỉ liền trị được bệnh. Vì cớ sao? Vì người do tứ đại không điều hòa cho nên sanh các bệnh, đó là do tâm thức duyên lên trên khiến tứ đại không điều hòa. Nếu an tâm ở dưới thì tứ đại tự nhiên điều hòa, các bệnh đều lành.” Có thầy bảo: “Chỉ cần biết các pháp Không, không thật có, không chấp giữ tướng bệnh, lặng lẽ dừng trụ, phần nhiều trị được bệnh. Tại sao? Do tâm nhớ tưởng kích động tứ đại nên có bệnh sanh. Dứt tâm, vui hòa, các bệnh liền trừ. Nên kinh Tịnh Danh nói: Cái gì làm gốc bệnh? Chính là phan duyên. Làm sao đoạn dứt phan duyên? Chính là tâm không chỗ được.” Như thế nói các thứ tướng dùng Chỉ để trị bệnh chẳng phải một, nên biết khéo tu pháp Chỉ có thể trị các bệnh.
Đây là trụ tâm ở dưới lòng bàn chân, vì tâm thức suy nghĩ lo tính duyên lên, hơi nóng cũng dồn lên trên, cho nên khi nào suy nghĩ nhiều thì nghe đau đầu. Do hơi nóng lên trên nên ở dưới chân lạnh sanh bệnh, nếu muốn trị bệnh này, khi đi đứng nằm ngồi đều nhớ trụ tâm ở lòng bàn chân, hơi ấm trở xuống thì bệnh tự hết.
Những cách trên là trụ tâm vào một chỗ nên gọi là Chỉ.
Có thầy nói: Dùng Quán tâm tưởng sáu thứ hơi thở trị bệnh, tức là dùng Quán trị bệnh. Thế nào là sáu thứ hơi thở? Nghĩa là: xuy, hô, hy, ha, hư, hứ. Sáu thứ hơi thở này đều do trong lưỡi, miệng và tâm tưởng phương tiện chuyển động mà thành, phải dùng đều đều nhẹ nhẹ. Bài tụng nói:
Tâm thuộc về Ha, thận thuộc Xuy,
Tỳ Hô, phổi Hứ, thánh đều biết,
Gan và tạng nhiệt do chữ Hư,
Tam tiêu ngăn trệ chỉ nói Hy.
Thở ra tưởng theo cách dạy trên thì bệnh theo do hết. Những phương pháp này tôi chỉ nói sơ qua thôi, vì tôi chỉ đọc theo trong sách nói chứ chưa làm bao giờ.
Có thầy nói: Nếu khéo dùng Quán tưởng vận chuyển mười hai thứ hơi thở thì trị được nhiều bệnh. Mười hai thứ hơi thở:
1/ Hơi thở lên.
2/ Hơi thở xuống.
3/ Hơi thở đầy.
4/ Hơi thở tiêu.
5/ Hơi thở tăng trưởng.
6/ Hơi thở diệt hoại.
7/ Hơi thở ấm.
8/ Hơi thở lạnh.
9/ Hơi thở xông lên.
10/ Hơi thở gìn giữ.
11/ Hơi thở điều hòa.
12/ Hơi thở bồi bổ.
Mười hai thứ hơi thở này đều do tâm quán tưởng mà có. Nay lược tướng đối trị của mười hai thứ hơi thở. Hơi thở lên trị bệnh trầm trọng. Hơi thở xuống trị bệnh lơ lửng. Hơi thở đầy trị bệnh khô gầy. Hơi thở tiêu trị bệnh thũng phù. Hơi thở tăng trưởng trị bệnh ốm yếu. Hơi thở diệt hoại trị bệnh tăng thạnh. Hơi thở ấm trị bệnh lạnh. Hơi thở lạnh trị bệnh nóng. Hơi thở xông lên trị bệnh ngăn nghẹn không thông. Hơi thở gìn giữ trị bệnh lăn lộn. Hơi thở điều hòa chung trị bệnh tứ đại bất hòa. Hơi thở bồi bổ bồi dưỡng tứ đại suy kém. Khéo dùng các thứ hơi thở này, có thể trị lành các bệnh, suy ra có thể biết.
Nếu người ốm quá thì dùng hơi thở hít vô đẩy cho nở phình ra, nếu nóng quá thì hít thở tưởng mát vào cho hơi nóng tan đi… Trong các phương pháp dùng hơi thở này, tôi chỉ dùng một thứ là hơi thở điều hòa. Ngồi thiền điều hòa hơi thở dài nhẹ, lâu dần quen rồi hơi thở như có như không, đó là cái tốt nhất có thể trị tất cả bệnh.
Có thầy nói: Khéo dùng Giả tưởng quán hay trị hết các bệnh. Như người mắc bệnh lạnh, tưởng trong thân hơi lửa xông ra liền trị được bệnh lạnh. Cách trị bệnh này trong kinh Tạp A-hàm về bảy mươi hai thứ bí pháp trị bệnh có nói rộng.
Ở Hy-mā-lạp-sơn tuyết phủ rất lạnh mà nhiều vị tu ở trần ngồi trong tuyết, họ ngồi quán tưởng hơi nóng gọi là nhập Hỏa quang tam-muội, bởi hơi nóng bên trong xông ra nên tuyết bên ngoài không xâm nhập được. Sức tưởng của con người rất mạnh, chúng ta tưởng cái gì thì hiện cái ấy. Tưởng trong người nóng thì phát ra nóng, tưởng lạnh thì phát ra lạnh. Vì vậy quán tưởng có sức mạnh rất lớn, khéo trị được những bệnh trong khi tu tập.
Có thầy bảo: Dùng Chỉ Quán kiểm xét tứ đại trong thân không có bệnh, tâm cũng không có chỗ sanh bệnh thì các bệnh tự lành.
Như thế, bao nhiêu thuyết nói dùng Quán trị bệnh chỗ ứng dụng không đồng, nếu khéo hiểu được ý đều trị lành bệnh.
Nếu chúng ta có bệnh mà muốn trị thì phải khéo quán xét, trong thân không bệnh, tâm cũng không có chỗ sanh bệnh, vậy bệnh từ đâu ra? Khéo quán như vậy thì bệnh sẽ tự lành.
Hai pháp Chỉ Quán nếu người khéo hiểu được ý thì không bệnh nào mà trị chẳng lành. Nhưng người thời nay căn cơ tối cạn, đa số tập quán tưởng không thành công nên pháp này ít được lưu truyền. Lại có người tu không được pháp này, bèn xoay qua học khí thuật, nhịn cơm, e sau này sanh kiến chấp tà dị. Những thứ thuốc bằng cây cỏ, vàng đá… thích hợp với bệnh thì nên dùng.
Chỗ này nhắc cho chúng ta đừng lầm để khỏi lạc vào tà đạo. Có những người không biết cách quán trị bệnh, sanh ra kiến chấp tà dị bằng cách học khí công, nhịn ăn v.v… để trị bệnh, đó là tà. Nếu không dùng Chỉ Quán để trị bệnh được thì nên dùng các thứ thuốc cây cỏ, vàng đá hoặc thuốc tây, thuốc tàu, thuốc ta v.v… mà trị. Nhịn đói hoặc tập khí công để trị bệnh đâu có hại gì, nhưng tại sao đây nói là tà? Bởi vì những thuật như nhịn đói, luyện khí công… có thể trị bệnh, nhưng lại sanh ra tà chấp. Nếu chúng ta tu mà đặt nặng vào việc trị bệnh, thì khi bệnh lành sẽ thấy phương pháp đó là hay. Do thấy hay nên theo luôn và dạy lại cho người khác, rốt cuộc công phu tu hành chỉ để giữ gìn thân, mà thân rồi cũng hoại không thể giữ được, nên vô tình lạc vào tà đạo lúc nào không hay. Như vậy tự mình đi lệch đường giải thoát, lại còn dẫn người khác đi lệch nữa. Cho nên nếu đau quá thì đi bác sĩ điều trị hoặc hốt thuốc uống cho khỏe, đừng học những tà thuật đó.
Nếu là bệnh do quỷ phá thì phải lập tâm cho vững, thêm tụng chú để giúp sự trị bệnh. Nếu là bệnh nghiệp báo cần phải tu phước và sám hối, bệnh ắt tiêu diệt.
Nếu là bệnh ma quỷ phá thì lập tâm cho vững, tức là định tâm; hoặc tụng thêm thần chú để giúp trị bệnh, theo tôi định tâm là cách hay nhất. Nếu là nghiệp báo, thân cứ bệnh hoạn hoài thì có hai cách, một là sám hối, hai làm các việc thiện để bệnh được tiêu trừ. Tùy trường hợp mà biết cách điều trị cho phù hợp.
Hai pháp Chỉ Quán trị bệnh, nếu người khéo hiểu một pháp cũng đủ tự tu và dạy người, huống là thông đạt cả hai. Nếu cả hai pháp đều không biết thì bệnh sanh không thể trị, chẳng những bỏ bê sự tu hành, còn e tánh mạng khó bảo toàn làm sao tự tu và dạy người? Thế nên, người muốn tu Chỉ Quán phải hiểu phương pháp nội tâm trị bệnh. Pháp này không phải một, hiểu ý tại người, chứ không thể truyền bằng văn tự.
Pháp này do người tự hiểu ý, ví dụ chúng ta đau ở chỗ nào thì trụ tâm chỗ đó. Nghĩa là tự mình biết cách biết ý, khéo áp dụng sẽ có hiệu nghiệm. Chỗ này không thể nói hết ra được.
Lại nữa, trong khi ngồi thiền dụng tâm trị bệnh cần phải gồm đủ mười pháp sẽ được lợi ích. Mười pháp:
1/ Tin.
2/ Dùng.
3/ Siêng.
4/ Thường trụ trong duyên.
5/ Phân biệt nguyên nhân bệnh khởi.
6/ Phương tiện.
7/ Thực hành lâu.
8/ Biết thủ xả.
9/ Giữ gìn.
10/ Biết ngăn cản.
Thế nào là tin? Nghĩa là tin pháp này hay trị được bệnh.
Sao là dùng? Nghĩa là tùy thời hằng dùng.
Sao là siêng? Chuyên cần không nghỉ, đến khi lành bệnh mới thôi.
Sao là trụ trong duyên? Tâm vi tế luôn luôn y nơi pháp, không duyên cái gì khác.
Đó là mười cách dùng để trị bệnh cho có hiệu quả.
Tin pháp này hay trị được bệnh. Trước tiên là tin, muốn trị bệnh thì phải tin khẳng định rằng pháp này hay trị được bệnh mới được.
Tùy thời hằng dùng, dùng luôn luôn chứ không phải dùng một hai lần rồi thôi.
Trụ trong duyên là tâm luôn trụ trong các pháp để trị bệnh, không dời đổi chỗ khác.
Sao là phân biệt nguyên nhân bệnh khởi? Như đoạn trước đã nói.
Sao là phương tiện? Là thở ra, hít vào tâm tưởng vận chuyển khéo léo thành tựu không cho trái phép.
Sao là thực hành lâu? Nếu áp dụng chưa có lợi ích chẳng kể ngày tháng thường tập không phế bỏ.
Sao là biết thủ xả? Biết cái có ích liền chuyên cần, cái có hại liền xả đi, chín chắn chuyển tâm điều trị.
Sao là gìn giữ? Khéo biết các duyên xúc phạm mà giữ gìn.
Sao là ngăn cản? Được điều ích lợi không đến người khác nói, chưa tổn hại không sanh nghi chê.
Nếu y mười pháp này trị bệnh quyết định có hiệu nghiệm không dối vậy.
Biết cái có ích liền chuyên cần, cái có hại liền xả đi . Khi dùng trị bệnh thấy hiệu nghiệm và có ích thì cố gắng dùng, còn thấy có phản ứng ngược lại thì bỏ đừng dùng nữa.
Được điều ích lợi không đến người khác nói, chưa tổn hại không sanh nghi chê. Nếu khi áp dụng thấy có ích lợi thì đừng nói vội, chờ đến khi thật lành bệnh chừng đó sẽ nói. Bởi vì mới bớt sơ sơ liền đi tán thán để người khác bắt chước, còn mình thì áp dụng chưa rành. Hoặc nếu chưa tổn hại cũng không nên sanh lòng nghi chê, để biết thật kỹ rồi mới nói.
Nếu chúng ta y theo mười pháp trên đây mà trị thì nhất định có kết quả không nghi ngờ, vì đó là lẽ thật.