Tọa Thiền Tam Muội giảng giải

Chương IV - Tướng Tu Chứng



Chánh văn:

I- TỨ THIỀN

  1. Sơ thiền

Hành giả tuy được nhất tâm mà định lực chưa thành, còn bị phiền não ở Dục giới làm não loạn, phải tạo phương tiện tiến lên học Sơ thiền, trách bỏ ái dục.

Thế nào là trách bỏ ái dục?

– Hành giả quán cái lỗi ái dục ở Dục giới là tội ác, bất tịnh, các thứ pháp bất thiện, nghĩ tưởng Sơ thiền là an ổn khoái lạc.

Quán lỗi ái dục thế nào? Biết ái dục là vô thường, oán thù, không thật như huyễn như hóa. Khi nghĩ đến ái dục là tâm si mê nổi loạn, huống là đã bị dâm dục cột trói. Cái vui trên cõi trời còn chưa phải thường an ổn, huống chi cái vui trong cõi người. Lòng người mê đắm ái dục không chán nhàm, như lửa gặp củi, như bể hứng các dòng sông, như vua Đảnh Sanh tuy được trời mưa bảy báu, làm vua bốn châu thiên hạ, trời Đế-thích chia nửa tòa cho ngồi vẫn thấy chưa đủ; như vua Chuyển kim luân Na-hầu-sa, bị ái dục thúc bách đến phải đọa làm thân con mãng xà. Lại như những vị tiên ăn trái cây mặc áo cỏ, ở trong núi sâu khổ hạnh cầu đạo vẫn chưa khỏi bọn giặc ái dục phá hoại. Cái vui của ái dục rất ít mà sự thù oán, ác độc quá nhiều. Người đắm mê ái dục thường gần bạn ác, bạn lành lánh xa. Ái dục là thứ rượu độc làm người ngu mê say sưa đến chết. Ái dục là thứ xảo quyệt sai sử người ngu muôn ngàn nhọc nhằn không chút tự do. Chỉ có lìa ái dục thì thân tâm an ổn khoái lạc không cùng tận. Ái dục không thể được, như chó gặm xương khô. Tìm cầu ái dục khó nhọc khổ sở mới được, được thì rất khó mà mất lại quá dễ. Nó tạm bợ chốc lát như mộng vừa thấy, tỉnh giấc đã mất. Ái dục là tai họa, tìm cầu đã khổ, được nó cũng khổ, được nhiều khổ nhiều, như lửa gặp củi càng nhiều càng cháy mạnh. Dục như thịt thối bầy quạ giành nhau. Tóm lại, người mê ái dục như con thiêu thân nhảy vào lửa, như cá nuốt câu, như nai theo tiếng, như khát uống nước muối. Tất cả chúng sanh bị cái hoạn ái dục đến nỗi không chỗ khổ nào mà chẳng đến.

Thế nên, phải biết ái dục là độc hại, phải cầu Sơ thiền tiêu diệt lửa ái dục. Hành giả nhất tâm chuyên cần tin vui khiến tâm tăng tiến, ý không tán loạn, quán ái dục tâm nhàm chán, trừ các kiết sử phiền não che đậy, được định Sơ thiền, lìa ngọn lửa dữ ái dục, được định mát mẻ, như khi nắng gặp bóng mát, như kẻ nghèo được của báu. Khi ấy được cái vui mừng của Sơ thiền, suy nghiệm trong thiền định bao nhiêu thứ công đức, xem xét phân biệt cái nào tốt cái nào xấu liền được nhất tâm.

Người tu thiền được tướng nhất tâm thế nào?

– Người ấy vẻ mặt vui tươi, đi từ từ êm ái, ngay thẳng không mất nhất tâm, mắt không đắm sắc, do thần đức thiền định nên không tham danh lợi, phá dẹp kiêu mạn, tánh nết nhu hòa, không ôm lòng độc hại, không có xan tham tật đố, tâm trong sạch tin chân chánh, bàn luận không tranh hơn thua, thân không lừa dối, nói năng dễ dãi, hòa nhã, biết hổ thẹn, tâm thường nhớ giáo pháp, siêng năng tinh tấn giữ giới trọn vẹn, tụng kinh nhớ suy nghĩ y pháp thực hành, ý thường vui vẻ, việc đáng giận không giận, trong bốn thứ cúng dường nếu không thanh tịnh không thọ, nếu cúng dường thanh tịnh thì thọ mà biết lượng sức nhận vừa đủ, bàn luận không tự thỏa mãn, nói năng rất ít, khiêm nhường cung kính những bậc thượng trung hạ tọa, thầy lành bạn tốt thì thường gần gũi vâng lời chỉ dạy, ăn uống có chừng mực không mê mùi vị, ưa ở chỗ vắng vẻ, dù khổ dù vui tâm không xao động, không oán thù cạnh tranh, không ưa thưa kiện. Có những tướng như thế là biết người được tướng nhất tâm.

  1. Nhị thiền

Bởi hai thứ giác, quán nên loạn tâm thiền định, như nước lóng trong sóng dậy liền đục. Hành giả bên trong đã được nhất tâm mà còn bị giác, quán làm não loạn, như làm nhọc muốn nghỉ, như ngủ muốn yên. Khi ấy phải học không giác, không quán cho định thanh tịnh phát sinh. Bên trong thanh tịnh vui vẻ được vào Nhị thiền, tâm rất lặng lẽ xưa chưa từng có, nay mới được trạng thái này nên rất mừng.

  1. Tam thiền

Khi ấy tâm quán cái mừng cũng là họa hoạn, như giác quán ở trước, tập hành pháp không mừng. Rời bỏ cái mừng liền được cái vui của các bậc hiền thánh. Biết chắc chắn nhất tâm, hằng bảo vệ vào Tam thiền. Đã bỏ cái mừng, biết chắc nhớ nghĩ bảo vệ cái vui. Thánh nhân nói bảo vệ vui, vì người thường khó bỏ được, bởi lui về quá khứ chưa bao giờ có cái vui này, nên nó là bậc nhất. Thế nên tất cả Thánh nhân nói: “Trong tất cả tịnh địa, Từ là vui bậc nhất.”

  1. Tứ thiền

Vui cũng là họa hoạn. Vì sao? Vì trong cái thiền bậc nhất, tâm không có động chuyển, bởi nó là vô sự. Nếu có động thì có chuyển, có chuyển là có khổ. Thế nên Tam thiền cho vui là hoạn, muốn dùng cái thiện diệu bỏ cái khổ vui này. Trước bỏ ý lo mừng, trừ khổ vui, gìn giữ tâm niệm thanh tịnh được vào Tứ thiền nhất tâm thanh tịnh không khổ không vui. Cho nên Phật nói: “Gìn giữ rất thanh tịnh gọi là đệ tứ thiền.” Bởi vì đệ tam thiền bị cái vui làm xao động nên gọi là khổ. Đệ tứ thiền diệt trừ khổ vui gọi là chỗ không xao động.

II- TỨ KHÔNG

  1. Không vô biên xứ

Quán Không xứ phá cái tưởng hữu sắc trong và ngoài. Diệt cái tưởng hữu đối, không nghĩ tưởng các thứ hình sắc. Quán Không vô biên xứ là xét hình sắc là lỗi lầm, nghĩ tưởng cái định Không xứ là công đức thượng diệu. Tập nghĩ tưởng pháp này dần dần được định Không xứ.

  1. Thức vô biên xứ

Quán Thức xứ là xét cái Không xứ là lỗi lầm, nghĩ tưởng công đức vô lượng của Thức xứ. Tập nghĩ tưởng pháp này dần dần được định Thức xứ.

  1. Vô sở hữu xứ

Quán Vô sở hữu xứ, xét Thức xứ là lỗi lầm, nghĩ tưởng công đức của Vô sở hữu xứ. Tập nghĩ tưởng pháp này liền được định Vô sở hữu xứ.

  1. Phi tưởng phi phi tưởng xứ

Quán Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, xét tất cả tưởng là hoạn họa rất nhiều, như bệnh, như ghẻ, còn vô tưởng là chỗ ngu si. Thế nên Phi hữu tưởng phi vô tưởng là chỗ tốt an ổn bậc nhất. Xét lỗi lầm của Vô sở hữu xứ, nghĩ công đức Phi hữu tưởng phi vô tưởng. Tập nghĩ pháp này liền được định Phi hữu tưởng phi vô tưởng.

III- TỨ VÔ LƯỢNG TÂM

  1. Từ vô lượng tâm

Hoặc có hành giả trước tiến từ sơ địa dần dần đến thượng địa. Lại ở thượng địa tập hành Từ tâm để trước tự vui và phá cái độc nóng giận, sau Từ tâm lan dần đến mười phương vô lượng chúng sanh. Khi ấy liền được Từ tâm tam-muội.

  1. Bi vô lượng tâm

Bi tâm là thương xót nỗi khổ của chúng sanh, hay tự phá các thứ não hại, rộng đến vô lượng chúng sanh. Khi ấy liền được Bi tâm tam-muội.

  1. Hỷ vô lượng tâm

Hay phá những cái không vui khiến vô lượng chúng sanh đều được vui mừng. Bấy giờ liền được Hỷ tâm tam-muội.

  1. Xả vô lượng tâm

Hay phá những cái khổ vui, thẳng quán mười phương vô lượng chúng sanh. Khi ấy liền được Xả tâm tam-muội.

Nhị thiền thì quán phá khổ vui của Từ và Bi, Tam thiền Tứ thiền thì trừ Hỷ.

IV- NGŨ THÔNG

Kế đến học ngũ thông, thân bay đi biến hóa tự tại. Hành giả chuyên tâm phát khởi bốn món định như ý túc: Dục định, Tinh tấn định, Nhất tâm định và Tuệ định. Chuyên tâm quán thân tưởng nhẹ nhàng muốn bay đi. Hoặc thấy lớn hoặc thấy nhỏ cả hai đều là hoạn, phải tinh tấn chuyên cần thường nhất tâm quán nhẹ nhàng. Người xuống nước nổi là do tâm lực mạnh, khỉ vượn do tâm lực mạnh nên từ trên cao rơi xuống mà không đau nhức. Hành giả cũng như thế, do sức của dục, tinh tấn, nhất tâm, tuệ quá mạnh, mà thân nhỏ nên vận hành được. Lại quán phần không trong thân, thường tập quán không, do sức của dục, tinh tấn, nhất tâm, tuệ quá mạnh nên cất mình lên được. Ví như gió to hay cất vật nặng bay đi xa. Hành giả cũng như vậy, ban đầu thử tập bay khỏi đất chừng một hai thước, dần dần bay cao đến mười thước, trở về chỗ cũ như thường. Như chim con tập bay, hài đồng tập đi. Suy nghĩ tự xét biết, nếu tâm lực mạnh thì bay được xa. Phải học quán tứ đại, bỏ địa đại chỉ quán thủy, hỏa, phong, tâm niệm không tán loạn liền được tự tại, thân nhẹ nhàng bay đi như chim. Lại phải học tập, xa khởi tưởng gần, thế là chỗ gần diệt đến chỗ xa. Lại hay khiến các vật biến hóa. Như cây chỉ quán địa đại, bỏ ba đại kia thì cây biến thành đất. Vì sao? Bởi vì trong cây đã có phần địa đại. Cây biến thành nước, lửa, gió, không, vàng, bạc v.v… đều như vậy cả. Tại sao? Vì trong cây có các phần kia vậy. Đó là thần thông căn bản ban đầu.

Tứ thiền có mười bốn thứ tâm biến hóa:

Sơ thiền có hai: 1- Sơ thiền, 2- Dục giới.

Nhị thiền có ba: 1- Nhị thiền, 2- Sơ thiền, 3- Dục giới.

Tam thiền có bốn: 1- Tam thiền, 2- Nhị thiền, 3- Sơ thiền, 4- Dục giới.

Tứ thiền có năm: 1- Tứ thiền, 2- Tam thiền, 3- Nhị thiền, 4- Sơ thiền, 5- Dục giới.

Còn các thứ thần thông khác như trong luận Ma-ha-diễn có nói rõ.

V- TỨ NIỆM CHỈ

Đệ tử đức Thế Tôn học năm pháp môn, chí chỉ mong đạt được Niết-bàn. Có hai hạng người: Người ưa định nhiều, vì thích khoái lạc. Người ưa trí nhiều, vì sợ khổ hoạn. Người ưa định nhiều trước học pháp thiền, sau học Niết-bàn. Người ưa trí nhiều đi thẳng đến Niết-bàn. Người đi thẳng đến Niết-bàn là chưa đoạn được phiền não cũng chưa đắc thiền, chỉ chuyên tâm không tán loạn thẳng cầu Niết-bàn, vượt qua các thứ phiền não, ái v.v… ấy gọi là Niết-bàn.

  1. Thân niệm chỉ

Thân thật vô thường, khổ, bất tịnh, vô ngã mà điên đảo chấp thân là thường, lạc, tịnh, ngã. Do đó cho nên mọi việc đều đắm mến thân, ấy là hạng chúng sanh thấp tột. Hành giả vì muốn phá điên đảo nên tập Tứ niệm chỉ quán. Quán thân có rất nhiều thứ khổ hoạn từ nhân duyên sanh nên vô thường, các thứ não hại nên khổ, thân có ba mươi sáu vật nên bất tịnh, bởi không tự tại nên vô ngã. Tập quán như thế, quán trong thân, quán ngoài thân, quán cả trong và ngoài thân, ấy gọi là Thân niệm chỉ.

  1. Thọ niệm chỉ

Thật tướng của thân là thế, tại sao lại khởi điên đảo đắm mến thân này? Chín chắn suy xét cái thọ vui là do yêu thích quá mạnh khởi chấp, thật sự không có gì là vui. Tại sao không vui? Vì nhân ăn mặc nên vui, nhưng vui qua thì khổ đến, không phải thật là vui. Như bị ghẻ hành đau nhức là khổ, lấy thuốc xoa hết đau là vui. Do cái khổ lớn qua còn cái khổ nhỏ là vui, không phải thật vui. Lại nữa cái khổ cũ là khổ, cái khổ mới là vui, như người gánh vai này nặng đổi qua vai khác mới vừa nặng là vui, không phải thật thường vui. Như tánh lửa là nóng không có khi tạm lạnh, nếu là thật vui chẳng nên có không vui.

– Khi thấy việc ấy là nhân duyên vui mà chưa hẳn là vui. Vì có khi là nhân vui, có khi là nhân khổ. Nếu thích hợp với tâm yêu thích là vui, nếu hợp với tâm giận tức là khổ, nếu hợp với tâm mê muội thì không khổ không vui. Lấy đó mà suy thì biết chắc có vui và không vui?

– Không phải thế. Như dâm dục cũng không phải là vui. Tại sao? Vì nếu dâm dục tự thành thì không cần tìm nữ sắc, đã tìm nữ sắc tất nhiên là khổ. Nếu dâm là vui thì phải không có khi chán, mà đã có lúc chán tức không phải là vui. Bởi trong cái khổ lớn được cái khổ nhỏ cho là vui. Như người bị tội tử hình, được ân xá tử hình chỉ phạt đòn cho là vui. Lửa dục tâm thiêu đốt quá khổ nên hành dâm cho là vui. Nhưng khi tuổi già chán dục, thì biết dục không phải là vui. Nếu thật vui lẽ ra không có khi chán. Các nhân duyên như thế, biết thật tướng của dục lạc không thể được, khi hết vui thì sẽ khổ, Phật dạy: “Cái vui tột nên quán là khổ, cái khổ tột nên quán là vui, như tên bắn vào thân, cái không khổ không vui nên quán sanh diệt vô thường.”

  1. Tâm niệm chỉ

Phải biết tâm thọ khổ lạc, thọ không khổ không lạc. Thế nào là tâm? Tâm ấy vô thường từ nhân duyên sanh, sanh diệt không dừng tương tự như có, bởi vì điên đảo cho nó là một, kỳ thật xưa không nay có, đã có trở lại không, thế nên vô thường. Quán biết tâm là không. Thế nào là không? Từ nhân duyên sanh nên có mắt, có cảnh thấy biết được. Do sự muốn thấy hòa hợp với các nhân duyên ấy, sanh ra cái biết của mắt. Như hạt châu Nhật Ái, có châu, có mặt trời và bổi, các duyên hòa hợp sanh ra lửa. Tìm từng nhân duyên một không thể thấy lửa, nhưng hợp các duyên lại thì có lửa. Cái biết của mắt cũng thế, không phải ở trong con mắt, không phải ở ngoài cảnh, cũng không phải ở giữa chừng con mắt và cảnh, không có chỗ ở mà cũng không phải là không. Thế nên Phật dạy: “Tâm như huyễn như hóa, tâm hiện tại quán tâm quá khứ hoặc khổ hoặc vui hoặc không khổ không vui, mỗi tâm đều khác, mỗi tâm tự diệt. Tâm có dục, tâm không dục cũng như thế, mỗi tâm đều khác, mỗi tâm tự diệt. Quán nội tâm, ngoại tâm, cả nội ngoại tâm cũng như thế, ấy gọi là Tâm niệm chỉ.”

  1. Pháp niệm chỉ

Quán tâm thuộc về cái gì. Quán tưởng tượng suy xét, nhớ nghĩ, mong muốn v.v… các thứ tâm sở tương ưng và không tương ưng, tìm thật kỹ coi cái gì là chủ. Cùng tột không thể có chủ. Tại sao? Vì từ nhân duyên sanh nên vô thường, vô thường nên khổ, khổ nên không tự tại, không tự tại nên không chủ, không chủ nên không. Trước quán riêng thân thọ tâm pháp không có. Đoạn này quán trong Tứ niệm chỉ không có chủ, rời nó tìm chủ cũng không thể có. Nếu nói thường không được, vô thường cũng không được. Nếu là thường phải thường khổ hoặc thường lạc. Nếu nói thần ngã là thường thì giết hại người không có tội và Niết-bàn cũng không. Nếu thân là thần ngã, khi thân diệt thì thần ngã cũng phải diệt, thế thì không có đời sau, không có tội phước. Khắp quán như thế, thấy hoàn toàn không có chủ. Các pháp vốn là không, không có tự tại, do nhân duyên hòa hợp nên sanh, nhân duyên tan hoại nên diệt. Quán nhân duyên hợp thành pháp gọi là Pháp niệm chỉ.

Nếu hành giả được Pháp niệm chỉ, nhàm chán thế gian là không, già, bệnh, chết, thật không có một chút thường lạc ngã tịnh. Ta đối với pháp không này, còn mong cầu cái gì? Chi bằng vào Niết-bàn trụ trong pháp tối thiện. Do sức cố gắng tinh tấn được thâm Xá-ma-đà (trụ tâm một chỗ). Khi được Xá-ma-đà trụ trong Pháp niệm chỉ thứ tư, quán các pháp đều khổ không vui, không vui là sự thật nếu nói khác tức là vọng ngữ. Khổ là nhân các thứ phiền não ái v.v… và nghiệp mà sanh, không phải trời, thời, ma v.v… các thứ dối gạt ấy gây ra. Phiền não và nghiệp ấy tạo ra cái khổ này. Khi nhập Niết-bàn tất cả khổ này đều dứt sạch. Không phải Sắc giới, Vô sắc giới và thế giới thủy (ngoại đạo cho cái ban đầu tạo ra tất cả sự vật là thế giới thủy) v.v… các thứ dối gạt ấy hay diệt được khổ. Bát chánh đạo, chánh kiến v.v… là lối vào Niết-bàn; không phải chúng ngoại đạo tu các thứ khổ hạnh, không trì giới, không thiền định, không trí tuệ mà vào được Niết-bàn. Vì sao? Vì trong Phật pháp đồng tu ba pháp giới định tuệ mới được vào Niết-bàn. Ví như người đứng chỗ đất bằng, có cung, tên tốt mới bắn chết bọn giặc thù. Giới dụ chỗ đất bằng, thiền định dụ cung tốt, trí tuệ dụ tên nhọn, ba việc đầy đủ hay giết được bọn giặc phiền não. Bởi thế nên chúng ngoại đạo không thể được Niết-bàn.

VI- TỨ ĐẾ

Hành giả bấy giờ khởi quán Tứ đế duyên, như tên bắn suốt.

  1. Khổ

Quán khổ có bốn thứ: Bởi nhân duyên sanh nên Vô thường, thân tâm não loạn nên Khổ, không có một pháp thật nên Không, không thật có người tạo tác và lãnh thọ nên Vô ngã.

  1. Tập

Quán tập có bốn: Do phiền não, nghiệp hữu lậu hòa hợp là Tập, quả tương tự được sanh là Nhân, trong ấy khởi tất cả hạnh là Sanh, không phải quả tương tự ấy liên tục là Duyên.

  1. Diệt

Quán diệt có bốn: Tất cả phiền não che đậy là Bế, trừ hết lửa phiền não là Diệt, trong tất cả pháp là bậc nhất nên Diệu, đã vượt qua thế gian nên Xuất.

  1. Đạo

Quán đạo có bốn: Hay đến Niết-bàn là Đạo, không điên đảo là Chánh, là lối đi của tất cả thánh nhân là Tích, được thoát khỏi sầu thảm là Ly.

VII- TỨ GIA HẠNH

  1. Noãn

Quán như trên sẽ đắc pháp vô lậu tương tự gọi là Noãn pháp. Thế nào là noãn? Thường chuyên cần tinh tấn gọi là noãn. Các thứ phiền não là củi, trí vô lậu là lửa, lửa gần phát cháy hơi ấm ban đầu gọi là noãn. Ví như dùi lửa, lúc mới dùi nó ra khói, ấy là noãn. Nó là tướng ban đầu của đường đến Niết-bàn,

Đệ tử Phật có hai hạng người: Hạng người phần nhiều ưa nhất tâm cầu thiền định là người theo lối hữu lậu. Hạng người ưa trí tuệ chân thật để trừ diệt các thứ đắm mến, là người thẳng đến Niết-bàn vào trong noãn pháp. Có noãn tướng là thâm đắc nhất tâm, được tương tự thật pháp, đến bên ranh vô lậu. Hành giả khi ấy được đại an ổn, tự nghĩ: Ta quyết định sẽ được Niết-bàn, vì thấy được tướng này. Như người đào giếng được thấy đất ướt, biết sẽ đến nước không lâu. Như người đánh giặc, giặc lui tan hết, tự biết đắc thắng, trong ý an ổn. Như người kinh hãi chết giấc, muốn biết họ sống chăng, hoặc lấy kim chích vào thân, hoặc chẩn mạch xem còn nhảy không, nếu biết họ còn ấm tức là sẽ sống. Như người nghe pháp suy nghĩ trong tâm thích thú, khi ấy tâm nóng. Hành giả có noãn pháp như thế gọi là có noãn, cũng gọi là được phần thiện căn đến Niết-bàn. Pháp thiện căn này có mười sáu hạnh, Tứ đế duyên là một trong sáu địa, là nền tảng của trí tuệ và tất cả pháp vô lậu. Người được bước đầu vô lậu hay đi an ổn, ấy gọi là noãn pháp.

  1. Đảnh

Tăng tiến chuyển lên gọi là Đảnh pháp, như sữa biến thành tô lạc. Hành giả quán thật tướng các pháp, tự nghĩ: Ta sẽ lìa khổ được giải thoát. Tâm thích pháp chân thật này hay trừ các thứ khổ hoạn và già, bệnh, chết. Khi ấy suy nghĩ: Pháp này ai nói? Là Phật Thế Tôn. Từ đây được tín tâm thanh tịnh đại hoan hỷ trong Phật bảo. Nếu không có pháp này thì tất cả phiền não ai có thể ngăn được. Ta phải làm thế nào được một chút ít sáng suốt của trí tuệ chân thật. Từ đây được tín tâm thanh tịnh đại hoan hỷ trong Pháp bảo. Nếu ta không được bạn lành là đệ tử của Phật, làm sao được chút ít sáng suốt của trí tuệ chân thật. Từ đây được tín tâm thanh tịnh đại hoan hỷ trong Tăng bảo. Trong Tam bảo được nhất tâm thanh tịnh hợp với trí tuệ chân thật. Đó là được đảnh thiện căn cũng gọi là đảnh pháp, cũng gọi là được phần thiện căn đến Niết-bàn. Như trong kinh Ba-la-diên nói:

Phật, Pháp và Tăng bảo, 

Ai có ít tịnh tín, 

Đó là căn lành Đảnh, 

Các ngươi nhất tâm giữ.

Thế nào là ít tịnh tín? Với bậc Phật, Bồ-tát, Bích-chi Phật, La-hán là ít, còn hàng được bước đầu vô lậu là nhiều. Lại nữa pháp này có thể phá, có thể mất gọi là ít. Như kinh Pháp Cú nói:

Chuối trổ buồng rồi chết, 

Tre ra bông cũng chết, 

La mang thai thì chết, 

Tiểu nhân được nuôi chết.

Phá mất không phải lợi,

Tiểu nhân cho danh dự,

Phần bạch tịnh mất hết,

Đến Đảnh pháp cũng rơi.

Chưa đoạn kiết sử, chưa được vô lậu và vô lượng tâm, gọi là ít.

  1. Nhẫn

Chuyên cần tinh tấn nhất tâm vào trong Niết-bàn, lại quán rành rõ pháp ngũ ấm, Tứ đế, mười sáu hạnh. Khi ấy tâm không sụt, không hối hận, không thối lui, ưa thích vào nhẫn, gọi là Nhẫn thiện căn. Nhẫn những gì? Tùy thuận hành Tứ đế gọi là Nhẫn. Cái thiện căn này có ba bậc thượng trung hạ và ba thời. Thế nào gọi là Nhẫn? Quán ngũ ấm vô thường khổ không vô ngã, tâm nhẫn không thối chuyển gọi là Nhẫn. Quán các pháp thế gian thảy đều là khổ, không, không vui. Cái khổ này do các thứ phiền não, ái v.v… tập hợp. Cái tập ấy bị trí tuệ diệt sạch, đó là thượng pháp không có pháp nào hơn, Bát chánh đạo hay khiến người tu hành được Niết-bàn không có lối nào bằng. Tín tâm như thế không hối hận không nghi ngờ, ấy gọi là Nhẫn. Trong tâm có sức nhẫn nên các kiết sử, các thứ phiền não nghi ngờ không thể chen vào phá hoại tâm được, ví như núi đá, các thứ gió nước không thể làm trôi giạt, lay động được, ấy gọi là Nhẫn. Người được như vậy gọi là người được bước đầu vô lậu chân thật tốt đẹp. Như Phật nói trong kinh Pháp Cú:

Chánh kiến trên thế giới, 

Ai có thể được nhiều, 

Cho đến ngàn muôn năm 

Trọn không rơi ác đạo.

Người chánh kiến trên thế giới là người được Nhẫn thiện căn.

  1. Thế đệ nhất

Người này tăng tiến nhất tâm rất nhàm chán thế giới, muốn biết rành rõ tướng tứ đế để tiến đến Niết-bàn. Trong nhất tâm như thế gọi là pháp thế gian đệ nhất. Một thời trụ tứ hạnh vô thường khổ không vô ngã, quán một đế khổ pháp nhẫn và các khổ duyên. Thế nào là quán ngũ ấm trong Dục giới là vô thường khổ không vô ngã? Trong đây tâm nhẫn vào trí tuệ, cũng là tâm vương và tâm sở tương ưng, gọi là khổ pháp nhẫn. Thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp và các hạnh không tương ưng với tâm, đời hiện tại, đời vị lai tất cả pháp vô lậu ban đầu, gọi là khổ pháp nhẫn. Thứ lớp sanh khổ pháp trí, khổ pháp nhẫn, trí đoạn kiết sử khổ pháp được chứng đạo. Ví như hai người đối địch, một người cầm đao bén một người cầm dây trói thì người cầm đao giết được người cầm dây. Cũng như dao bén chẻ tre qua mắt dễ dàng. Do công phu của nhẫn trí hay đoạn được kiến chấp ràng buộc trong Dục giới và mười món kiết sử. Bấy giờ được cái dị đẳng trí, chưa được vô lậu trí, chỉ được vô lậu tuệ, khi ấy thành tựu một trí. Trong tâm thứ hai thành tựu pháp trí, khổ trí, đẳng trí. Qua tâm thứ ba và thứ tư thành tựu tứ trí; khổ trí, pháp trí, tỷ trí, đẳng trí. Trong đạo pháp diệt đế mỗi trí được tăng, người ly dục thành tựu tăng trưởng tha tâm trí.

VIII- TỨ QUẢ THANH VĂN

  1. Tu-đà-hoàn

Khổ pháp nhẫn, khổ pháp trí, khổ tỷ nhẫn, khổ tỷ trí đoạn mười tám thứ Kiết, bốn tâm ấy đạt được nơi khổ đế. Tập pháp nhẫn, tập pháp trí đoạn được bảy thứ Kiết trong Dục giới. Tập tỷ nhẫn, tập tỷ trí đoạn mười ba món Kiết cõi Sắc và Vô sắc. Diệt pháp nhẫn, diệt pháp trí đoạn bảy món Kiết ở Dục giới. Diệt tỷ nhẫn, diệt tỷ trí đoạn mười hai món Kiết ở cõi Sắc và Vô sắc. Đạo pháp nhẫn, đạo pháp trí đoạn tám món Kiết ở Dục giới. Đạo tỷ nhẫn, đạo tỷ trí đoạn mười bốn món Kiết cõi Sắc và Vô sắc. Đạo tỷ trí là đắc quả Tu-đà-hoàn, thật biết các pháp tướng. Trong mười sáu tâm (khổ pháp nhẫn, khổ pháp trí v.v… ) được mười lăm, người lợi căn gọi là Tùy pháp hạnh, người độn căn gọi là Tùy tín hạnh. Hai người này chưa hẳn ly dục nên chỉ được Sơ quả. Trước chưa đoạn kiết sử mà được mười sáu thứ tâm là Tu-đà-hoàn.

Nếu trước đoạn sáu phẩm Kiết được mười sáu thứ tâm gọi là Tư-đà-hàm. Nếu trước đoạn chín phẩm Kiết được mười sáu thứ tâm gọi là A-na-hàm. Bởi chưa ly dục đoạn tám mươi tám món Kiết sử nên gọi Tu-đà-hoàn. Lại nữa, được thiện căn vô lậu quả nên gọi Tu-đà-hoàn. Người lợi căn gọi Kiến đắc, người độn căn gọi là Tín ái. Chưa đoạn tư hoặc nên phải bảy lần sanh nhân gian, nếu đoạn ba món tư hoặc chỉ còn sanh ba lần. Thấu đạt ba mươi bảy phẩm trợ đạo gọi là Lưu hướng Niết-bàn. Tùy thuận trôi vào biển thánh gọi là Tu-đà-hoàn. Đó là đứa con công đức ban đầu của Phật.

  1. Tư-đà-hàm

Được thoát khỏi ác đạo, đoạn tam kiết, làm mỏng tam độc gọi là Tư-đà-hàm. Lại nữa, chín phẩm Hoặc ở Dục giới do kiến đế đoạn và tư duy đoạn. Nếu người phàm phu trước dùng hữu lậu đạo đoạn sáu thứ Hoặc ở Dục giới, vào kiến đế đạo, được mười sáu thứ tâm gọi là Tư-đà-hàm. Nếu đoạn được tám thứ Hoặc nhập kiến đế đạo đủ mười sáu thứ tâm gọi là quả Tư-đà-hàm hướng A-na-hàm. Nếu đệ tử Phật chứng Tu-đà-hoàn rồi riêng đoạn ba món Kiết dục, chứng Tư-đà-hàm. Hoặc tư duy trong chín món Hoặc ở Dục giới, đoạn được sáu món gọi là Tư-đà-hàm; đoạn tám món gọi là quả Tư-đà-hàm hướng A-na-hàm.

  1. A-na-hàm

Nếu phàm phu trước đoạn chín món Hoặc ở Dục giới vào kiến đạo, được mười sáu thứ tâm gọi là A-na-hàm. Hoặc được Tu-đà-hoàn tiến lên đoạn ba món tư hoặc, chứng đạo giải thoát thứ chín gọi là A-na-hàm. A-na-hàm có chín thứ:

1/ A-na-hàm hiện đời vào Niết-bàn.

2/ A-na-hàm thân trung ấm vào Niết-bàn.

3/ A-na-hàm đời sau sanh ra nhập Niết-bàn.

4/ A-na-hàm chuyên cần mong cầu nhập Niết-bàn.

5/ A-na-hàm không cầu mong nhập Niết-bàn.

6/ A-na-hàm tiến lên các cõi trên nhập Niết-bàn.

7/ A-na-hàm lên cõi trời Ca-ni-tra nhập Niết-bàn.

8/ A-na-hàm đến định Vô sắc nhập Niết-bàn.

9/ A-na-hàm thân ở vị A-na-hàm mà hạnh hướng A-la-hán.

  1. A-la-hán

Dùng vô ngại đạo Kim cương tam-muội thứ chín phá chín món Hoặc cõi Sắc, Vô sắc và tất cả Hoặc, được tận trí giải thoát đạo thứ chín, tu tất cả thiện căn gọi là quả A-la-hán. A-la-hán có chín thứ:

1/ Thối pháp.

2/ Bất thối pháp.

3/ Tử pháp.

4/ Thủ pháp.

5/ Trụ pháp.

6/ Tất tri pháp.

7/ Bất hoại pháp.

8/ Tuệ thoát.

9/ Cộng thoát.

Trí kém, tinh tấn yếu, thực hành ngũ pháp mà lui sụt gọi là A-la-hán Thối pháp. Trí tuệ sắc bén, siêng năng hành ngũ pháp không lùi, gọi là A-la-hán Bất thối pháp. Trí kém, tinh tấn yếu mà nhàm chán mạnh suy nghĩ muốn tự sát, gọi là A-la-hán Tử pháp. Trí kém, tinh tấn mạnh tự bảo vệ thân, gọi là A-la-hán Thủ pháp. Trí bậc trung, tinh tấn bậc trung không tăng không giảm, trụ vào bậc trung gọi là A-la-hán Trụ pháp. Trí có phần sắc bén, chuyên cần tinh tấn được bất hoại tâm giải thoát gọi là A-la-hán Tất tri pháp. Trí sắc bén, tinh tấn mãnh liệt mới được bất hoại tâm giải thoát gọi là A-la-hán Bất hoại pháp. Không nhập trong các thiền định vị đáo địa mà các lậu đã sạch, gọi là A-la-hán Tuệ giải thoát. Được các thiền cũng được Diệt tận định, các lậu dứt sạch, gọi là A-la-hán Cộng giải thoát.

Có vị A-la-hán đối với pháp hữu vi rất nhàm chán tự mãn, không muốn làm các việc công đức, chỉ đợi thời nhập Niết-bàn. Có vị A-la-hán mong cầu Tứ thiền, Tứ định Vô sắc, Tứ đẳng tâm, Bát giải thoát, Bát thắng xứ, Thập nhất thiết xứ nhập, Cửu thứ đệ định, tu Lục thần thông, Nguyện trí, Vô tránh tam-muội, Siêu việt tam-muội, huân thiền, tam giải thoát môn và Phóng xả. Lại y cứ trí sắc bén chuyên cần tinh tấn nhập các thiền công đức, gọi là A-la-hán đắc Bất thối pháp, Bất hoại pháp.

IX- QUẢ BÍCH-CHI PHẬT

Nếu khi không có Phật ra đời, không có giáo pháp và các đệ tử Phật, khi ấy có những vị ly dục Bích-chi Phật ra đời. Bích-chi Phật có ba bậc: thượng, trung, hạ.

  1. Bích-chi Phật bậc hạ

Vị đã chứng Tu-đà-hoàn hoặc Tư-đà-hàm. Tu-đà-hoàn phải sanh trong nhân gian bảy lần, đến lần thứ bảy nếu không gặp Phật pháp, không được làm đệ tử Phật, cũng không sanh đến lần thứ tám, khi ấy chứng Bích-chi Phật. Tư-đà-hàm còn sanh lại nhân gian một lần, nếu không gặp Phật pháp, không được làm đệ tử Phật cũng không sanh đến lần thứ hai, khi ấy chứng Bích-chi Phật.

  1. Bích-chi Phật bậc trung

Có người nguyện làm Bích-chi Phật, khi gieo căn lành Bích-chi Phật, căn lành thuần thục đối với Phật pháp không có, chán đời đi xuất gia đắc đạo, đây là Bích-chi Phật.

Như vua nước Ba-la-nại mùa hạ nóng bức ở trên lầu cao, ngồi sàng thất bảo, sai thể nữ tán hương ngưu đầu chiên-đàn xoa vào thân. Thể nữ tay đeo rất nhiều xuyến, khi xoa vào mình vua xuyến khua vang tai. Vua rất ghét bảo thứ lớp cởi bớt xuyến, xuyến còn ít thì tiếng khua cũng ít, khi chỉ còn một chiếc thì im lặng không khua. Khi ấy vua tự giác ngộ: “Quốc gia, quan dân, cung nhân thể nữ, nhiều việc thì nhiều não cũng giống như thế.” Tức thì lìa dục riêng ở một chỗ suy gẫm chứng Bích-chi Phật, râu tóc tự rụng, mặc y tự nhiên, rời cung điện dùng sức thần túc vào núi xuất gia. Nhân duyên như thế, là Bích-chi Phật bậc trung.

  1. Bích-chi Phật bậc thượng

Có người cầu Phật đạo, sức trí tuệ và tinh tấn kém do gặp nhân duyên lui sụt, đến khi không có Phật ra đời, không Phật pháp và đệ tử Phật, mà hành thiện căn được thuần thục thành Bích-chi Phật, có tướng hảo hoặc ít hoặc nhiều, nhàm chán thế tục đi xuất gia đắc đạo là Bích-chi Phật bậc thượng.

Đối trong các pháp, trí tuệ cạn được vào gọi là A-la-hán, trí tuệ bậc trung là Bích-chi Phật, trí tuệ bậc sâu là Phật. Như ở xa nhìn cây, chỉ thấy cây không phân biệt được cành; lại gần hơn phân biệt được cành, không phân biệt hoa lá; đến dưới cội cây nhìn lên mới phân biệt rành rõ cành lá hoa quả. Thanh văn biết tất cả hạnh vô thường, tất cả pháp vô ngã, chỉ Niết-bàn là hoàn toàn an ổn. Thanh văn hay quán như thế, mà không thể phân biệt biết sâu và vào sâu. Bích-chi Phật có phân biệt mà cũng không thể phân biệt biết sâu và vào sâu. Phật biết các pháp phân biệt cứu xét rõ ràng, biết tận cùng và vào tận cùng.

Giảng:

Giảng:

I- TỨ THIỀN

  1. Sơ thiền

Hành giả tuy được nhất tâm mà định lực chưa thành, còn bị phiền não ở Dục giới làm não loạn, phải tạo phương tiện tiến lên học Sơ thiền, trách bỏ ái dục.

Sau phần chỉ dạy cách tu, đến đây là nói về sự tu chứng. Đầu tiên nói về Sơ thiền. Người tu các pháp quán tuy được nhất tâm, nhưng chưa có định lực, còn bị ái dục làm não loạn. Phải nỗ lực quán xét lỗi của nó tiến đến sơ thiền. Ái dục là cội gốc của Dục giới này, người tu nào cũng bị nó làm phiền hà bực bội khó thoát ra khỏi. Khi tu chứng được Sơ thiền liền dứt ái dục, lúc ấy có niệm vui mừng vô kể, vì mình đã vượt qua một cái khó qua. Vì thế gọi là Sơ thiền Ly sanh hỷ lạc.

Thế nào là trách bỏ ái dục?

– Hành giả quán cái lỗi ái dục ở Dục giới là tội ác, bất tịnh, các thứ pháp bất thiện, nghĩ tưởng Sơ thiền là an ổn khoái lạc.

Hành giả quán lỗi ái dục ở Dục giới là tội ác, là bất tịnh. Cõi này gọi là Dục giới, là thế giới do ái dục sanh. Chúng ta cũng như tất cả chúng sanh có mặt trên cõi này, đều gốc từ ái dục mà ra. Bỏ được ái dục là trút được gánh nặng, không bị nó sai sử kìm chế. Muốn bỏ được ái dục chúng ta phải quán chiếu thấy nó là tội ác, là bất tịnh nhơ nhớp, cố gắng tiến tu vượt qua, lìa bỏ ái dục để được an vui.

Quán lỗi ái dục thế nào? Biết ái dục là vô thường, oán thù, không thật như huyễn như hóa. Khi nghĩ đến ái dục là tâm si mê nổi loạn, huống là đã bị dâm dục cột trói. Cái vui trên cõi trời còn chưa phải thường an ổn, huống chi cái vui trong cõi người. Lòng người mê đắm ái dục không chán nhàm, như lửa gặp củi, như bể hứng các dòng sông, như vua Đảnh Sanh tuy được trời mưa bảy báu, làm vua bốn châu thiên hạ, trời Đế-thích chia nửa tòa cho ngồi vẫn thấy chưa đủ; như vua Chuyển kim luân Na-hầu-sa, bị ái dục thúc bách đến phải đọa làm thân con mãng xà. Lại như những vị tiên ăn trái cây mặc áo cỏ, ở trong núi sâu khổ hạnh cầu đạo vẫn chưa khỏi bọn giặc ái dục phá hoại. Cái vui của ái dục rất ít mà sự thù oán, ác độc quá nhiều. Người đắm mê ái dục thường gần bạn ác, bạn lành lánh xa. Ái dục là thứ rượu độc làm người ngu mê say sưa đến chết. Ái dục là thứ xảo quyệt sai sử người ngu muôn ngàn nhọc nhằn không chút tự do. Chỉ có lìa ái dục thì thân tâm an ổn khoái lạc không cùng tận.

Các ngài dạy chúng ta tu muốn rời ái dục, buông bỏ được ái dục, phải tập tu quán. Một là quán ái dục vô thường có rồi qua mất, không thường còn mãi mãi. Đã là tướng vô thường thì có gì mà đắm nhiễm? Thứ hai quán ái dục là oán thù. Tại sao? Những người đắm mê ái dục, trước cứ tưởng là hạnh phúc là vui nhưng sau nó kéo theo đau khổ, vì thế nói ái dục là oán thù. Ái dục không thật, tạm bợ như huyễn hóa, không có gì đáng yêu thích. Vừa nghĩ đến ái dục thì tâm si mê đã nổi loạn rồi, huống là bị ái dục cột trói. Tạo nghiệp ái dục là si mê là khổ đau. Phải luôn quán xét như vậy. Cái vui trong cõi trời còn chưa an ổn huống chi ở cõi người. Trong kinh Phật thường dạy: Dù ở cõi trời có vui hơn thế gian nhưng cái vui đó rồi cũng mất. Khi hết phước, thân sanh ra các thứ hôi hám, phải bị đọa trở lại. Cái vui ở cõi trời không xứng đáng để chúng ta mong cầu, huống nữa là cái vui của ái dục, vui ít khổ nhiều.

Lòng người mê đắm ái dục không chán nhàm, như lửa gặp củi, như bể hứng các dòng sông. Thế gian bao nhiêu người vì không dừng được ái dục nên bị lôi kéo khổ sở mãi mãi. Thuở xưa vua Đảnh Sanh nhờ có tạo được một phần công đức, cho nên ước nguyện gì đều được như ý. Thấy dân chúng nghèo, nhà vua ước trời mưa bảy báu, vừa ước nguyện xong liền có mưa bảy báu. Làm vua một nước nhỏ không đủ, ông ước mình làm chủ hết bốn châu thiên hạ. Vừa ước vậy thì được nắm hết bốn châu thiên hạ, được nhiều của cải, được nhiều thê thiếp, nhiều đất đai. Ông lại ước được lên cõi trời Đế-thích để hưởng vui, ước xong cũng được thần thông lên cõi trời. Lúc ấy, Đế-thích nhường nửa tòa cho ông ngồi, rất thích thú. Những ước muốn đều có đủ, nhưng ông chưa chịu dừng, còn muốn hất vua trời Đế-thích xuống để cướp ngôi. Vừa khởi niệm ác liền bị rớt xuống trần gian. Thật là lòng tham của con người không cùng, được cái này muốn cái kia, được rồi lại muốn nữa, đến khi bị đày đọa ngược lại mới thức tỉnh. Khi rớt xuống cõi trần ông đau nặng gần chết, lúc đó bá quan mới hỏi: “Bệ hạ có lời gì căn dặn những kẻ hạ thần để sống cho tốt đẹp?” Ông bảo triệu tập hết quần thần sẽ dạy cho một câu. Tất cả quần thần tề tựu đầy đủ, gần tắt thở ông nói: “Các khanh phải nhớ câu này, lòng tham muốn của con người không bao giờ biết đủ, như vua Đảnh Sanh được bảy báu, được bốn châu thiên hạ, được nửa tòa trời Đế-thích mà vẫn còn tham, nên ngày nay bị tàn tạ. Khi thức tỉnh thì đã muộn.” Câu chuyện đó nhắc tất cả chúng ta, tham muốn nhiều sẽ bị đau khổ.

Kế đến vua Chuyển kim luân Na-hầu-sa vì nặng ái dục nên đến khi chết đọa làm thân mãng xà. Lại như những vị tiên ăn trái cây mặc áo cỏ ở trong núi sâu khổ hạnh cầu đạo, vẫn chưa khỏi bọn giặc ái dục phá hoại. Chúng ta thấy tuy lý tưởng tu tập rất cao siêu nhưng đôi lúc cũng bị giặc ái dục phá hoại.

Cái vui của ái dục thì rất ít mà sự thù oán ác độc quá nhiều. Nghĩ tới cái vui ít mà sự thù oán ác độc của ái dục phá hại nhiều, chúng ta phải tự kìm chế, tự thắng mình để đừng say mê ái dục. Người đắm mê ái dục thường gần bạn ác, bạn lành lánh xa. Người ái dục thường tìm người cùng bệnh với mình, gần người buông lung không gần bạn lành. Ái dục là rượu độc, là thứ xảo quyệt làm người say mê ngu si đến chết. Ái dục sai khiến người chịu muôn ngàn nhọc nhằn không chút tự do. Chúng ta phải thấy đúng sự nguy hiểm của ái dục để tìm cách chữa trị. Các pháp quán vô thường, bất tịnh, quán ái dục ác độc, là oán thù… giúp người tu xa lìa, chán bỏ. Người lìa được ái dục thì thân tâm được an ổn, vui vẻ không cùng.

Ái dục không thể được, như chó gặm xương khô. Tìm cầu ái dục khó nhọc khổ sở mới được, được thì rất khó mà mất lại quá dễ. Nó tạm bợ chốc lát như mộng vừa thấy, tỉnh giấc đã mất. Ái dục là tai họa, tìm cầu đã khổ, được nó cũng khổ, được nhiều khổ nhiều, như lửa gặp củi càng nhiều càng cháy mạnh.

Chư tổ quở trách ái dục nặng nề, nói ái dục như chó gặm xương khô. Xương khô chẳng có gì lợi ích, mấy cục xương quăng ngoài đường, chó gặm đứt miệng chảy máu mà không được bổ ích gì. Chúng tranh giành nhau khúc xương khô khó nhọc khổ sở, được thì rất khó mà mất lại quá dễ.

Ái dục tạm bợ như giấc mộng, tìm cầu là tai họa, được nhiều khổ nhiều, như đống lửa cháy hừng. Nói như thế để thấy ái dục là họa lớn không phải thường. Người tu phải biết tránh biết sợ nó mới có thể được an ổn.

Dục như thịt thối bầy quạ giành nhau.

Ái dục giống như cục thịt thối, mấy con chim quạ tranh giành nhau, nếu là người đàng hoàng thấy như thế chỉ tội nghiệp, thương chúng không đáng gì mà chịu khổ sở.

Tóm lại, người mê ái dục như con thiêu thân nhảy vào lửa, như cá nuốt câu, như nai theo tiếng, như khát uống nước muối. Tất cả chúng sanh bị cái hoạn ái dục đến nỗi không chỗ khổ nào mà chẳng đến.

Thế nên, phải biết ái dục là độc hại, phải cầu Sơ thiền tiêu diệt lửa ái dục.

Người đắm mê ái dục giống như con thiêu thân bay thẳng vào ngọn đèn, vào đống lửa, vừa vào là bị cháy. Như cá thấy mồi ngon vừa nuốt vào là bị người bắt. Như nai theo tiếng của đàn nai khác, chạy theo là bị khổ. Như khát uống nước muối, càng uống càng khát không tới đâu hết.

Vì biết ái dục là tai họa lớn lao, là điều độc hại nên chúng ta phải ráng tu, chứng được Sơ thiền thì tiêu diệt được lửa ái dục, gọi là Ly sanh hỷ lạc. Tâm ái dục không còn trói buộc khổ sở lúc đó được vui an ổn.

Hành giả nhất tâm chuyên cần tin vui khiến tâm tăng tiến, ý không tán loạn, quán ái dục tâm nhàm chán, trừ các kiết sử phiền não che đậy, được định Sơ thiền, lìa ngọn lửa dữ ái dục, được định mát mẻ, như khi nắng gặp bóng mát, như kẻ nghèo được của báu. Khi ấy được cái vui mừng của Sơ thiền, suy nghiệm trong thiền định bao nhiêu thứ công đức, xem xét phân biệt cái nào tốt cái nào xấu liền được nhất tâm.

Nhờ quán chiếu, quở trách sự nguy hiểm của ái dục, hành giả chuyên cần tin tưởng mình sẽ lìa ái dục, tâm an định, được cái vui vô hạn. Lúc ấy thân tâm mát mẻ, định lực tăng tiến, xem xét những điều xấu tốt rõ ràng nên tâm không đắm nhiễm phiền não.

Người tu thiền được tướng nhất tâm thế nào?

– Người ấy vẻ mặt vui tươi, đi từ từ êm ái, ngay thẳng không mất nhất tâm, mắt không đắm sắc, do thần đức thiền định nên không tham danh lợi, phá dẹp kiêu mạn, tánh nết nhu hòa, không ôm lòng độc hại, không có xan tham tật đố, tâm trong sạch tin chân chánh, bàn luận không tranh hơn thua, thân không lừa dối, nói năng dễ dãi, hòa nhã, biết hổ thẹn, tâm thường nhớ giáo pháp, siêng năng tinh tấn giữ giới trọn vẹn, tụng kinh nhớ suy nghĩ y pháp thực hành, ý thường vui vẻ, việc đáng giận không giận, trong bốn thứ cúng dường nếu không thanh tịnh không thọ, nếu cúng dường thanh tịnh thì thọ mà biết lượng sức nhận vừa đủ, bàn luận không tự thỏa mãn, nói năng rất ít, khiêm nhường cung kính những bậc thượng trung hạ tọa, thầy lành bạn tốt thì thường gần gũi vâng lời chỉ dạy, ăn uống có chừng mực không mê mùi vị, ưa ở chỗ vắng vẻ, dù khổ dù vui tâm không xao động, không oán thù cạnh tranh, không ưa thưa kiện. Có những tướng như thế là biết người được tướng nhất tâm.

Đây là tướng nhất tâm. Vẻ mặt vui tươi, không buồn không quạu. Ai có buồn có quạu thì đã nhất tâm chưa? Đi từ từ êm ái, chậm rãi ngay thẳng không mất nhất tâm. Mắt không đắm sắc, thấy sắc đẹp không để ý, không dính dáng. Do thần đức thiền định nên không tham danh lợi, phá dẹp kiêu mạn, tánh nết nhu hòa, không ôm lòng độc hại, không tham sân tật đố. Ai có hơn điều gì mình cũng không ganh ghét… Tâm trong sạch, tin chân chánh, bàn luận không tranh hơn thua, thường nhớ giáo pháp, siêng năng tinh tấn giữ giới trọn vẹn, tụng kinh nhớ suy nghĩ y pháp thực hành, ý thường vui vẻ. Chúng ta nhớ vài nét chánh của người được tướng nhất tâm: ý thường vui vẻ, việc đáng giận không giận, bao nhiêu đó thấy cũng là quá đủ. Cộng thêm vẻ mặt vui tươi, không có tính kiêu mạn. Được những điều này là rất quý. Người được nhất tâm không khoe khoang sở đắc của mình. Có nhiều người tu chưa tới đâu mà ngỡ rằng mình chứng được pháp này pháp nọ, rồi khoe khoang tự mãn, nhưng khi gặp cảnh đến vẫn sân si. Người tu chân chánh đạt được thiền định, cuộc sống nội tâm lúc nào cũng trong sạch sáng suốt, không cầu danh cầu lợi.

Người mà tu càng sâu, đạo lực càng mạnh thì phiền não càng giảm. Nếu một người tuy nói tu hay, nói đạo cao mà còn phiền não thì chúng ta không thể tin. Như vậy học đây để hiểu, hiểu rồi mới đánh giá được người thật và người không thật.

  1. Nhị thiền

Bởi hai thứ giác, quán nên loạn tâm thiền định, như nước lóng trong sóng dậy liền đục. Hành giả bên trong đã được nhất tâm mà còn bị giác, quán làm não loạn, như làm nhọc muốn nghỉ, như ngủ muốn yên. Khi ấy phải học không giác, không quán cho định thanh tịnh phát sinh. Bên trong thanh tịnh vui vẻ được vào Nhị thiền, tâm rất lặng lẽ xưa chưa từng có, nay mới được trạng thái này nên rất mừng.

Nhị thiền là Định sanh hỷ lạc, do được định nên tâm sanh ra vui mừng. Người được Sơ thiền là dùng giác quán tức là nhận định, xem xét lỗi quấy của ái dục để chừa bỏ. Nhờ quán sát xem xét đúng nên tâm không còn đắm mê ái dục. Như thế vượt qua ái dục nhân giác quán. Qua ái dục rồi được cái vui lìa ái dục, nhưng tâm chưa định vì còn dùng giác quán.

Đến giai đoạn thứ hai, thấy tâm mình vẫn còn loạn chưa an, như nước bị sóng quậy làm đục, nên bỏ luôn giác quán để cho tâm được thuần thanh tịnh. Đó là định phát sanh, được định này thì có sự vui mừng vô kể. Vui thế gian là tạm bợ vô nghĩa, chính cái vui trong đạo mới siêu thoát đáng quý trọng.

  1. Tam thiền

Khi ấy tâm quán cái mừng cũng là họa hoạn, như giác quán ở trước, tập hành pháp không mừng. Rời bỏ cái mừng liền được cái vui của các bậc hiền thánh. Biết chắc chắn nhất tâm, hằng bảo vệ vào Tam thiền. Đã bỏ cái mừng, biết chắc nhớ nghĩ bảo vệ cái vui. Thánh nhân nói bảo vệ vui, vì người thường khó bỏ được, bởi lui về quá khứ chưa bao giờ có cái vui này, nên nó là bậc nhất. Thế nên tất cả Thánh nhân nói: “Trong tất cả tịnh địa, Từ là vui bậc nhất.”

Tam thiền là Ly hỷ diệu lạc, lìa bỏ cái vui mừng trước, vì còn vui mừng là còn loạn động. Khi chúng ta ngồi thiền thấy được yên, vui mừng cho như thế là tốt, nhưng cứ vui mừng hoài thì tâm không định, nên phải bỏ vui mừng thô đó. Tâm an định rồi mới có cái vui nhè nhẹ rất vi diệu thầm lặng. Như vậy chúng ta càng tu thì kết quả càng sâu. Giai đoạn đầu được lìa dục, được định nên vui mừng vì đã bước qua một chặng đường, nhưng đó cũng còn trở ngại, là bệnh. Giai đoạn này bỏ được vui thô, được cái vui tế nhị trong định, gọi đó là cái vui của hàng thánh nhân.

  1. Tứ thiền

Vui cũng là họa hoạn. Vì sao? Vì trong cái thiền bậc nhất, tâm không có động chuyển, bởi nó là vô sự. Nếu có động thì có chuyển, có chuyển là có khổ. Thế nên Tam thiền cho vui là hoạn, muốn dùng cái thiện diệu bỏ cái khổ vui này. Trước bỏ ý lo mừng, trừ khổ vui, gìn giữ tâm niệm thanh tịnh được vào Tứ thiền nhất tâm thanh tịnh không khổ không vui. Cho nên Phật nói: “Gìn giữ rất thanh tịnh gọi là đệ tứ thiền.” Bởi vì đệ tam thiền bị cái vui làm xao động nên gọi là khổ. Đệ tứ thiền diệt trừ khổ vui gọi là chỗ không xao động.

Chúng ta thấy từng bước tu tiến trong thiền định. Bỏ hết ba tầng thiền trên, đến Tứ thiền, danh từ chuyên môn gọi là Xả niệm thanh tịnh. Xả niệm tức là bỏ hết những niệm vui vi diệu trước. Còn vui là còn động, vui là đối với khổ, vẫn còn xao động vi tế. Tứ thiền bỏ tất cả vui, không còn khổ vui đối đãi, tâm được thanh tịnh. Chúng ta có tu mới thấy rõ điều này. Trên phương diện đối đãi ai cũng sợ khổ cầu vui, ai cũng mong hết khổ được vui. Nhưng còn vui thì còn khổ. Như khi mình nghèo túng được người cho một hai triệu đồng, được số tiền lớn nên rất vui. Qua thời gian xài hết tiền trở lại nghèo túng thì sao? Khổ như cũ. Bởi có vui nên có khổ, nếu không có vui thì không có khổ. Người tu đến chỗ cứu cánh Tứ thiền không còn vui khổ đối đãi, gọi là Xả niệm thanh tịnh.

Phật dạy, từ Sơ thiền đến Tứ thiền vẫn còn trong phàm phu thiền chưa giải thoát sanh tử, vì tất cả ngoại đạo cũng tu chứng được. Nếu hài lòng cho rằng tu đến Tứ thiền là giải thoát, đó là sai lầm.

Điểm đặc biệt trong đường lối tu của chúng ta, như tôi dạy tăng ni Phật tử vừa dấy niệm nghĩ gì liền buông bỏ, đó gọi là xả niệm, đi thẳng vào bậc thứ tư. Tất cả những niệm khởi, dù vui buồn đều bỏ hết để tâm thanh tịnh. Đến chỗ này vẫn còn là phàm phu chưa phải cứu cánh; phải nhận được chỗ chưa bao giờ sanh chưa bao giờ diệt mới bước vào đường thánh. Hiểu được chỗ này mới thấy lối tu của chúng ta rất sâu, rất vi diệu, không đơn giản.

II- TỨ KHÔNG

Pháp tọa thiền theo thứ bậc từ thấp đến cao có chia ra Tứ thiền, Tứ định, cộng chung lại là Tứ thiền bát định. Tứ không này thuộc về Tứ định.

  1. Không vô biên xứ

Quán Không xứ phá cái tưởng hữu sắc trong và ngoài. Diệt cái tưởng hữu đối, không nghĩ tưởng các thứ hình sắc. Quán Không vô biên xứ là xét hình sắc là lỗi lầm, nghĩ tưởng cái định Không xứ là công đức thượng diệu. Tập nghĩ tưởng pháp này dần dần được định Không xứ.

Quán Không xứ này, đây chỉ nói tổng quát, trong chỗ tu dạy rất kỹ. Tất cả những gì có hình sắc đều là tướng duyên hợp vô thường, nếu bám vào hình sắc để tu cũng là vô thường sanh diệt. Vì thế quán Không để bỏ hết hình tướng, tâm rộng lớn thênh thang. Quán Không có hai cách: Một, quán Không trong thân. Hai, quán Không ở bên ngoài.

Quán Không trong thân: Trong cơ thể chúng ta có những khoảng không. Như lỗ mũi có khoảng trống để hít thở, cổ họng có khoảng trống để nuốt thức ăn, da thịt gân xương cũng có hư không để bài tiết mồ hôi, để máu huyết lưu thông… Quán tưởng khoảng không trong cơ thể để thấy hoàn toàn trống không.

Quán Không bên ngoài: Từ cái không nhỏ trong cơ thể dần dần quán đến cái không lớn như hư không bằng cái nhà, rồi hư không rộng lớn ra một vùng… đến khi quán hư không trùm hết không còn giới hạn, lúc đó được định Không vô biên xứ. Không vô biên xứ là cái Không không có giới hạn. Đó là định thứ nhất.

  1. Thức vô biên xứ

Quán Thức xứ là xét cái Không xứ là lỗi lầm, nghĩ tưởng công đức vô lượng của Thức xứ. Tập nghĩ tưởng pháp này dần dần được định Thức xứ.

Sự phân biệt tốt xấu hay dở là thức, thức phân biệt đó có sẵn trong người mình, quán thức ấy rộng lớn, lớn dần dần từ một thân này, đầy cả thân này, đầy cả nhà, đầy cả khu vực, đầy cả thế giới, thức trùm hết. Lúc đó thành tựu Thức vô biên xứ. Quán hư không trống rỗng thì không có gì hết, thế nên quán thức trùm khắp.

  1. Vô sở hữu xứ

Quán Vô sở hữu xứ, xét Thức xứ là lỗi lầm, nghĩ tưởng công đức của Vô sở hữu xứ. Tập nghĩ tưởng pháp này liền được định Vô sở hữu xứ.

Nếu còn thấy có thức là còn có phân biệt, nên đến đây sức quán rỗng suốt trùm khắp hết không có giới hạn không nơi chốn, gọi là Vô sở hữu xứ.

  1. Phi tưởng phi phi tưởng xứ

Quán Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, xét tất cả tưởng là hoạn họa rất nhiều, như bệnh, như ghẻ, còn vô tưởng là chỗ ngu si. Thế nên Phi hữu tưởng phi vô tưởng là chỗ tốt an ổn bậc nhất. Xét lỗi lầm của Vô sở hữu xứ, nghĩ công đức Phi hữu tưởng phi vô tưởng. Tập nghĩ pháp này liền được định Phi hữu tưởng phi vô tưởng.

Quán phi tưởng phi phi tưởng xứ này là quán không có tưởng, cũng không có không tưởng. Xét tất cả tưởng là họa hoạn, vì tưởng là sanh diệt nên là bệnh, là ghẻ; nếu không tưởng thì không biết, không biết thì ngu si. Ở đây quán không phải có tưởng mà cũng không phải không tưởng, tức là cái tưởng vi tế, là chỗ an ổn bậc nhất. Xét được như vậy, quán được như vậy thành công gọi là định Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Chúng ta thấy rằng tu từ Sơ thiền đến Tứ thiền đã là cao rồi, đến Tứ không này càng cao sâu hơn nữa. Phật nói người tu thiền nếu chỉ tu năm giới và các điều lành chút ít thì chết được sanh về cõi người. Nếu tu thập thiện trọn vẹn khi chết được sanh về cõi trời Dục giới. Ở đó thỏa mãn những gì người ta ham muốn, muốn ăn có ăn muốn mặc có mặc, muốn gì có nấy đều như ý. Như vậy ở thế gian tu ngũ giới được trở về thế gian, tức là trên hành tinh này; nếu tốt hơn tu thập thiện thì được sanh cõi cao hơn, có thể là hành tinh nào đẹp hơn hành tinh này. Ngày xưa tôi không thể hiểu khi nghe kinh nói ở cõi trời Dục giới một ngày một đêm bằng mấy trăm năm của cõi này. Bây giờ hiểu rằng trong vũ trụ có rất nhiều hành tinh lớn nhỏ khác nhau, hành tinh nhỏ thì quay nhanh, một ngày đêm qua mau, hành tinh lớn bằng mười lần, hai chục lần, trăm lần thì quay chậm hơn. Hành tinh càng lớn thì ngày đêm càng xa, càng dài. Nên nói cõi trời Đao-lợi một ngày đêm bằng trăm năm của chúng ta. Hiểu như vậy không có gì nghi.

Người tu thiền sanh nơi đâu? Nếu từ Sơ thiền, Nhị thiền… sanh về cõi trời Sắc giới, tuổi thọ cao hơn bao nhiêu lần cõi Dục giới. Được định Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thì sanh về cõi Vô sắc giới. Những cõi này không có hình tướng, rất tế nhị, chúng sanh chỉ có tâm thức sống lâu vô hạn. Như hiện nay các nhà khoa học tìm hiểu, thấy thế giới chúng ta có loài người sống phù hợp với điều kiện loài người, còn có những thế giới chúng sanh ở đó sống theo điều kiện ở đó. Trong kinh cũng nói có những cõi trời tự hóa sanh, không có ái dục như thế gian. Tứ thiền bát định đã ra khỏi ái dục, tâm thức càng lúc càng lắng sâu trong định nên cảnh giới càng tế nhị không giống cõi người. Nhưng các cõi Sắc và Vô sắc tuy thâm sâu vi diệu vẫn chưa ra khỏi luân hồi. Tứ thiền bát định đối với nhà Phật còn thuộc về phàm phu ngoại đạo.

Đức Phật của chúng ta thời còn học đạo, ngài đã đắc định Phi tưởng phi phi tưởng mà vẫn chưa hài lòng, vì thấy chưa đến giác ngộ giải thoát. Vì thế ngài bỏ đi, tự tu một mình. Người tu thiền theo Phật có áp dụng Tứ thiền nhưng không áp dụng Tứ không. Nếu sanh về Không vô biên xứ hay Thức vô biên xứ… chỉ còn cái mờ mịt rỗng không, không thức tỉnh để tu tiến, cứ chìm đắm trong đó vô ích. Ai cũng muốn sống lâu nhưng sống lâu mà không lợi ích gì cũng đâm chán. Như sanh lên các cõi trời, hưởng dục lạc một mạch, hết tuổi thọ rồi rơi xuống, thời gian dài ở cõi trời cũng vô ích. Các cõi khác ở lâu vô số càng vô ích hơn. Phật không khuyến khích chúng ta tu để hưởng phước cõi trời, ngài dạy chúng ta tu làm sao ngay đời này tỉnh đừng mê, nếu có tái sanh thì cũng ở cõi người dễ tu.

Gia đình luôn hạnh phúc toại nguyện, muốn gì được nấy thì dễ tu hay khó? Chỉ có gia đình nào gặp nhiều tai ương hoạn nạn mới dễ thức tỉnh, lo tu để thoát khổ. Chúng ta không nên sợ cõi Ta-bà nhiều tai nạn khó khăn, chính đây là cơ hội để tu, cơ hội để phát khởi tâm Từ làm lợi ích chúng sanh. Phải hiểu hạnh phúc đích thực không nằm ở chỗ thỏa mãn vật chất thế gian, hạnh phúc chỉ có khi tâm chúng ta an lành tự tại. Phật dạy tu là để đi đến chỗ giải thoát sanh tử, đạt được chân lý cứu cánh, không phải tu để cầu sanh ở những cõi trời sung sướng tuổi thọ lâu dài. Đó là nói về Tứ thiền, Tứ không.

III- TỨ VÔ LƯỢNG TÂM

  1. Từ vô lượng tâm

Hoặc có hành giả trước tiến từ sơ địa dần dần đến thượng địa. Lại ở thượng địa tập hành Từ tâm để trước tự vui và phá cái độc nóng giận, sau Từ tâm lan dần đến mười phương vô lượng chúng sanh. Khi ấy liền được Từ tâm tam-muội.

Khi tu tiến từ Sơ thiền đến Tứ thiền, tâm an định lặng lẽ rồi, phải tập quán lòng Từ để làm lợi ích chúng sanh, lòng Từ trùm khắp không tính kể gọi là Từ vô lượng tâm. Thực hành pháp quán này, trước nghĩ đến người thân gần gũi nhất, dần dần đến người chung quanh rồi đến tất cả chúng sanh.

Bắt đầu khi tự mình có niềm vui, liền quán tưởng niềm vui này đến cha mẹ anh em…, nghĩ tưởng sự an lạc chia sớt cho người thân. Quán luôn như vậy, thuần thục hoàn toàn là tâm mình đã mở rộng một chút. Dần dần quán tưởng lòng từ bi an vui đến bà con xa, chú bác cô dì… những người này cũng hưởng sự từ bi mát mẻ như mình. Xa hơn nữa, quán đến những chúng sanh không thân, rồi đến những người thù ghét mình. Luôn luôn bủa lòng từ bình đẳng không tức giận đố kỵ ganh ghét bất cứ ai. Quán chúng sanh trong một cõi nước này cũng được thấm nhuần từ bi mát mẻ an vui, rồi quán khắp thế giới, khắp cả muôn loài cùng được an vui. Luôn luôn an định trong tâm từ, không một chút nào khởi sân giận, lòng từ bủa khắp mênh mông, đó là được thành tựu Từ vô lượng tâm.

Như hôm nào chúng ta tọa thiền được an lạc nhẹ nhàng, lúc ấy tưởng nhớ tất cả chúng sanh đều được an lạc nhẹ nhàng như mình. Quán tưởng cái vui chan rải khắp hết, không có người nào mình giận ghét. Không có ghét mà chỉ có thương tất cả, thương tất cả thì có gì giận hờn, có gì phiền não. Từ chỗ thương tất cả đó tâm chúng ta được định trùm khắp, đó là Từ tam-muội.

  1. Bi vô lượng tâm

Bi tâm là thương xót nỗi khổ của chúng sanh, hay tự phá các thứ não hại, rộng đến vô lượng chúng sanh. Khi ấy liền được Bi tâm tam-muội.

Lòng từ là ban vui, lòng bi là cứu khổ. Quán từ là đem cái vui của mình chia sớt cho mọi người, quán bi là nhớ những nỗi khổ của thân nhân mình, của người xa lạ, cho đến tất cả chúng sanh, ai có cái khổ gì mình cũng muốn cho họ đều được qua, được hết khổ. Quán Bi tam-muội cũng bắt đầu từ người gần đến người xa, từ một số ít đến trùm khắp vô lượng. Khi tâm yên định, chúng ta nghĩ tới nỗi khổ của chúng sanh, mong ước cho họ qua hết những cái khổ đó. Lâu dần thuần thục, tâm bi trải rộng khắp nơi, không bỏ sót một chúng sanh nào. Tâm đầy đủ sức bi vô lượng, đó gọi là được Bi tâm tam-muội.

  1. Hỷ vô lượng tâm

Hay phá những cái không vui khiến vô lượng chúng sanh đều được vui mừng. Bấy giờ liền được Hỷ tâm tam-muội.

Hỷ tâm tam-muội này là nhớ tất cả chúng sanh mong cho họ đều được vui, phá tan những điều buồn rầu bi thảm. Quán tưởng từ người thân đến sơ, từ số ít đến số nhiều, khiến đều được vui mừng vô lượng, đó là thành tựu Hỷ tâm tam-muội.

  1. Xả vô lượng tâm

Hay phá những cái khổ vui, thẳng quán mười phương vô lượng chúng sanh. Khi ấy liền được Xả tâm tam-muội.

Nhị thiền thì quán phá khổ vui của Từ và Bi, Tam thiền Tứ thiền thì trừ Hỷ.

Xả tức là dẹp bỏ, phá hết những khổ vui của tất cả chúng sanh. Chúng sanh dù chẳng bị khổ, chỉ có vui hoàn toàn thì cũng là tâm không thanh tịnh. Vì thế quán Xả vô lượng tâm để dẹp bỏ tất cả khổ vui, tâm thênh thang trùm khắp, không còn dính kẹt bất cứ điều gì. Khi ấy liền được Xả tâm tam-muội, tức là được thiền định.

Như vậy, Xả vô lượng tâm trong Tứ vô lượng tâm này phá bỏ tất cả những gì đạt được qua Tứ thiền. Xả đến tận cùng, vô lượng thế giới không còn một mảy may vướng kẹt, đó là thành tựu Xả tâm tam-muội.

IV- NGŨ THÔNG

Kế đến học ngũ thông, thân bay đi biến hóa tự tại. Hành giả chuyên tâm phát khởi bốn món định như ý túc: Dục định, Tinh tấn định, Nhất tâm định và Tuệ định. Chuyên tâm quán thân tưởng nhẹ nhàng muốn bay đi. Hoặc thấy lớn hoặc thấy nhỏ cả hai đều là hoạn, phải tinh tấn chuyên cần thường nhất tâm quán nhẹ nhàng. Người xuống nước nổi là do tâm lực mạnh, khỉ vượn do tâm lực mạnh nên từ trên cao rơi xuống mà không đau nhức. Hành giả cũng như thế, do sức của dục, tinh tấn, nhất tâm, tuệ quá mạnh, mà thân nhỏ nên vận hành được. Lại quán phần không trong thân, thường tập quán không, do sức của dục, tinh tấn, nhất tâm, tuệ quá mạnh nên cất mình lên được. Ví như gió to hay cất vật nặng bay đi xa. Hành giả cũng như vậy, ban đầu thử tập bay khỏi đất chừng một hai thước, dần dần bay cao đến mười thước, trở về chỗ cũ như thường. Như chim con tập bay, hài đồng tập đi. Suy nghĩ tự xét biết, nếu tâm lực mạnh thì bay được xa. Phải học quán tứ đại, bỏ địa đại chỉ quán thủy, hỏa, phong, tâm niệm không tán loạn liền được tự tại, thân nhẹ nhàng bay đi như chim. Lại phải học tập, xa khởi tưởng gần, thế là chỗ gần diệt đến chỗ xa. Lại hay khiến các vật biến hóa. Như cây chỉ quán địa đại, bỏ ba đại kia thì cây biến thành đất. Vì sao? Bởi vì trong cây đã có phần địa đại. Cây biến thành nước, lửa, gió, không, vàng, bạc v.v… đều như vậy cả. Tại sao? Vì trong cây có các phần kia vậy. Đó là thần thông căn bản ban đầu.

Đây muốn nói về ý nghĩa mạnh mẽ của tâm. Danh từ nhà Phật gọi Tứ như ý túc là Dục như ý túc, Tinh tấn như ý túc, Nhất tâm như ý túc, Tuệ như ý túc. Khi chuyên tâm phát khởi vào bốn thứ này được đầy đủ như ý mình, gọi là được bốn món định như ý. Người tu Phật phải diệt dục, tại sao trong Tứ như ý túc, thứ nhất là Dục như ý túc? Chúng ta phải hiểu ý nghĩa này. Chữ diệt dục là diệt tham dục, còn Dục như ý túc là làm việc gì phải có tâm mong muốn làm bước đầu để đạt được thành công. Mong muốn được thành công như ý gọi là Dục như ý túc, kế đó phải nỗ lực cố gắng tức là Tinh tấn như ý túc. Cố gắng mà phải chuyên nhất tức là Nhất tâm như ý túc. Được chuyên nhất rồi thì được trí tuệ sáng rực đó là Tuệ như ý túc.

Pháp quán ở đây là do chúng ta dùng tâm tưởng. Như trong thân chúng ta do các đại hòa hợp. Người tu thiền này áp dụng pháp quán nỗ lực chuyên cần để được thần thông tự tại. Muốn vận dụng một phần nhẹ của thân thì quán về không đại, bỏ tất cả tưởng về đất, nước, gió, lửa. Hoặc quán về gió mà không quán về lửa, nước, đất… Tâm mình tưởng cái gì thì cái đó hiện ra mạnh mẽ. Tâm lực mạnh nên có thể điều khiển thân nhẹ nhàng bay như chim. Cũng có thể khiến các vật biến hóa, như ngày xưa mấy ông tiên tu biến đất thành vàng. Tại sao? Vì các ông có cái tưởng đặc biệt. Trong đất có chất vàng, khi tưởng bỏ tất cả các chất khác, chỉ tưởng chất vàng riết nó thành vàng. Như ở đây nói, có thể tưởng cây biến thành nước, lửa, gió hay là hư không hoặc vàng hoặc bạc… vì trong cây có đủ các chất. Người tu tập chỉ quán tưởng chất này, bỏ các chất kia thì lâu dần chất này hiện tiền. Như vậy dùng sức tưởng để tập thần thông chứ không có gì lạ.

Hiện nay người ta không cần tưởng cũng có thể bay đi được. Ngồi ở đây mà có thể nói chuyện cách nửa vòng trái đất, ngồi đây mà thấy bên kia có đá banh. Chúng ta có nhiều thần thông không cần tập. Chỉ cần tu tập cho tâm an định, trí tuệ sáng suốt, đó là điều cần thiết.

Tứ thiền có mười bốn thứ tâm biến hóa:

Sơ thiền có hai: 1- Sơ thiền, 2- Dục giới.

Nhị thiền có ba: 1- Nhị thiền, 2- Sơ thiền, 3- Dục giới.

Tam thiền có bốn: 1- Tam thiền, 2- Nhị thiền, 3- Sơ thiền, 4- Dục giới.

Tứ thiền có năm: 1- Tứ thiền, 2- Tam thiền, 3- Nhị thiền, 4- Sơ thiền, 5- Dục giới.

Còn các thứ thần thông khác như trong luận Ma-ha-diễn có nói rõ.

Những người tu đạt được từ Sơ thiền đến Tứ thiển đều có thần thông biến hóa.

Chúng ta thấy rằng, khi tu nếu vận dụng tâm chuyên nghĩ tưởng đến điều gì, thật nhiều thật kỹ, tâm sẽ có sức mạnh vô lượng biến hóa như ý mình. Bình thường chúng ta đặt nặng về thân, thân đòi cái này thân thích cái kia. Thân là cái bị sai sử, bị lệ thuộc vào tâm, chúng ta lại quên, cho nó là chủ. Người khéo tu phải nhận được tâm là chủ tạo tội tạo phước. Hành động của thân, lời nói của miệng đều từ tâm phát ra. Chúng ta phải tu ngay từ gốc, ứng dụng được gốc, ngọn sẽ tốt; nếu chỉ lo tu phần ngọn, kết quả không được như ý.

Nhân vấn đề này, tôi giải nghi cho một số Phật tử. Nhiều người cho rằng tu theo Phật là phải ăn chay, nhưng thấy các sư Nguyên thủy không ăn chay, vậy là sao? Chúng ta có cái lầm lẫn hơi cực đoan nên đâm ra cố chấp. Có những người ăn chay được thời gian rất lâu, đến nhà bạn bè đãi cơm thì tỏ vẻ khó chịu, cầm chén đũa ngửi chê tanh không ăn được. Như vậy cũng còn chấp hình tướng mùi vị. Mục đích ăn chay là để tránh tội sát sanh, không phải để chúng ta cho đó là việc đáng tự hào.

Thời Phật tại thế, ngài và chúng tăng đi khất thực, gặp người cúng thức ăn gì thì ăn thức đó, không thể chọn lựa. Nếu cho rằng Phật dạy cố định ăn chay hay ăn mặn, đều là chủ quan. Dùng thức ăn để tạm nuôi thân giả dối tạm bợ mấy chục năm này, điều quan trọng là trí tuệ giác ngộ. Trí tuệ là tâm, là gốc của tu tập. Trong khi tu, tâm chúng ta còn tham sân si hay không? Có sửa đổi được những tập khí xấu dở không? Có nuôi dưỡng và tăng thêm điều lành, tâm dần thuần thục thanh tịnh không? Đó là chủ yếu, là trọng tâm của người tu. Ăn chay hay ăn mặn không phải là cốt yếu. Sở dĩ chư tăng Bắc tông ăn chay vì khi Phật giáo truyền sang Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản, Đại Hàn…, các nước này không có truyền thống khất thực. Người xuất gia ở chùa phải tự nấu ăn, như thế ăn chay là hợp lẽ. Nhận xét chín chắn rồi chúng ta không bị lệ thuộc vào hình thức chay mặn mà sanh nghi.

Kinh Pháp Cú Phật dạy Tâm dẫn đầu các pháp , tâm có sức mạnh điều khiển cả con người và ngoại cảnh. Khi tu khéo định được tâm mình, chuyên nhất tâm mình thì tất cả khó khăn trở ngại chúng ta đều vượt qua. Ví dụ khi chúng ta quán ái dục là bệnh, ái dục là bất tịnh, là vô thường…, quán thuần thục rồi thì mình tự chán sợ ái dục, không bị nó chi phối. Tất cả tật xấu nhờ tu tập chuyên nhất mà dần dần dẹp trừ. Chúng ta có bệnh lười biếng, thích cầu xin lạy Phật cho con qua khổ nạn; sợ mình xin không linh lại nhờ thầy cô xin phụ tiếp. Thầy trò rủ nhau xin Phật mà không chịu tu. Nên nhớ chúng ta là người tu không phải là người xin.

Phật giáo là trí tuệ, trí tuệ không thể xin được. Chính người tu Phật phải tự chỉnh sửa mình, chuyển đổi vô minh thành trí tuệ. Vì vô minh nên gây tạo nghiệp dữ, đưa đến kết quả khổ đau. Muốn hết khổ đau thì tu sửa từ gốc. Không chịu tu sửa tâm tánh, cứ tha hồ tạo tội rồi lạy lục cầu xin Phật cho con hết khổ, đó là mê tín không phải trí tuệ.

Phật tử rất quý kính Phật, trước khi đi đâu đều đến trước bàn Phật thắp nhang nguyện gia hộ cho đi đường bình an. Nhưng ra ngoài gặp việc lại nổi nóng gây sự với mọi người, như vậy có bình an không? Phật cho bình an được không? Tại sao không nguyện ráng chừa bỏ nóng giận, chừa bỏ nóng giận thì bình an hiện tiền, lẽ thật là như thế. Học chỗ này, nhìn lại lời dạy của chư Phật chư tổ đều muốn chúng ta tu tập, thực hành các pháp thiền quán để cho tâm an định. Tâm an định mạnh mẽ có diệu dụng rộng lớn, không cần cầu xin nơi đâu.

V- TỨ NIỆM CHỈ

Đệ tử đức Thế Tôn học năm pháp môn, chí chỉ mong đạt được Niết-bàn. Có hai hạng người: Người ưa định nhiều, vì thích khoái lạc. Người ưa trí nhiều, vì sợ khổ hoạn. Người ưa định nhiều trước học pháp thiền, sau học Niết-bàn. Người ưa trí nhiều đi thẳng đến Niết-bàn. Người đi thẳng đến Niết-bàn là chưa đoạn được phiền não cũng chưa đắc thiền, chỉ chuyên tâm không tán loạn thẳng cầu Niết-bàn, vượt qua các thứ phiền não, ái v.v… ấy gọi là Niết-bàn.

Đây là mở đầu phần Tứ niệm chỉ. Năm pháp môn trước dạy người lập chí đạt Niết-bàn. Có hai hạng người cầu Niết-bàn: người ưa định nhiều vì thích khoái lạc, người ưa trí nhiều vì sợ khổ hoạn.

Tại sao người ưa định nhiều lại thích khoái lạc, người ưa trí nhiều lại sợ khổ hoạn? Vì người tu chuyên tâm để được an định, khi an định rồi có nhiều niềm vui. Như Sơ thiền ly sanh hỷ lạc, Nhị thiền định sanh hỷ lạc, Tam thiền ly hỷ diệu lạc… Vì thế nói người chọn thiền định là mong có niềm vui.

Người ưa về trí, tức là dùng trí quán chiếu các pháp đúng như lời Phật dạy. Vì sợ mê lầm rơi vào cảnh khổ, nên dùng trí chiếu phá mê lầm để hết khổ. Bên đây sợ khổ nên dùng trí quán, bên kia giữ tâm an định để được vui.

Người ưa định nhiều trước học pháp thiền sau học Niết-bàn. Pháp thiền là để định tâm, như dùng hơi thở tu tập sổ tức, tùy tức, chỉ, quán, hoàn, tịnh… lâu dài thuần thục tâm được an tịnh, sau mới học Niết-bàn. Niết-bàn là buông xả tất cả, không dính mắc các pháp hữu vi, pháp thế tục, tâm không khởi niệm thẳng đến vô sanh. Đó là định được Niết-bàn.

Người ưa trí nhiều đi thẳng đến Niết-bàn, tức là người trí thấy rõ các pháp giả dối tạm bợ nên không chấp giữ, không chạy theo, ngay đó được Niết-bàn. Người đi thẳng đến Niết-bàn là chưa đoạn được phiền não cũng chưa đắc thiền, chỉ chuyên tâm không tán loạn thẳng cầu Niết-bàn, vượt qua các thứ phiền não, ái v.v… ấy gọi là Niết-bàn.

Người trí đi thẳng đến Niết-bàn, tuy chưa đoạn phiền não, chưa đắc thiền nhưng chuyên tâm không tán loạn, tự nhiên vượt qua phiền não. Đó cũng là Niết-bàn.

Chúng ta thấy rõ hai lối tu. Có người tu định sâu, tâm thanh tịnh có những niềm vui, cũng đạt được kết quả mong muốn gần với Niết-bàn. Có người tu tuy tâm chưa định nhưng nhờ trí tuệ quán chiếu, thấy rõ tất cả pháp là hư giả, là bất tịnh…, tự mình xả ly không đa mang, không dính mắc, tự họ thẳng tới Niết-bàn. Tuy chưa sạch phiền não nhưng tâm không tham đắm thế gian, vì thế nói được Niết-bàn. Nói tổng quát như thế, sau đây nói từng phần.

  1. Thân niệm chỉ

Thân thật vô thường, khổ, bất tịnh, vô ngã mà điên đảo chấp thân là thường, lạc, tịnh, ngã. Do đó cho nên mọi việc đều đắm mến thân, ấy là hạng chúng sanh thấp tột. Hành giả vì muốn phá điên đảo nên tập Tứ niệm chỉ quán. Quán thân có rất nhiều thứ khổ hoạn từ nhân duyên sanh nên vô thường, các thứ não hại nên khổ, thân có ba mươi sáu vật nên bất tịnh, bởi không tự tại nên vô ngã. Tập quán như thế, quán trong thân, quán ngoài thân, quán cả trong và ngoài thân, ấy gọi là Thân niệm chỉ.

Phần đầu dạy quán Thân niệm chỉ. Nói chung thân thật vô thường, khổ, bất tịnh, vô ngã mà điên đảo chấp thân là thường lạc tịnh ngã , đó là hạng người thấp nhất. Chúng ta thử xét mình là hạng nào, hạng thấp tột hay thấp vừa? Nếu thấy thân mình sống lâu thường còn, thấy thân mình vui, thấy thân mình sạch sẽ, thấy thân mình thật thì đó là hạng chúng sanh thấp tột. Người nào thấy thân này là thật, cho rằng mang thân này là vui? Giả sử gặp điều buồn không vừa lòng, nhưng nghĩ mai mốt sẽ vui, mong mỏi chờ cái vui, tưởng mình sẽ vui không nói sẽ khổ. Thân này là nhơ nhớp, nhưng có ai dám nói đừng đi gần tôi, tôi nhơ nhớp lắm? Không nói vậy mà khi bị người chê mình hôi dơ còn nổi giận, không ngó mặt người đó. Chúng ta luôn cho mình vui khỏe, sạch sẽ tốt đẹp, không bao giờ chịu thấy mình khổ, dở xấu nhơ nhớp. Thân này không có cái ta thật, chúng ta có chịu nhận không? Nếu bị ai chọc tới thì vỗ ngực xưng tôi xưng ta liền. Người có đủ bốn điều này là chúng sanh thấp nhất. Kiểm tra lại, chúng ta sẽ biết mình thuộc hạng nào.

Phải tu thế nào để được làm chúng sanh hạng cao? Trong đây nói, hành giả vì muốn phá điên đảo nên tập Tứ niệm chỉ. Điên đảo là thân vô thường chấp thường, thân nhớp nhúa chấp là tịnh, thân khổ chấp là vui, thân không có ta thật chấp là ta. Phá được bốn thứ chấp lầm này chúng ta là người cao thượng tỉnh giác.

Phần thứ nhất nói, quán thân có rất nhiều khổ hoạn. Từ nhân duyên sanh nên vô thường, các thứ não hại nên khổ, thân có ba mươi sáu vật nên bất tịnh, bởi không tự tại nên vô ngã. Người biết tu phải quán chiếu như thế để trừ điên đảo. Điên đảo là lộn ngược, không đúng lẽ thật, như vật gì đúng mà cho là sai, sai mà cho là đúng. Thân này có đủ bốn tính chất vô thường, bất tịnh, khổ, vô ngã, chúng ta đảo ngược lại cho nó là thường tịnh lạc ngã. Đó là hạng chúng sanh thấp nhất, nên tất cả suy nghĩ chấp trước điên đảo. Gốc đã điên đảo rồi, tất cả cái khác đều điên đảo theo. Phải hiểu cho thấu đáo lẽ thật này để không lầm mê.

Trước tiên quán thân vô thường. Phật chỉ dạy chúng ta nhận chân được lẽ thật vô thường của thân để trở thành người giác ngộ. Phật giác ngộ viên mãn, chúng ta là đệ tử Phật ít ra cũng phải giác được phần nào. Biết thân này là vô thường không lâu dài, là đã bớt mê lầm, là thấy đúng lẽ thật. Có ai bảo đảm được mạng sống của mình tới đâu không? Ngày nay còn sống, ngày mai chưa chắc. Đức Phật nói mạng người trong hơi thở. Thở ra không hít vào thời gian bao lâu? Thật là quá vô thường. Thấy được như thế là thấy đạo, thấy đúng lẽ thật. Chúng ta quán xét tường tận lẽ thật này gọi là biết tu.

Người thấy thân mình vô thường, mạng sống trong hơi thở thì có còn tranh giành hơn thua phải quấy không? Có còn tham danh lợi không? Thân mình mỏng manh quá tham danh lợi làm gì? Không tham thì không sân, không phiền não. Nhờ tỉnh giác nên bớt khổ, bớt chấp đắm vào thân, không suy tính kế lâu dài, sắp đặt đời sống trường thọ, sự nghiệp miên viễn. Quán xét đúng về thân, thấy con người vô thường, thế giới vô thường không phải khiến chúng ta bi quan. Người biết quán xét đúng lẽ thật, có trí tuệ tỉnh giác luôn quán chiếu bản thân mình, không bị tham sân phiền não lôi kéo, luôn nỗ lực tu để thoát khổ, lợi ích rất lớn.

Quán thân này là khổ. Tất cả những cảm giác chúng ta lãnh thọ là khổ hay là vui? Phần sau tôi sẽ giải thích kỹ.

Đến quán thân bất tịnh. Kinh Phật dạy thân này có ba mươi sáu vật bất tịnh, kể ra gồm các thứ tóc, lông, răng, móng, da, thịt, gân, xương… cái nào cũng hôi dơ. Gần nhất như cái răng, khi còn trong hàm có sạch không? Mỗi ngày đều phải súc miệng đánh răng để không đóng bợn dơ. Khi nhổ răng ra, chúng ta có cầm ngắm hay liệng bỏ? Răng của mình mà đem ra khỏi miệng đã thấy gớm rồi. Mỗi thứ xem xét kỹ không có thứ nào sạch. Da thịt còn lành lặn thì tương đối được, nếu có ghẻ lở ung nhọt máu mủ thì ai cũng gớm. Như thế rõ ràng thân này là túi chứa đựng đồ bất tịnh.

Thân nhớp nhúa mà cho là sạch, đó là tưởng tượng sai lầm, vì thế nói là điên đảo. Chúng ta tu phải thấy cái thật ngay bản thân mình, thấy cho tường tận là khéo tu. Thấy tường tận rồi thì mọi tham đắm về thân mình thân người đều không còn. Đức Phật lúc sắp thành đạo, ma vương cho đám mỹ nữ hiện ra trêu ghẹo, ngài bảo: “Đi! Đãy da hôi thối.” Nói theo hiện đại thì thân này như cái bô đậy kín chứa toàn vật dơ, dù bên ngoài sơn vẽ đủ màu cũng không cho là quý được. Biết thân này như cái bô dơ, như đãy da hôi, tất cả niệm tham đắm sắc dục đều không còn. Như trong phòng mình có một cái bô đã thấy gớm rồi, nếu có thêm hai ba cái nữa thì chịu hết nổi. Như vậy còn gì mà tham đắm.

Quán xét theo lời Phật dạy không phải trên trí tưởng tượng mà là xét đúng như thật. Lẽ thật đó lâu nay chúng ta không thấy, nó sẵn có như vậy nhưng vì điên đảo mê muội nên lầm chấp quý trọng thân. Thấy được lẽ thật này thì hết điên đảo mê muội, chúng ta đã giác, giác ít hay nhiều mới là người tu Phật. Phật không dạy chúng ta cầu xin, ỷ lại nơi thần quyền. Phật dạy tu là tự tin mình để chuyển đổi. Nếu chúng ta không biết áp dụng lời Phật dạy để tự trị bệnh của mình, cứ mang tâm ỷ lại trông cậy vào Phật, như thế là không hiểu đạo Phật, dù đi chùa nhiều năm cũng không giác ngộ, không dứt trừ phiền não.

Điều tôi rất lo cho Phật giáo ngày mai là tăng ni Phật tử không đặt nặng vấn đề tu tập, mà đặt nặng vấn đề cầu xin. Phật giáo là giáo pháp dạy người giác ngộ, tu tập trí tuệ để thấy đúng lẽ thật, sống đúng lẽ thật. Chúng ta không làm đúng lời Phật dạy, không quán sát lẽ thật nơi thân mình, một bề hướng bên ngoài cầu Phật ban phước. Nếu ngài ban phước giáng họa thì chúng sanh đều bình đẳng, giàu thì giàu hết, nghèo thì nghèo hết. Nhưng Phật không tự nhận mình là thần linh có quyền cho người đời cầu xin toại ý. Chúng ta mang danh con Phật mà không hiểu ý Phật, không tự tin, không chuyển sửa được nghiệp của mình. Đây là tai họa lớn, tôi nhắc nhở để tăng ni Phật tử cẩn thận.

Tóm lại, người nặng về bệnh ái dục luôn quán thân bất tịnh, chia chẻ từng phần từ đầu đến chân, thấy nó nhơ nhớp rồi tự mình hết bệnh. Đây nói quán trong thân, quán ngoài thân, quán trong và ngoài thân, nghĩa là quán trong thân mình có ba mươi sáu vật nhơ nhớp, quán thân người cũng có ba mươi sáu vật nhơ nhớp, biết thân mình tột cùng như vậy, thân người cũng vậy, xét tới xét lui tâm nhiễm ái không còn, đó là đặc biệt tự trị. Tu Phật là dùng thuốc để trị tâm bệnh sai lầm, không luyến ái thân mình thân người. Pháp quán thân này nên tin hiểu tường tận và tu tập lâu bền, dứt được nhiều gốc khổ.

  1. Thọ niệm chỉ

Phần thứ nhất quán thân đã xong, dứt trừ sự đắm mến thân, đến phần thứ hai quán thọ để dứt trừ sự đắm mến về cảm thọ. Thọ là những cảm giác của chúng ta đối với sáu trần bên ngoài, cảm giác vui, cảm giác khổ, cảm giác không vui không khổ.

Thật tướng của thân là thế, tại sao lại khởi điên đảo đắm mến thân này? Chín chắn suy xét cái thọ vui là do yêu thích quá mạnh khởi chấp, thật sự không có gì là vui. Tại sao không vui? Vì nhân ăn mặc nên vui, nhưng vui qua thì khổ đến, không phải thật là vui.

Cảm thọ của thân không có gì thật là vui, chỉ vì thỏa mãn sự bức bách đòi hỏi của nó mà vui. Như chúng ta đi đâu xa không đem theo lương thực, khi bao tử trống đói, lúc đó là vui hay khổ? Vì đói quá nên khó chịu. Nếu được cho một chén cơm, một khúc bánh mỳ, chúng ta nhai ngấu nghiến rồi khỏe lên. Như vậy có phải là cái vui thật không? Bình thường lúc bụng no, có bánh mì, cơm ăn… chúng ta không thấy vui như lúc đói được ăn. Vui qua rồi thì sao? Vui rồi cũng hết. Giả sử ai đó được người mời đến tửu lầu dự tiệc tùng no nê, lúc ăn tiệc thì vui, nhưng hôm sau không đi tiêu được thì vui hay khổ? Khi đem vô thì vui, cho ra không được thì khổ, không có gì thật vui hết. Khổ và vui đắp đổi nhau mà chúng ta cho đó là vui. Nên đây nói: Tại sao không vui? Vì nhân ăn mặc nên vui, nhưng khi vui qua thì khổ đến, không phải thật là vui. Xét kỹ chúng ta thấy cảm thọ là giả tạm.

Như bị ghẻ hành đau nhức là khổ, lấy thuốc xoa hết đau là vui.

Chúng ta có thân bị ghẻ hành đau nhức thì khổ, khi có thuốc xoa vào hết nhức gọi đó là vui. Như vậy cái vui có thật không? Chỉ là bớt khổ tạm vui không có gì quan trọng.

Do cái khổ lớn qua còn cái khổ nhỏ là vui, không phải thật vui. Lại nữa cái khổ cũ là khổ, cái khổ mới là vui, như người gánh vai này nặng đổi qua vai khác mới vừa nặng là vui, không phải thật thường vui. Như tánh lửa là nóng không có khi tạm lạnh, nếu là thật vui chẳng nên có không vui.

Cái khổ lớn qua còn cái khổ nhỏ, lúc đó mình cho là vui. Ví dụ người bệnh đang đau bụng nhào lăn, có thuốc cho uống vào hết hành, hết nhào lăn nhưng còn đau âm ỷ ở trong. Tuy còn đau nhưng không hành nặng như ban đầu, lúc đó gọi là vui. Cũng như người gánh nặng đi đường, vai này nặng quá trĩu xệ xuống, đổi qua vai khác vừa chớm nặng thì thấy còn vui. Cũng là gánh nặng đó nhưng đổi vai này qua vai kia. Khi mới đổi thấy dễ chịu là vui, mình tưởng có cái vui thật, nhưng rốt cuộc không có. Như lửa nóng thì cứ nóng hoài, nếu vui có thật thì không có khi nào không vui.

– Khi thấy việc ấy là nhân duyên vui mà chưa hẳn là vui. Vì có khi là nhân vui, có khi là nhân khổ. Nếu thích hợp với tâm yêu thích là vui, nếu hợp với tâm giận tức là khổ, nếu hợp với tâm mê muội thì không khổ không vui. Lấy đó mà suy thì biết chắc có vui và không vui?

Đây đặt câu hỏi: Ông nói rằng không có cái vui thật, nhưng tôi cho rằng cái gì thích hợp với tâm mình thì vui, cái gì ngược với tâm mình thì khổ. Giờ đây có cái thích hợp thì phải nói là vui thật, có cái trái ngược hẳn thì phải có khổ thật. Lập luận như vậy để chứng tỏ thật có lạc thọ, khổ thọ.

– Không phải thế. Như dâm dục cũng không phải là vui. Tại sao? Vì nếu dâm dục tự thành thì không cần tìm nữ sắc, đã tìm nữ sắc tất nhiên là khổ. Nếu dâm là vui thì phải không có khi chán, mà đã có lúc chán tức không phải là vui. Bởi trong cái khổ lớn được cái khổ nhỏ cho là vui. Như người bị tội tử hình, được ân xá tử hình chỉ phạt đòn cho là vui. Lửa dục tâm thiêu đốt quá khổ nên hành dâm cho là vui. Nhưng khi tuổi già chán dục, thì biết dục không phải là vui. Nếu thật vui lẽ ra không có khi chán. Các nhân duyên như thế, biết thật tướng của dục lạc không thể được, khi hết vui thì sẽ khổ, Phật dạy: “Cái vui tột nên quán là khổ, cái khổ tột nên quán là vui, như tên bắn vào thân, cái không khổ không vui nên quán sanh diệt vô thường.”

Dẫn lời Phật dạy để giải thích rõ, Cái vui tột nên quán là khổ, cái khổ tột nên quán là vui… Tại sao? Gần nhất, như trong khi bụng đói thèm ăn mà được đãi một bữa cơm thịnh soạn đủ cao lương mỹ vị, vì đói nên ăn quá no, khi ăn rất vui, càng ăn càng thấy vui, nhưng lỡ ăn quá no thì sau đó khổ. Bụng ấm ách, đi đứng không được. Như vậy cái vui tột là khổ, không có vui thật. Chưa được là khổ, được nhiều quá cũng khổ.

Cái khổ tột nên quán là vui. Khi bị cảnh khổ sở cùng cực thì nên biết rõ, cái khổ sở cùng cực đó rồi sẽ qua. Qua hết là vui, không còn hoài còn mãi. Như lúc bị mũi tên bắn vào thân, đó là khổ tột. Nhưng chưa cùng tột, lúc được mổ lấy mũi tên ra là khổ tột. Mũi tên lấy ra được rồi thì nhẹ nhàng hết khổ. Phật dạy nên quán cái khổ tột là vui, hết khổ được vui, còn cái vui tột cũng là khổ. Như vậy thì có nên ham vui sợ khổ không? Vui không thật có gì mà ham, khổ không thật rồi cũng qua có gì mà phải sợ. Tâm lý chúng sanh thích vui sợ khổ nên Phật dạy pháp đối trị.

Đối với thọ khổ thọ vui nên quán như thế, còn đối với cảm thọ bình thường không khổ không vui nên quán tất cả đều sanh diệt biến đổi vô thường. Như vậy khổ vui đều không thật, không khổ không vui cũng thay đổi vô thường không thật, sống trên đời này chúng ta còn tìm kiếm gì? Tìm vui mà vui không thật, gặp khổ cũng không thật, không khổ không vui cũng không thật. Ba cảm thọ này rốt cuộc không quan trọng, không đáng để bận tâm tìm cầu thích thú hay chán ghét. Ba trường hợp này chúng ta đều quán xét thật kỹ, không bị cảm thọ chi phối, không lầm lẫn cho nó thật có, không chạy theo cảm thọ sanh yêu ghét.

  1. Tâm niệm chỉ

Phải biết tâm thọ khổ lạc, thọ không khổ không lạc. Thế nào là tâm? Tâm ấy vô thường từ nhân duyên sanh, sanh diệt không dừng tương tự như có, bởi vì điên đảo cho nó là một, kỳ thật xưa không nay có, đã có trở lại không, thế nên vô thường. Quán biết tâm là không. Thế nào là không? Từ nhân duyên sanh nên có mắt, có cảnh thấy biết được. Do sự muốn thấy hòa hợp với các nhân duyên ấy, sanh ra cái biết của mắt. Như hạt châu Nhật Ái, có châu, có mặt trời và bổi, các duyên hòa hợp sanh ra lửa. Tìm từng nhân duyên một không thể thấy lửa, nhưng hợp các duyên lại thì có lửa. Cái biết của mắt cũng thế, không phải ở trong con mắt, không phải ở ngoài cảnh, cũng không phải ở giữa chừng con mắt và cảnh, không có chỗ ở mà cũng không phải là không.

Phần thứ ba, tu tập Tâm niệm chỉ, tức là quán tâm vô thường, tâm là không.

Tâm là cái biết cảm thọ vui, cảm thọ khổ, cảm thọ không khổ không vui. Tất cả cái biết ấy là tâm, tâm ấy vô thường từ nhân duyên sanh, sanh diệt không dừng tương tự như có , vì điên đảo nên chúng ta lầm cho nó là tâm duy nhất, kỳ thật xưa không nay có, đã có trở lại không, thế nên vô thường.

Chúng ta tưởng rằng cảm giác của mình là thật, khổ thật khổ, vui thật vui, vì thế ai cũng sợ khổ, thích vui. Nhưng cái vui cái khổ có thật không? Nếu cảm giác khổ là thật thì chắc khổ suốt đời, cảm giác vui là thật thì chắc vui suốt đời. Đây Phật dạy tâm biết khổ vui ấy là vô thường tùy duyên. Khi gặp việc xúc chạm ta thấy nó là vui, hoặc thấy nó là khổ. Cái vui cái khổ đó khi duyên hợp thì có, duyên ly tán thì không, có thật đâu. Vui khổ không thật, tâm biết vui khổ không thật tùy duyên mà có, tùy duyên mà mất, tâm này vô thường tạm bợ không chắc thật lâu bền. Như người thích đi xem hát, khi được tới rạp hát lúc đó rất vui. Nhưng lúc mãn hát đi về còn vui không? Hết duyên thì hết vui. Quán xét cái vui như thế, cái khổ cũng vậy. Từ mắt tai mũi lưỡi thân của chúng ta xúc chạm sanh ra vui khổ chút thôi rồi qua, qua là hết. Vui khổ không thật, tâm biết vui khổ cũng vô thường. Người không biết, tham đắm đến say ghiền vì cứ ngỡ nó là thật. Chúng ta phải quán tất cả tâm vui khổ chỉ là tạm bợ vô thường, tạm có điên đảo theo duyên. Pháp quán này gần với pháp môn tri vọng.

Kế đến quán tâm khổ vui là không. Thế nào là không? Từ nhân duyên sanh nên có mắt có cảnh thấy biết được. Như khi nhìn bình hoa, cảnh ở ngoài có bình hoa, nơi thân có con mắt. Mắt đối chiếu với cảnh từ đó sanh phân biệt đẹp xấu. Đẹp thì vui, xấu thì ghét. Ghét thì khổ. Cái vui khi nhìn thấy bình hoa không phải tự có mà phải đợi ba điều kiện. Một là có bình hoa, hai là có con mắt, ba là bình hoa đẹp. Cái vui này không có thật, đủ duyên thì vui, hết duyên thì mất. Quán xét rõ ràng như thế biết rằng tâm cảnh đối nhau mới có cảm thọ, tâm cảm thọ ấy vốn là không, nếu thật có thì không đợi nhân duyên.

Biết rõ cảm thọ từ nhân duyên sanh không thật nên không lầm chấp đắm mến. Trong đây dùng ví dụ như có hạt châu Nhật Ái, hay là kính lấy lửa, kế đó có bổi, ánh nắng mặt trời, ba cái hòa hợp, bổi sẽ cháy. Xưa người ta lấy lửa như vậy. Lửa đó có thật không? Tìm trong mặt trời, trong kính, trong bổi không có lửa. Đợi duyên mới có thì đâu có thật. Cũng như vậy, cái vui cái khổ đến với chúng ta là đủ duyên mới có, không duyên không có. Tâm biết vui biết khổ là thật có hay không thật có? Tâm duyên theo cảnh, cảnh vô thường, khổ vui vô thường, tâm cũng vô thường. Chủ yếu pháp quán thứ ba dạy chúng ta biết tâm vô thường để không lầm chấp, không quan trọng tâm cảm thọ.

Thế nên Phật dạy: “Tâm như huyễn như hóa, tâm hiện tại quán tâm quá khứ hoặc khổ hoặc vui hoặc không khổ không vui, mỗi tâm đều khác, mỗi tâm tự diệt. Tâm có dục, tâm không dục cũng như thế, mỗi tâm đều khác, mỗi tâm tự diệt. Quán nội tâm, ngoại tâm, cả nội ngoại tâm cũng như thế, ấy gọi là Tâm niệm chỉ.”

Phật dạy chúng ta tâm khổ tâm vui đó như huyễn như hóa không có thật. Bởi sao? Tâm hiện tại quán tâm quá khứ hoặc khổ hoặc vui hoặc không khổ không vui, mỗi tâm đều khác mỗi tâm tự diệt. Như buổi sáng chúng ta gặp cảnh vui hoặc khổ, khi ngồi xét lại, tâm nhận vui biết khổ đó bây giờ đã qua rồi. Tâm vui khi sáng mất, tâm khổ khi sáng cũng mất, nếu còn chỉ là dư âm thôi, thực tế không còn tâm như buổi sáng đã nghĩ. Tâm trước tâm sau luôn luôn đổi thay, luôn luôn khác. Tâm tham muốn hay tâm không tham muốn…, mỗi tâm mỗi khác. Quán tâm mình tự sanh tự diệt, quán tâm người tự sanh tự diệt không có thật, như vậy chúng ta không chấp tâm.

Người lầm chấp tâm thật có thì dễ bị gạt. Khi gặp người làm mình vui, cho người đó là dễ thương nên nhớ hoài. Gặp người làm mình khổ, cho là dễ ghét nên thù giận. Cái vui cái khổ đã qua mất rồi mà cứ ôm tâm nhớ, ôm tâm thù ghét có đúng chân lý không? Người biết tu, biết quán xét thì cái gì qua cứ cho qua, mọi việc qua rồi tốt hết, không có gì phải bận lòng.

Nếu cho rằng người dễ thương hay dễ ghét là thật, tâm ôm giữ tìm cầu hoặc giận tức, đó là chúng ta đang ôm giữ những cái bóng thừa trong tâm. Vì giữ quá nhiều hình ảnh nên kết thành nghiệp, thương người nào nhiều kết lại thành nghiệp ái, ghét giận người nào nhiều kết thành nghiệp oán. Có ái có oán nên sau khi chết nghiệp dẫn đi tìm ai? Tìm người mình thương đến kết thân, tìm người ghét trả thù, sanh tử không dừng. Biết đó là giả, không bận tâm không chất chứa thương ghét trong lòng, dù không tu mà suốt ngày thảnh thơi, tự nhiên hết khổ.

Hiểu được như vậy rất dễ tu. Quán tâm vui tâm khổ đều vô thường hư giả không thật, chúng ta không chấp giữ nên an lạc tự tại. Người nào cố giữ cố chấp tâm hư giả thì khổ suốt đời, trầm luân sanh tử không biết chừng nào dứt. Người tu phải làm sao? Phải loại bỏ những bóng dáng tích lũy kết nghiệp ấy. Ai có lỡ chửi mình hôm qua, nhớ chửi cũng giả dối không quan trọng, mình bỏ qua, sau gặp lại người đó vẫn cười. Hiện tại chúng ta không tích chứa thành nghiệp oán thù, như vậy hết sức nhẹ nhàng. Hiểu lời Phật dạy, áp dụng pháp quán tâm niệm chỉ, chúng ta giải tỏa những nghiệp khổ đời này và những đời sau.

  1. Pháp niệm chỉ

Quán tâm thuộc về cái gì. Quán tưởng tượng suy xét, nhớ nghĩ, mong muốn v.v… các thứ tâm sở tương ưng và không tương ưng, tìm thật kỹ coi cái gì là chủ. Cùng tột không thể có chủ. Tại sao? Vì từ nhân duyên sanh nên vô thường, vô thường nên khổ, khổ nên không tự tại, không tự tại nên không chủ, không chủ nên không.

Phần thứ tư là quán Pháp niệm chỉ, theo danh từ ngày xưa gọi là quán pháp vô ngã . Pháp có hai phần, tâm pháp và sắc pháp. Quán pháp vô ngã là quán tâm pháp vô ngã, quán sắc pháp hay sắc thân này vô ngã. Vô ngã tức là không có chủ.

Đây dạy rõ, chúng ta quán xét tất cả các tưởng tượng, suy tư, nhớ nghĩ, mong muốn… các thứ tâm sở tương ưng và không tương ưng, tìm thật kỹ trong đó cái gì là chủ, tìm cho cùng tột không thể có chủ. Đó là quán về tâm pháp.

Các thứ tâm buồn thương giận ghét… có chủ không? Nó dấy lên rồi mất, không có thật thể. Đang buồn rồi giận, đang giận rồi ghét, đang ghét rồi thương, đổi thay luôn luôn. Từ sáng tới chiều chúng ta có một tâm duy nhất hay nhiều tâm? Nếu đổi thay luôn luôn thì tâm nào là chủ? Tâm vui là chủ hay tâm buồn là chủ, tâm giận ghét là chủ hay tâm thương yêu là chủ? Xét kỹ, không tâm nào thật có, chỉ theo duyên, gặp duyên thuận thì vui, duyên nghịch thì buồn… Đã tùy duyên thì không thật, không có chủ thể.

Tâm đã không thật tại sao lại cho nó là mình? Chúng ta nói “nay tôi giận quá”, “hôm nay tôi vui quá”… tự xưng như vậy là tự nhận vui buồn… là tôi. Tôi tức là chủ, có khi nào nói tôi là cái bên ngoài không? Nếu mỗi tâm vui buồn giận ghét… đều là chủ, thì chúng ta có rất nhiều ông chủ, chủ nào là thật? Xét kỹ cuối cùng chủ không có. Tất cả tâm niệm chỉ tạm bợ tùy duyên không thật, không quan trọng, chúng ta không theo nó, tâm khởi lên liền bỏ, bỏ qua liền hết. Tu thiền là để dẹp hết những tâm vọng tưởng này, chúng là những cái bóng của quá khứ còn sẵn bên trong, gặp duyên liền trồi lên. Mỗi khi trồi lên chúng ta dẹp bỏ, bỏ dần cho tới khi không lăng xăng khởi vọng chạy theo bóng, là được định. Hết vọng thì hết nghiệp, khi nhắm mắt không còn gì kéo lôi, được tự tại giải thoát.

Chúng ta tu theo Phật, biết rõ giải thoát không phải do ai cứu giúp đón rước mình, mà do chính mình không còn tạo nghiệp. Muốn hết nghiệp thì phải xả tất cả tâm buồn thương giận ghét, không chấp giữ dính mắc bất cứ tâm vọng nào. Vì thế, Phật cố nhắc nhở chúng ta biết tất cả những tâm đó đều là vô thường. Bởi vô thường nên nếu mình theo đuổi chấp giữ nó là khổ, khổ thì không được tự tại, không tự tại nên không có chủ. Quán sát kỹ cả thân tâm đều hư giả, không có thật thể, không chủ nên vô ngã. Thấy vô ngã là thấy Niết-bàn.

Trước quán riêng thân thọ tâm pháp không có. Đoạn này quán trong Tứ niệm chỉ không có chủ, rời nó tìm chủ cũng không thể có. Nếu nói thường không được, vô thường cũng không được. Nếu là thường phải thường khổ hoặc thường lạc. Nếu nói thần ngã là thường thì giết hại người không có tội và Niết-bàn cũng không.

Ngoại đạo Ấn Độ chấp trong thân chúng ta có thần ngã thường hằng bất biến. Như quan niệm thông thường chấp có linh hồn bất tử, nếu thân này hoại, linh hồn đi thọ thân khác, thân khác hoại linh hồn đi thọ thân khác nữa. Nếu linh hồn là bất tử, thì khi người ta giết thân này có tội không? Chết thân này là đồ bỏ, linh hồn còn nguyên đi đầu thai chỗ khác, không giết được linh hồn. Vì thế nói có thần ngã thì giết người không có tội. Lối chấp này không đúng lẽ thật.

Phật không chấp nhận có linh hồn hay có thần ngã, chỉ nói rằng tâm chúng ta do mê lầm nên theo duyên. Duyên là cảnh bên ngoài, cảnh có tốt xấu nên tâm có vui buồn… Tâm vui buồn này không thật, chỉ là những cái biết do duyên hợp thì có, duyên tan thì không. Đã không thật thì không nên chấp. Nếu cho rằng có linh hồn, có thần ngã là A, khi chết thân này rồi thì linh hồn A sanh nơi khác, cứ tiếp tục từ đời này tới đời kia. Chấp như vậy rất sai lầm. Tại sao? Nếu linh hồn không đổi thay thì tu hay không tu nó cũng y nguyên không mất, không đổi thay. Nên đây nói, nếu là thường phải thường khổ hoặc thường lạc, nếu thần ngã là thường thì giết người không có tội và không cần tu tiến đến Niết-bàn.

Tâm thức của chúng ta là một dòng sanh diệt luôn thay đổi. Như trẻ con gần những đứa côn đồ, chơi và tập nhiễm những thói xấu, về sau nó cũng trở thành côn đồ. Ngược lại, nếu nó ở trong xóm toàn những đứa trẻ ham học hiền lành, nó có bắt chước ham học hiền lành không? Nếu là linh hồn nguyên vẹn thì không đổi thay, như vậy là như vậy. Còn trước nó chưa có tâm ác mà gần người ác nó biến thành ác, trước chưa có tâm hiếu học mà gần người hiếu học thì nó bắt chước hiếu học, như vậy là đổi thay. Đổi thay thì không phải là nguyên vẹn duy nhất. Nói thần ngã, linh hồn là nói đến cái nguyên vẹn duy nhất. Ví dụ người đó đời này thông minh thì đời sau cũng thông minh, người đó đời này ngu tối thì đời sau cũng ngu tối. Chấp có thần ngã hay linh hồn là do người xưa tưởng tượng không đúng sự thật. Phật chỉ cho chúng ta thấy rõ đó là cái chấp lầm mê.

Dòng tâm thức chuyển biến luôn luôn nên chúng ta cần huân tập những cái hay, tránh những cái dở. Đó là ý nghĩa của chữ tu. Tâm có sức huân tập nên chúng ta tu, huân những đức tánh tốt, trừ bỏ những cái xấu. Dần dần chúng ta trở thành tốt, được nhẹ nhàng thảnh thơi, đi theo con đường chư Phật chư Bồ-tát. Nếu huân tập những cái xấu dở, chúng ta bị nặng nề khổ đau đi tới chỗ dở xấu. Khổ vui đều có sự huân tập của chúng ta. Cũng như có người biết sinh ngữ, có người không biết. Tại sao? Đâu phải khi cha mẹ sanh ra là biết sinh ngữ, do học rồi biết, còn người nào không học thì không biết, đó là lẽ thật. Do mình chứ không phải trời định sẵn, không phải linh hồn chứa đủ trong đó. Nhà Phật gọi là tâm thức, nó đổi thay luôn luôn, vì vậy mà chúng ta phải tu. Tu để huân điều tốt, loại điều xấu, nếu không như vậy thì tu làm gì?

Nếu thân là thần ngã, khi thân diệt thì thần ngã cũng phải diệt, thế thì không có đời sau, không có tội phước. Khắp quán như thế, thấy hoàn toàn không có chủ. Các pháp vốn là không, không có tự tại, do nhân duyên hòa hợp nên sanh, nhân duyên tan hoại nên diệt. Quán nhân duyên hợp thành pháp gọi là Pháp niệm chỉ.

Trước là lý luận thần ngã khác thân, thân diệt thần ngã không diệt. Đây lý luận nếu thần ngã là thân, thân diệt thần ngã cũng diệt. Đây là chấp đoạn, cho rằng chết là hết cũng không cần tu tập. Như vậy quán xét tột cùng các pháp không cố định, không có chủ. Các pháp tùy theo duyên, không thật, quán nhân duyên hợp thành các pháp, biết hết thảy đều vô ngã, không chấp có chấp không, thân và cảnh đều không dính mắc. Đây là thực hành quán Pháp niệm chỉ.

Nếu hành giả được Pháp niệm chỉ, nhàm chán thế gian là không, già, bệnh, chết, thật không có một chút thường lạc ngã tịnh. Ta đối với pháp không này, còn mong cầu cái gì?

Chúng ta tu Pháp niệm chỉ này, quán nội tâm không thật, quán thân mình tứ đại hòa hợp không thật. Quán thành tựu rồi khởi tâm nhàm chán thế gian là rỗng không, không có chút gì thường lạc ngã tịnh. Như vậy đối với pháp không thật này có gì mà mong cầu.

Chi bằng vào Niết-bàn trụ trong pháp tối thiện. Do sức cố gắng tinh tấn được thâm Xá-ma-đà (trụ tâm một chỗ). Khi được Xá-ma-đà trụ trong Pháp niệm chỉ thứ tư, quán các pháp đều khổ không vui, không vui là sự thật nếu nói khác tức là vọng ngữ. Khổ là nhân các thứ phiền não ái v.v… và nghiệp mà sanh, không phải trời, thời, ma v.v… các thứ dối gạt ấy gây ra.

Đây là chỗ chúng ta phải nhận xét cho chín chắn. Khổ vui là do duyên hợp mà có. Tất cả đều do mình, nếu tạo duyên nghiệp ác thì khổ đến, tạo nghiệp duyên lành thì vui đến, không phải do ai làm ra. Tự mình làm chủ cuộc đời mình, không phải do trời định, không phải là thời, không phải là ma… làm ra. Thấy rõ rằng nếu tạo nghiệp lành thì chúng ta được sanh trong cảnh giàu sang sung sướng. Tạo nghiệp dữ thì sanh trong cảnh khổ đau, bệnh hoạn tật nguyền. Ở Ấn Độ có giáo phái chủ trương Phạm thiên tức là Trời, là cái ban đầu sanh ra tất cả. Hoặc có chủ trương do Thời sanh, do Ma vương sanh, khiến chúng sanh bị phiền não khổ vui… Những lời nói ấy đều dối gạt không thật.

Phiền não và nghiệp ấy tạo ra cái khổ này. Khi nhập Niết-bàn tất cả khổ này đều dứt sạch. Không phải Sắc giới, Vô sắc giới và thế giới thủy (ngoại đạo cho cái ban đầu tạo ra tất cả sự vật là thế giới thủy) v.v… các thứ dối gạt ấy hay diệt được khổ.

Do phiền não và nghiệp tạo ra khổ, nếu giải tỏa hết nghiệp, hết phiền não thì nhập Niết-bàn, tất cả khổ dứt sạch. Chính mình tạo nghiệp chịu khổ thì cũng chính mình dứt phiền não dứt nghiệp, hết khổ được vui. Không phải sanh lên cõi trời Sắc giới hay Vô sắc giới… mà được diệt khổ. Các thứ dối gạt như thế không diệt được hết khổ.

Như chúng ta tu thập thiện thì được sanh lên cõi trời Dục giới. Có người mơ ước được sanh lên cõi trời muốn ăn có ăn, muốn mặc có mặc rất sung sướng, lên trời hết khổ. Phật dạy chúng ta tu thập thiện chỉ để diệt nghiệp ác, không cầu sanh lên trời. Tại sao? Vì thế gian này tuy là chỗ khổ nhưng là nhân để chúng ta thức tỉnh biết tu. Còn sanh về cõi trời thì được sung sướng đủ hết mà khó tu. Cứ thụ hưởng hết cái vui này đến cái vui kia, luôn luôn ăn uống ca nhạc suốt ngày đêm, không có chút buồn khổ nên quên tu. Thụ hưởng đến cuối cùng hết phước thì bị đọa cũng còn luân hồi.

Có hai thái cực, chúng sanh tạo nghiệp ác phải đọa xuống địa ngục khổ quá cũng không tu được, chúng sanh làm phước được sanh lên cõi trời sướng quá cũng không tu được. Ở trong cảnh quá khổ đã là khổ rồi, cảnh vui mà không thoát ra được cũng là khổ. Vì vậy chúng ta không mong muốn sanh ở bất cứ nơi nào, chỉ phải tự mình tìm nguyên nhân thoát khổ.

Bát chánh đạo, chánh kiến v.v… là lối vào Niết-bàn; không phải chúng ngoại đạo tu các thứ khổ hạnh, không trì giới, không thiền định, không trí tuệ mà vào được Niết-bàn. Vì sao? Vì trong Phật pháp đồng tu ba pháp giới định tuệ mới được vào Niết-bàn. Ví như người đứng chỗ đất bằng, có cung, tên tốt mới bắn chết bọn giặc thù. Giới dụ chỗ đất bằng, thiền định dụ cung tốt, trí tuệ dụ tên nhọn, ba việc đầy đủ hay giết được bọn giặc phiền não. Bởi thế nên chúng ngoại đạo không thể được Niết-bàn.

Muốn được Niết-bàn, chúng ta phải tu ba pháp giới định tuệ. Không như ngoại đạo chủ trương tu khổ hạnh, không có giới định tuệ mà được Niết-bàn. Còn ở trong sanh tử, dù ở cõi trời cũng là khổ. Như những người nhà giàu, hưởng dục lạc mà thấy có vui không? Họ cũng chán, cũng tự tử như bao nhiêu người khác. Để thấy lối lập luận khổ hạnh cầu sanh cõi trời của ngoại đạo là vô lý.

Tóm lại, tu bốn pháp quán này gọi là Tứ niệm xứ. Một là quán thân bất tịnh là thân nhơ nhớp. Hai là quán cảm thọ là đau khổ, vì nó là vô thường. Ba là quán tâm vô thường như huyễn như hóa. Bốn là quán pháp vô ngã. Pháp là thân sắc pháp và tâm pháp. Quán chung thân và tâm đều không có chủ. Đó là Tứ niệm chỉ hay Tứ niệm xứ. Trong kinh, Phật dạy người khéo tu Tứ niệm xứ, nếu cột tâm trong Tứ niệm xứ không đổi dời đến bảy ngày, người đó sẽ chứng quả A-la-hán. Người nào chỉ có sáu ngày hoặc năm ngày, ba ngày bốn ngày cột tâm trong Tứ niệm xứ không đổi dời, cũng sẽ chứng từ Sơ quả đến Tứ quả.

Kinh Đại Niệm Xứ, Phật dạy rõ như vậy. Kinh Di-đà, Phật cũng dạy người niệm Phật một ngày hai ngày, ba ngày bốn ngày, năm ngày sáu ngày, bảy ngày được nhất tâm bất loạn thì sẽ được sanh về Cực lạc. Như vậy muốn đến Cực lạc phải nhất tâm bất loạn, muốn được quả Niết-bàn phải trụ Tứ niệm xứ không đổi dời, hai bên không khác nhau. Điểm cần thiết là phải có tâm tha thiết không đổi dời, tu pháp nào cũng được kết quả.

VI- TỨ ĐẾ

Hành giả bấy giờ khởi quán Tứ đế duyên, như tên bắn suốt.

  1. Khổ

Quán khổ có bốn thứ: Bởi nhân duyên sanh nên Vô thường, thân tâm não loạn nên Khổ, không có một pháp thật nên Không, không thật có người tạo tác và lãnh thọ nên Vô ngã.

  1. Tập

Quán tập có bốn: Do phiền não, nghiệp hữu lậu hòa hợp là Tập, quả tương tự được sanh là Nhân, trong ấy khởi tất cả hạnh là Sanh, không phải quả tương tự ấy liên tục là Duyên.

  1. Diệt

Quán diệt có bốn: Tất cả phiền não che đậy là Bế, trừ hết lửa phiền não là Diệt, trong tất cả pháp là bậc nhất nên Diệu, đã vượt qua thế gian nên Xuất.

  1. Đạo

Quán đạo có bốn: Hay đến Niết-bàn là Đạo, không điên đảo là Chánh, là lối đi của tất cả thánh nhân là Tích, được thoát khỏi sầu thảm là Ly.

Trong Phật pháp, Tứ đế là pháp căn bản. Khi đức Phật ngồi dưới cội bồ-đề, đến phút cuối cùng ngài chứng được Lậu tận minh, lúc đó ngài nhận thấy rõ tột cùng ý nghĩa giải thoát sanh tử. Thấy biết tường tận cái gì là nhân, cái gì là quả của sanh tử, chính vì thế ngài đem lý cứu cánh của Tứ đế chỉ dạy cho năm anh em Kiều-trần-như. Pháp Tứ đế chính là nguyên nhân của sanh tử cũng chính là pháp diệt tận sanh tử. Pháp Tứ đế hết sức hệ trọng vì nó chỉ dạy chúng ta được quả giải thoát rõ ràng. Trong đây chỉ nói đơn giản nhân tu để đạt được quả, không nói rõ từng chi tiết. Như thế chúng ta cũng khó nắm vững đường lối tu, nên tôi giảng rộng chỗ này.

Đạo Phật rất cụ thể khoa học, nói lý thật không nghi ngờ. Pháp Tứ đế của đức Phật dạy là chân lý thực tế, gồm bốn điều chắc thật: khổ, tập, diệt, đạo. Khổ đế là gì? Khổ là điều đau khổ hiện tại của con người, đế là lẽ thật, là chân lý không chối cãi được. Lẽ thật đầu tiên của con người là đau khổ. Sanh ra ở thế gian ai cũng có bốn thứ khổ: sanh, già, bệnh, chết. Có thân này thì có khổ. Trong cuộc sống lại thêm bốn khổ nữa, đó là: ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ, oán tắng hội khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ. Ái biệt ly khổ là nỗi khổ phải xa lìa những người thân yêu. Oán tắng hội khổ là cái khổ phải gặp những gì mình oán ghét. Cầu bất đắc khổ là cái khổ mong cầu việc này việc nọ mà không được. Ngũ ấm xí thạnh khổ là thân năm ấm này là chỗ tụ hội và biến hoại, vì thế phải chịu cái khổ chung.

Tám khổ này dù thường dân hay vua chúa sang giàu đều có đủ. Thừa nhận nó là lẽ thật, chúng ta phải làm sao? Có người cho đạo Phật là bi quan vì nói khổ đế đầu tiên. Nhưng đức Phật nói về khổ mà không phải dừng ngang đó, ngài chỉ cho chúng ta thấy khổ là cái quả hiện tại, tìm hiểu vì sao có khổ là phăng tìm nguyên nhân, biết được nhân để chuyển hết, diệt sạch tức thì quả khổ hết. Như các bác sĩ thấy người bị bệnh đang đau khổ rên rỉ, đầu tiên phải chẩn bệnh để biết nó phát nguyên từ cái gì, là bệnh gì, có vi trùng gì?… Tìm được nguyên nhân thì cho uống thuốc hết bệnh, hết khổ.

Chân lý thứ hai của đạo Phật là Tập đế, là nguyên nhân gây ra đau khổ, nguyên nhân này là chân lý chắc thật. Khi Phật nói thân này khổ, đó là nói về quả. Quả ấy không phải ngẫu nhiên mà có, nguyên nhân của nó là nghiệp tập tham, sân, si, mạn, nghi… Từ những phiền não đó kết tụ gây tạo ra quả khổ này. Biết được nguyên nhân là biết cách diệt khổ. Đây là một phương pháp rất khoa học, rất hợp lý. Cũng như bác sĩ phăng tìm nguyên nhân bệnh sốt rét, tìm được ký sinh trùng sốt rét là tìm ra nguyên nhân, sử dụng thuốc để tiêu diệt ký sinh trùng thì quả bệnh được lành.

Phật cũng vậy, biết được nhân đau khổ là tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến…, ngài dạy những nhân đó có thể diệt được, gọi là Diệt đế. Diệt đế là chân lý chắc thật không còn khổ đau. Phật dạy khổ đế không phải là bi quan, mà để đưa đến sự diệt khổ, như bác sĩ chẩn đoán bệnh là để tìm thuốc trị bệnh. Bác sĩ cho toa thuốc diệt được vi trùng, bệnh lành thì dễ thấy. Phật chỉ cho chúng ta nguyên nhân của khổ đau là tham, sân, mạn, nghi, ác kiến… Ngài cho thuốc gì để diệt mấy thứ đó? Thân này khổ không phải bỗng dưng có, mà do nguyên nhân đã kể trên, nguyên nhân hết thì khổ hết. Làm sao hết? Phải dùng phương pháp tu là ba mươi bảy phẩm trợ đạo, là pháp môn diệt khổ. Hết khổ sanh già bệnh chết… gọi là Niết-bàn.

Đạo đế là đường đưa đến Niết-bàn. Lý đạo này sâu xa nhiệm mầu, chúng sanh thực hành theo đạo đế cũng phải kiên trì không dễ dàng dễ thấy như người bệnh uống thuốc mạnh liền. Nếu người bệnh không chịu uống thuốc mà cầu xin bác sĩ cho mình lành bệnh có được không? Chúng sanh cũng vậy, Phật chỉ dạy gốc khổ và pháp trừ khổ mà không chịu thực hành, chỉ thắp hương cầu xin Phật cho con hết khổ, thật là vô lý. Như người nóng giận, biết mình có bệnh sân làm phiền gia đình, mỗi đêm cầu Phật cho mình hết sân thì có được không? Trị bệnh sân có thang thuốc nhẫn nhục, uống thuốc nhẫn nhục chưa hết gốc thì uống thêm thang từ bi. Nói nhẫn mà chưa biết nhẫn làm sao thì đó là chưa biết uống thuốc. Mỗi khi gặp người nói lời trái ý hoặc có hành động khinh miệt mình thì tự nhắc thầm “nhịn là khôn, nói là dại.” Cứ nhớ đọc hoài câu đó là uống thuốc. Vì khi nổi nóng thì nói bậy, gây sự không tốt nên phải nhịn, im lặng một lúc không nói gì, lâu dần cơn nóng giận sẽ qua. Bớt giận rồi khởi tâm từ bi, quán xét thương người, họ cũng khổ, họ không sáng suốt, người đó đáng thương hơn đáng giận… Khởi lòng từ bi thì tâm mình mát mẻ dễ chịu, khởi giận tức thì tâm nóng nảy bực bội. Từ gốc nơi tâm, chúng ta kiên nhẫn tu đúng pháp Phật dạy thì trừ được bệnh sân. Đó là do tu không phải do cầu xin.

Người bệnh tham, uống thuốc gì? Tham có hai, một là tham tiền của, hai là tham sống lâu. Tham tiền của nên uống thang thuốc bố thí. Người bệnh tham có bao nhiêu cũng không thấy đủ, cứ muốn có thêm, như có một triệu muốn được hai triệu… thêm hoài không dừng. Bệnh này nên uống thuốc xả bớt, cho ra không đem thêm vào. Như có một triệu đủ sống rồi, có thêm triệu nữa thì giúp người nghèo, người đói hơn mình. Cứ cho ra, không tích lũy giữ nhiều, đó là hết tham. Bệnh này trị rất dễ, chỉ vì chúng ta không dám làm, không dám cho, có bệnh mà không chịu uống thuốc.

Bệnh tham sống lâu, ai cũng có. Chúng ta thường chúc nhau khỏe mạnh sống lâu, nghe nói chết thì sợ hãi. Như đầu năm có ai đến nhà mình chúc ông bà cuối năm chết hết, thì sao? Lúc đó mình vác gậy đuổi ra liền. Xét kỹ, Phật dạy mạng người sống trong hơi thở, người ta chúc mình sống một năm là dài lắm. Dùng thang thuốc vô thường để quán sát, thấy rõ thở ra không hít vào là chết, có gì lâu dài. Thang thuốc này uống để giải quyết cấp thời, không tận gốc. Một thang nữa trị dứt bệnh là quán thấy thân này tạm bợ hư giả. Cái gì tạm bợ duyên hợp thì sẽ tan, không chóng thì chày, biết rõ thân sống đây không có gì bảo đảm. Khi chết đến thì nói tôi biết chú rồi, chú không bền, nó tan ra thì cười với nó. Như vậy vừa quán vô thường, vừa quán thân này duyên hợp giả dối, dùng hai thang thuốc đó là trị hết bệnh tham tiếc thân muốn sống lâu.

Đạo Phật rất thực tế, dùng phương pháp tu để trị tâm bệnh chúng sanh. Pháp quán Tứ đế trị dứt khổ đau, như mũi tên bắn trúng đích. Trong đây trước tiên nói quán khổ có bốn thứ. Một là do nhân duyên sanh nên vô thường , vì tùy duyên nên không cố định không chắc thật, cái gì vô thường thì khổ. Hai là thân tâm não loạn nên khổ , mang thân tâm này lúc nào cũng rối loạn, khó khăn. Ba là xét kỹ từ thân, tâm đến ngoại cảnh không có một pháp thật cho nên không. Bốn là không có người tạo tác và lãnh thọ nên vô ngã . Thân tâm đều do năm uẩn tứ đại hợp lại mà thành, trong đó tìm không thấy có gì là chủ thể, nên nói không có người lãnh thọ và tạo tác. Xét kỹ thân này vô thường, là thân chịu khổ, thân rỗng không, thân không chủ. Phật dạy quán như vậy để thấy rõ lý khổ nơi thân.

Thứ hai, quán tập đế cũng có bốn. Cái đau khổ đó không phải ngẫu nhiên, mà có nguyên nhân, vì thế Phật dạy tập đế là nhân của khổ đế. Một , do phiền não, nghiệp hữu lậu hòa hợp là tập , hữu lậu là tướng sanh diệt. Hai, từ nghiệp sanh quả tương tự , tập đế có khả năng làm phát sanh quả, thân này là quả một cách tương tự chứ không thật có. Ba, trong khi có thân thì khởi lên các hạnh nghiệp nên lại tiếp tục làm nhân sanh, thế là từ tập thành nhân, nhân thành sanh, sanh tử tiếp nối. Bốn, không phải quả tương tự ấy tiếp nối là duyên , nghĩa là từ nhân sanh quả cần có những điều kiện trợ giúp liên tục, những điều kiện này chỉ làm duyên phụ nên gọi là không phải quả tương tự.

Chúng ta biết từ gốc nghiệp phiền não mà có thân này, phải quán sát thân này là giả dối, là khổ đau. Biết vậy nên không luyến ái thân, khi nhắm mắt rồi không tìm kiếm thân khác. Không tìm kiếm thân là không ái thân, không ái thân thì không có quả sanh tử. Chúng ta muốn giải thoát sanh tử, phải thấy rõ cái tập nhân này, từ tham sân si mà tạo bao thứ nghiệp liên tục đưa đến quả khổ.

Thứ ba, quán diệt đế cũng có bốn. Một, tất cả phiền não che đậy trong tâm của mình gọi là bế. Bế tức là ngăn che đóng bít. Hai, trừ hết phiền não gọi là diệt . Ba, trong tất cả pháp, pháp diệt hết phiền não là nhiệm mầu nhất nên gọi là diệu . Bốn, đã vượt qua thế gian nên gọi là xuất . Không còn phiền não tạo nghiệp lôi kéo thì ra khỏi tam giới, ra khỏi sanh tử. Diệt đế là mục đích quan trọng của sự tu hành, là Niết-bàn.

Muốn được diệt đế phải tu đạo đế. Quán đạo đế có bốn. Một, hay đến Niết-bàn là đạo . Phật dạy chúng ta pháp tu đưa đến Niết-bàn cho nên gọi là đạo đế. Không điên đảo là chánh , vì nó là pháp đúng, không sai lầm nên gọi là chánh. Ba, là lối đi của tất cả thánh nhân , nên gọi là tích. Tích là dấu vết người xưa đã đi, các bậc thánh đã đi. Bốn, được thoát khỏi sầu thảm là ly , con đường này đưa chúng sanh lìa tất cả phiền não sanh tử khổ đau. Đạo đế là phương pháp rốt ráo đưa đến kết quả như lòng mong muốn. Như toa thuốc bác sĩ cho rất hay, nếu uống thì sẽ lành bệnh. Muốn lành bệnh phải đủ bốn điều kiện, thứ nhất là biết bệnh khổ, thứ hai là chẩn đoán biết vi trùng nào sanh ra bệnh gì, thứ ba là biết bệnh này trị sẽ hết, thứ tư là cho toa mua thuốc về uống. Điều thứ tư rất quan trọng, nếu bệnh nhân không chịu uống thuốc thì bác sĩ tài giỏi mấy cũng không trị được.

Ở đây Phật dạy cũng vậy. Chúng ta tu biết thân này là khổ, biết cái khổ đó không phải ngẫu nhiên, mà nó có nguyên nhân. Nguyên nhân là Tập đế. Hiểu nguyên nhân gây ra khổ thì tìm cách tiêu diệt nó là Diệt đế. Muốn tiêu diệt nó phải có phương pháp là Đạo đế. Phật chỉ dạy không có gì mơ hồ, thực tế một trăm phần trăm, mà vô tình chúng ta lại đưa đạo Phật tới chỗ huyền hoặc. Cứ dạy con cháu thắp hương có phước, xem như là biết tu, không nghĩ tu là phải trị bệnh phiền não của mình. Mình bệnh gì phải biết cho rõ, áp dụng thuốc Phật cho thích hợp thì hết bệnh ngay. Đó gọi là hiểu Phật pháp.

Pháp Tứ đế là chân lý đức Phật đã chứng ngộ và chỉ dạy cho chúng ta. Cần khéo hiểu rõ, ứng dụng quán chiếu tu tập để thoát khổ sanh tử.

VII- TỨ GIA HẠNH

Tứ gia hạnh là bốn hạnh tăng trưởng trong sự tu hành của chúng ta khiến từ phàm chuyển dần lên thánh. Tứ gia hạnh gồm có Noãn, Đảnh, Nhẫn, Thế đệ nhất.

  1. Noãn

Quán như trên sẽ đắc pháp vô lậu tương tự gọi là Noãn pháp. Thế nào là noãn? Thường chuyên cần tinh tấn gọi là noãn. Các thứ phiền não là củi, trí vô lậu là lửa, lửa gần phát cháy hơi ấm ban đầu gọi là noãn. Ví như dùi lửa, lúc mới dùi nó ra khói, ấy là noãn. Nó là tướng ban đầu của đường đến Niết-bàn.

Khi tu quán, chúng ta biết bệnh của mình, nên áp dụng thuốc nào của Phật để trị, lúc đó nhiệt tình tu tập dần dần được pháp noãn là hơi ấm. Đó là hiện tượng được pháp vô lậu tương tự, tức là được gần gần giống pháp vô lậu.

Đây nói, thường chuyên cần tinh tấn gọi là noãn. Các thứ phiền não là củi, trí vô lậu là lửa. Khi lửa gần phát cháy, hơi ấm ban đầu gọi là noãn . Chúng ta tu Phật là tu bằng trí tuệ, như khi quán vô thường, quán thân hư giả có phải là trí tuệ không? Thân này sự thật là vô thường, là tạm bợ hư giả, cho thân này thật thường còn là kẻ mê, biết rõ nó hư giả là người trí. Dùng trí quán sát cuối cùng thấy rõ nó là tạm bợ hư giả, gọi đó là trí vô lậu quán chiếu. Nhờ sức quán chiếu nên phá được phiền não si mê, chúng ta hết khổ. Như vậy khi quán chiếu dần dần thuần thục, như lửa gần cháy có hơi ấm, nên gọi là noãn. Đây là giai đoạn từ phàm bắt đầu chuyển qua thánh, trí quán chiếu đã có một chút sức mạnh, chúng ta bắt đầu đến Niết-bàn.

Đệ tử Phật có hai hạng người: Hạng người phần nhiều ưa nhất tâm cầu thiền định là người theo lối hữu lậu. Hạng người ưa trí tuệ chân thật để trừ diệt các thứ đắm mến, là người thẳng đến Niết-bàn vào trong noãn pháp.

Trong đây nói rõ có hai hạng người tu Phật, hạng thứ nhất phần nhiều ưa chuyên tâm cầu thiền định là tu theo lối hữu lậu. Tức là thích tu định, kìm giữ tâm cho yên, quên hết những tiếng động, quên tất cả những đau nhức, không còn nhớ đến thân. Đây gọi là theo lối hữu lậu, vì khi buông ra thì phiền não vẫn còn. Hạng thứ hai ưa trí tuệ chân thật để trừ diệt các thứ đắm mến, là người thẳng đến Niết-bàn vào noãn pháp. Hạng người này dùng trí quán, như quán hơi thở ra vô, xem xét theo dõi nó, tự thấy mạng sống mình do hơi thở. Quán sát thuần thục biết mạng sống vô thường tạm bợ không có gì thật, biết thân tạm bợ nên không tham lam đắm mến chạy theo trần cảnh bên ngoài. Bởi không tham nên không sân, bởi không sân nên không đau khổ. Nhờ trí tuệ dứt hết tâm tham luyến thế tục, đi thẳng vào Niết-bàn.

Có noãn tướng là thâm đắc nhất tâm, được tương tự thật pháp, đến bên ranh vô lậu. Hành giả khi ấy được đại an ổn, tự nghĩ: Ta quyết định sẽ được Niết-bàn, vì thấy được tướng này. Như người đào giếng được thấy đất ướt, biết sẽ đến nước không lâu. Như người đánh giặc, giặc lui tan hết, tự biết đắc thắng, trong ý an ổn. Như người kinh hãi chết giấc, muốn biết họ sống chăng, hoặc lấy kim chích vào thân, hoặc chẩn mạch xem còn nhảy không, nếu biết họ còn ấm tức là sẽ sống. Như người nghe pháp suy nghĩ trong tâm thích thú, khi ấy tâm nóng. Hành giả có noãn pháp như thế gọi là có noãn, cũng gọi là được phần thiện căn đến Niết-bàn. Pháp thiện căn này có mười sáu hạnh, Tứ đế duyên là một trong sáu địa, là nền tảng của trí tuệ và tất cả pháp vô lậu. Người được bước đầu vô lậu hay đi an ổn, ấy gọi là noãn pháp.

Noãn pháp này là pháp của người tu bắt đầu từ phàm chuyển lên thánh. Như chúng ta dùng hai thanh gỗ cọ với nhau để lấy lửa, khi cọ chưa ra lửa mà nghe hơi ấm, biết gần ra lửa, đó gọi là noãn. Trong đây nói pháp thiện căn này có mười sáu hạnh thù thắng, đoạn trước có kể. Tứ đế duyên là một trong sáu bậc của mười sáu hạnh ấy, là nền tảng của trí tuệ và tất cả pháp vô lậu. Đến đây bắt đầu bước vào giải thoát nên gọi là pháp vô lậu. Người tu được tâm an ổn, vui mừng biết mình được gần đạo.

  1. Đảnh

Tăng tiến chuyển lên gọi là Đảnh pháp, như sữa biến thành tô lạc. Hành giả quán thật tướng các pháp, tự nghĩ: Ta sẽ lìa khổ được giải thoát. Tâm thích pháp chân thật này hay trừ các thứ khổ hoạn và già, bệnh, chết. Khi ấy suy nghĩ: Pháp này ai nói? Là Phật Thế Tôn. Từ đây được tín tâm thanh tịnh đại hoan hỷ trong Phật bảo. Nếu không có pháp này thì tất cả phiền não ai có thể ngăn được. Ta phải làm thế nào được một chút ít sáng suốt của trí tuệ chân thật. Từ đây được tín tâm thanh tịnh đại hoan hỷ trong Pháp bảo. Nếu ta không được bạn lành là đệ tử của Phật, làm sao được chút ít sáng suốt của trí tuệ chân thật. Từ đây được tín tâm thanh tịnh đại hoan hỷ trong Tăng bảo. Trong Tam bảo được nhất tâm thanh tịnh hợp với trí tuệ chân thật. Đó là được đảnh thiện căn cũng gọi là đảnh pháp, cũng gọi là được phần thiện căn đến Niết-bàn.

Đây là bước tiến thứ hai, như sữa biến thành tô lạc. Người tu đến tướng này tin chắc rằng mình sẽ lìa khổ được giải thoát, tâm thích pháp chân thật trừ được khổ hoạn già bệnh chết.

Tôi giải thích rõ chỗ này. Chúng ta tu có già bệnh chết không? Nhiều người tưởng là tu thành tiên không bị già bệnh chết. Không phải như vậy. Ai cũng bị luật vô thường chi phối, có thân này thì có già bệnh chết. Người biết tu thấy già không lo buồn, không tiếc nuối, thuận theo lẽ thường của thân này. Già không buồn nên không khổ, đó là trừ được cái hoạn tuổi già.

Bệnh là khổ, chúng ta làm sao để bệnh mà không khổ? Khi đau thì quán sát thấy rõ thân này mỗi bộ phận riêng biệt, chỗ nào hư chỗ nào bị chạm thì chỗ đó đau, cái biết đau thì không đau. Như chân hay tay chúng ta bị một vết thương, dây thần kinh và thớ thịt chỗ đó đau nhức. Chúng ta nhìn thấy nó bị run bị giật, nhìn như vậy mà không la hoảng là tôi đau thì cái đau không làm chủ mình. Thử can đảm như vậy, khi đau chỗ nào mình nhìn chỗ đó, thấy cái đau không phải là mình, chúng ta không bị lệ thuộc vào các bộ phận trong cơ thể. Không lệ thuộc thì cười với nó: À! Thân này tại chỗ đó hư nên nhức, chỗ đó nhức đau chứ có liên hệ gì với mình đâu. Mình là chủ, không phải là bộ phận nhỏ của thân. Quán sát được như vậy thì trừ được cái khổ về bệnh.

Chết là gì? Thân tứ đại hết duyên tắt thở thì chết. Nhiều người kể lại, khi chết thấy mình đứng bên ngoài nhìn lại thân mình rõ ràng, khi đó không có cảm giác sợ hay khổ. Thân chết không phải là ta chết, thân chỉ là bộ phận để ta tạm gá vào đó. Biết được điều này chúng ta không sợ chết. Già bệnh chết đều không sợ, chúng ta đã tự tại được một phần. Vì thế đây nói, hành giả quán thật tướng các pháp, tự nghĩ ta sẽ lìa khổ được giải thoát.

Như vậy chúng ta phải làm thế nào để có chút ít sáng suốt của trí tuệ chân thật. Khi có trí tuệ chúng ta sẽ được tín tâm thanh tịnh đại hoan hỷ đối với Tam bảo. Được nhất tâm thanh tịnh hợp với trí tuệ chân thật, tâm sẽ vững vàng vượt qua mọi trở ngại, như người đã lên đỉnh núi cao. Đó là được đảnh thiện căn, cũng gọi là đảnh pháp, cũng gọi là được phần thiện căn đến Niết-bàn.

Như trong kinh Ba-la-diên nói:

Phật, Pháp và Tăng bảo, 

Ai có ít tịnh tín, 

Đó là căn lành Đảnh, 

Các ngươi nhất tâm giữ.

Đối với Tam bảo nếu ai có lòng tin chân thành trong sạch, đó là người được đảnh pháp. Các ngươi phải nhất tâm giữ, tức là gìn giữ một cách chân chánh, nhất tâm.

Thế nào là ít tịnh tín? Với bậc Phật, Bồ-tát, Bích-chi Phật, La-hán là ít, còn hàng được bước đầu vô lậu là nhiều. Lại nữa pháp này có thể phá, có thể mất gọi là ít. Như kinh Pháp Cú nói:

Chuối trổ buồng rồi chết, 

Tre ra bông cũng chết, 

La mang thai thì chết, 

Tiểu nhân được nuôi chết.

Phá mất không phải lợi,

Tiểu nhân cho danh dự,

Phần bạch tịnh mất hết,

Đến Đảnh pháp cũng rơi.

Chưa đoạn kiết sử, chưa được vô lậu và vô lượng tâm, gọi là ít.

Người bước vào pháp đảnh được một ít tịnh tín đối với Tam bảo. Tại sao gọi là được ít? Đối với chư Phật, Bồ-tát, Bích-chi Phật, La-hán, được như thế gọi là ít, còn đối với hàng mới bước đầu vô lậu được như thế cho là nhiều. Pháp đảnh này có thể bị phá, có thể mất, nên gọi là ít.

Kinh Pháp Cú nói: Chuối trổ buồng rồi chết, tre ra bông cũng chết, la mang thai thì chết, tiểu nhân được nuôi chết. Tất cả việc này tuy thành công nhưng rồi cũng phải chết. Vì thế người tu được pháp đảnh này rồi cũng phải vượt qua nó, không giữ mãi. Như người tu được Sơ thiền cũng phải bỏ để tiến lên Nhị thiền.

Phá mất không phải lợi, tiểu nhân cho danh dự, phần bạch tịnh mất hết, đến Đảnh pháp cũng rơi. Cuối cùng bỏ pháp Đảnh để chuyển lên pháp thứ ba là Nhẫn.

  1. Nhẫn

Chuyên cần tinh tấn nhất tâm vào trong Niết-bàn, lại quán rành rõ pháp ngũ ấm, Tứ đế, mười sáu hạnh. Khi ấy tâm không sụt, không hối hận, không thối lui, ưa thích vào nhẫn, gọi là Nhẫn thiện căn.

Nhẫn là an trụ, chuyên ở một nơi, an định một chỗ. Người tu tinh tấn nhất tâm vào Niết-bàn quán rành rõ pháp ngũ ấm, Tứ đế, mười sáu hạnh không sai không thiếu, đó gọi là an trụ được nơi nhẫn. Khi ấy tâm không lui sụt, không hối hận, ưa vào nhẫn, gọi đó là Nhẫn thiện căn.

Nhẫn những gì? Tùy thuận hành Tứ đế gọi là Nhẫn. Cái thiện căn này có ba bậc thượng trung hạ và ba thời. Thế nào gọi là Nhẫn? Quán ngũ ấm vô thường khổ không vô ngã, tâm nhẫn không thối chuyển gọi là Nhẫn. Quán các pháp thế gian thảy đều là khổ, không, không vui. Cái khổ này do các thứ phiền não, ái v.v… tập hợp. Cái tập ấy bị trí tuệ diệt sạch, đó là thượng pháp không có pháp nào hơn, Bát chánh đạo hay khiến người tu hành được Niết-bàn không có lối nào bằng. Tín tâm như thế không hối hận không nghi ngờ, ấy gọi là Nhẫn.

Pháp Nhẫn này chia ra ba bậc, hạ trung thượng và ba thời quá khứ hiện tại vị lai. Tu pháp này phải vượt từ bậc hạ lên bậc trung, bậc trung lên bậc thượng rồi vượt qua luôn. Pháp Nhẫn là gì? Là quán ngũ ấm vô thường, thân này là vô thường khổ không vô ngã, tâm quán như thế không thối chuyển gọi là nhẫn. Quán thấy năm ấm không thật có, không bền chắc mà không bao giờ có niệm thay đổi. Đối các pháp thế gian cũng thấy đều là khổ, không có cái vui thật, khổ này do các thứ phiền não ái… tập hợp lại. Muốn hết khổ thì phải cố diệt sự nhóm họp của các phiền não, dùng trí tuệ diệt sạch phiền não, đó là thượng pháp, không có pháp nào hơn. Hết phiền não là nhờ trí tuệ, xét kỹ xem có phiền não nào muốn diệt nó mà không dùng trí tuệ? Từ trí tuệ nên được định, từ trí tuệ nên qua khỏi các phiền não. Quán thân vô thường, giả dối…, dùng trí tuệ chiếu phá vô minh lầm chấp mới dẹp được khổ đau. Đối tất cả pháp đều nhờ trí tuệ nên thấy được lẽ thật, an trú trong trí tuệ, gọi là nhẫn.

Trong tâm có sức nhẫn nên các kiết sử, các thứ phiền não nghi ngờ không thể chen vào phá hoại tâm được, ví như núi đá, các thứ gió nước không thể làm trôi giạt, lay động được, ấy gọi là Nhẫn. Người được như vậy gọi là người được bước đầu vô lậu chân thật tốt đẹp.

Tại sao gọi là an nhẫn? Vì chúng ta đã tiến lên đứng vững trong trí tuệ, không bị các thứ kiết sử, phiền não, nghi ngờ… chen vô được. Như núi đá không bị gió nước làm trôi giạt. Người tu đến chỗ an trú không lay động là vào được pháp nhẫn, là người gần Niết-bàn.

Như Phật nói trong kinh Pháp Cú:

Chánh kiến trên thế giới, 

Ai có thể được nhiều, 

Cho đến ngàn muôn năm 

Trọn không rơi ác đạo.

Người chánh kiến trên thế giới là người được Nhẫn thiện căn.

Trên thế giới này, rất ít người có chánh kiến. Khi được chánh kiến rồi thì dầu trải qua ngàn muôn năm cũng không rơi vào đường ác. Người được chánh kiến gọi là được Nhẫn thiện căn. Trên đường tu, chúng ta muốn an trú trong chỗ thanh tịnh sáng suốt, phải dùng trí tuệ dẹp hết những phiền não khiến cho mình lui sụt thối chuyển. Dẹp được những thứ đó được chánh kiến, gọi là được Nhẫn thiện căn.

Đến pháp thứ tư là Thế đệ nhất.

  1. Thế đệ nhất

Người này tăng tiến nhất tâm rất nhàm chán thế giới, muốn biết rành rõ tướng tứ đế để tiến đến Niết-bàn. Trong nhất tâm như thế gọi là pháp thế gian đệ nhất. Một thời trụ tứ hạnh vô thường khổ không vô ngã, quán một đế khổ pháp nhẫn và các khổ duyên. Thế nào là quán ngũ ấm trong Dục giới là vô thường khổ không vô ngã? Trong đây tâm nhẫn vào trí tuệ, cũng là tâm vương và tâm sở tương ưng, gọi là khổ pháp nhẫn.

Thế đệ nhất là bậc thứ nhất trên thế gian. Người tiến tới chỗ này là người đệ nhất trong đời. Người này tăng tiến, nhất tâm, rất nhàm chán thế giới, muốn biết rành rõ tướng tứ đế để tiến đến Niết-bàn. Khi người tu đã trải qua ba giai đoạn trước, đến giai đoạn này không còn luyến ái thế giới, chỉ một lòng cầu Niết-bàn. Một lòng như thế là pháp đệ nhất ở thế gian.

Một thời trụ tứ hạnh , tức là một thời trụ hay quán đủ bốn hạnh. Một là vô thường, hai là khổ, ba là không, bốn là vô ngã. Đối với thân này quán xét nó là vô thường, là khổ; đã vô thường, khổ thì nó là không; nó không có chủ thể nên là vô ngã. Quán xét thấy tường tận rõ ràng như vậy là do quán một đế khổ pháp nhẫn và các khổ duyên, tức là các duyên liên hệ với khổ, chúng ta đều thấy rõ hết. Quán ngũ ấm trong Dục giới là vô thường khổ không vô ngã, trong đây tâm nhẫn vào trí tuệ, cũng là tâm vương tâm sở tương ưng nên gọi là khổ pháp nhẫn. Dùng trí tuệ thấy thân ngũ ấm này không quý không thật, an trú trong đó gọi là khổ pháp nhẫn.

Thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp và các hạnh không tương ưng với tâm, đời hiện tại, đời vị lai tất cả pháp vô lậu ban đầu, gọi là khổ pháp nhẫn.

Quán thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp và các hạnh không tương ưng với tâm, nghĩa là các hạnh đó không thích hợp với tâm, trong đời hiện tại và đời vị lai. Tất cả pháp vô lậu ban đầu được hiện ra gọi là khổ pháp nhẫn, nhìn thấy các khổ của ba nghiệp mà tâm không dính mắc. Nhờ thấy pháp khổ, tâm an trụ được chỗ chân thật.

Thứ lớp sanh khổ pháp trí, khổ pháp nhẫn, trí đoạn kiết sử khổ pháp được chứng đạo.

Từ đây tu tiến lên theo thứ tự sanh khổ pháp trí, tức là trí thấy được pháp khổ. Kế đến sanh khổ pháp nhẫn, tức là được chỗ an nhẫn pháp khổ. Đến trí đoạn kiết sử khổ pháp được chứng đạo, tức là trí dứt trừ những trói buộc của kiết sử được chứng đạo.

Ví như hai người đối địch, một người cầm đao bén một người cầm dây trói thì người cầm đao giết được người cầm dây. Cũng như dao bén chẻ tre qua mắt dễ dàng. Do công phu của nhẫn trí hay đoạn được kiến chấp ràng buộc trong Dục giới và mười món kiết sử.

Đây giải thích lý do chúng ta tu đạt được kết quả đúng như nguyện của mình, vì biết khéo dùng trí tuệ quán chiếu dẹp bỏ những kiết sử phiền não. Như hai người đối địch giao chiến nhau, một người cầm dao bén, một người cầm dây trói thì người cầm dao giết được người cầm dây. Phiền não ràng buộc như sợi dây, trí tuệ cắt đứt phiền não như kiếm bén. Chúng ta tu mà cầu xin Phật cho hết phiền não thì không phải là cầm kiếm. Phải quán chiếu thấy rõ tường tận cái khổ của thân, thấy rõ tường tận phiền não để tiêu diệt nó, như vậy kiếm nhất định cắt được dây, chứ dây không trói được kiếm. Đó là ví dụ một.

Ví dụ hai, cũng như chẻ tre, tuy cây tre có mắt cứng nhưng có dao bén chẻ nó cũng qua được dễ dàng. Trí tuệ nhạy bén có thể tiêu trừ được những chướng ngại khó khăn trên đường tu. Tu mà không có trí tuệ mạnh mẽ thì không bao giờ dẹp được chướng nạn. Chúng ta nên nhớ, tu theo Phật mà không dùng trí tuệ thì thiệt thòi lắm.

Do công phu của nhẫn trí hay đoạn được kiến chấp ràng buộc trong Dục giới và mười món kiết sử. Càng tu càng diệt trừ được các thứ trói buộc, không còn bị lôi dẫn vào trong Dục giới. Bị ràng buộc là mất tự do, cắt đứt các ràng buộc thì được tự do giải thoát. Cái gì ràng buộc? Chính là phiền não kiết sử của mình. Tu là một sự tranh đấu mãnh liệt, tranh đấu với chính mình chứ không phải tranh đấu với ai cả. Người biết tu thì đi đứng nằm ngồi đều tranh đấu, người không biết tu thì thả trôi, để cho thói hư tật xấu xúi giục dẫn đi. Vừa có một niệm không tốt là dẹp liền, vừa có một ý nghĩ sai lầm là chặn đứng lại. Tranh đấu với mình mà thắng được thì như chúng ta thường nghe nói, thắng vạn quân không bằng thắng mình, thắng mình mới là chiến công oanh liệt nhất . Thắng được mình là nhờ an nhẫn trong trí tuệ thanh tịnh, quay lại quán chiếu dẹp phiền não. Đây là sức mạnh phi thường, phải can đảm mạnh mẽ, không phải lơ là trôi xuôi mà có kết quả.

Bấy giờ được cái dị đẳng trí, chưa được vô lậu trí, chỉ được vô lậu tuệ, khi ấy thành tựu một trí.

Dị đẳng trí là trí chưa được bình đẳng, chưa được vô lậu trí, chỉ được vô lậu tuệ. Tuệ và trí khác nhau chỗ nào? Trí là nhận xét chín chắn đúng đắn, tuệ là sáng một cách tự nhiên không phải do nhận xét tinh vi. Nhận xét tinh vi là trí, còn tuệ là sáng. Như người đi học, có người nhận định chín chắn, phân tích rành rẽ, nhớ hiểu bài một cách thấu đáo đó là trí. Còn có người không nhận định như vậy nhưng học bài rất mau thuộc, đó là tuệ. Trí là đi sâu moi tìm, còn tuệ thì phẳng lặng sáng sẵn. Như vậy, tuệ dễ nhận được hơn trí, nên đây nói, chưa được vô lậu trí chỉ được vô lậu tuệ.

Trong tâm thứ hai thành tựu pháp trí, khổ trí, đẳng trí. Qua tâm thứ ba và thứ tư thành tựu tứ trí; khổ trí, pháp trí, tỷ trí, đẳng trí. Trong đạo pháp diệt đế mỗi trí được tăng, người ly dục thành tựu tăng trưởng tha tâm trí.

Đây chỉ cho công năng người tu. Người sắp vượt qua khỏi Dục giới là người bậc nhất, nên gọi là thế đệ nhất. Qua đến bậc này phải có khổ trí, pháp trí, tỷ trí, đẳng trí.

Khổ trí, là trí thấy tất cả pháp sanh diệt là khổ đau, thấy rõ ràng thân năm ấm là sanh diệt, là khổ, không nghi ngờ.

Pháp trí, là trí thấy được tất cả pháp, gồm cả những sự vật bên ngoài và pháp trong tâm của mình. Trí này rất rộng, thấy cả sắc pháp, tâm pháp rõ ràng.

Tỷ trí, là trí so sánh, nhận định bên nào khổ bên nào vui, bên nào trầm luân bên nào giải thoát.

Đẳng trí, là trí bình đẳng nhìn tất cả sự vật đúng như nhau không sai biệt, nhìn các pháp rõ ràng, biết pháp nào cũng là duyên hợp hư giả.

Như vậy trong đạo pháp diệt đế mỗi mỗi trí được tăng trưởng. Nhờ mỗi trí tăng trưởng nên người tu lìa tất cả tham dục ái của thế gian, tăng trưởng tha tâm trí. Đây là dấu hiệu sắp bước lên bậc thánh, thành tựu Tứ gia hạnh.

VIII- TỨ QUẢ THANH VĂN

  1. Tu-đà-hoàn

Khổ pháp nhẫn, khổ pháp trí, khổ tỷ nhẫn, khổ tỷ trí đoạn mười tám thứ Kiết, bốn tâm ấy đạt được nơi khổ đế. Tập pháp nhẫn, tập pháp trí đoạn được bảy thứ Kiết trong Dục giới. Tập tỷ nhẫn, tập tỷ trí đoạn mười ba món Kiết cõi Sắc và Vô sắc. Diệt pháp nhẫn, diệt pháp trí đoạn bảy món Kiết ở Dục giới. Diệt tỷ nhẫn, diệt tỷ trí đoạn mười hai món Kiết ở cõi Sắc và Vô sắc. Đạo pháp nhẫn, đạo pháp trí đoạn tám món Kiết ở Dục giới. Đạo tỷ nhẫn, đạo tỷ trí đoạn mười bốn món Kiết cõi Sắc và Vô sắc. Đạo tỷ trí là đắc quả Tu-đà-hoàn, thật biết các pháp tướng. Trong mười sáu tâm (khổ pháp nhẫn, khổ pháp trí v.v… ) được mười lăm, người lợi căn gọi là Tùy pháp hạnh, người độn căn gọi là Tùy tín hạnh. Hai người này chưa hẳn ly dục nên chỉ được Sơ quả. Trước chưa đoạn kiết sử mà được mười sáu thứ tâm là Tu-đà-hoàn.

Tu-đà-hoàn, dịch âm tiếng Phạn, Trung Hoa dịch nghĩa là Nhập lưu, bước vào dòng thánh. Người tu thiền định qua Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền đến đây đi thẳng vào phần chánh pháp của Phật là quán pháp Tứ đế. Do quán chiếu pháp Tứ đế mà được trí tuệ. Nơi khổ đế được bốn thứ tâm, nơi tập đế được bốn thứ tâm, diệt đế được bốn thứ tâm, đạo đế được bốn thứ tâm. Cộng chung lại là mười sáu thứ tâm. Mười sáu tâm này đều gọi là trí, như là khổ pháp nhẫn, nói đủ là khổ pháp trí nhẫn. Khổ pháp trí là trí của khổ pháp, khổ tỷ trí nhẫn, khổ tỷ trí đoạn…

Đây dùng nhiều danh từ khó hiểu, tôi giải thích tổng quát. Người tu thiền khi được Sơ thiền Ly sanh hỷ lạc nghĩa là lìa dục được vui, Nhị thiền Định sanh hỷ lạc nghĩa là nhờ an định được vui… đến Tứ thiền Xả niệm thanh tịnh. Bốn thiền này vẫn là phàm phu thiền, tuy có thiền định nhưng chưa có trí. Qua Tứ thiền rồi phải quán pháp Tứ đế. Tứ đế là bài pháp đầu tiên của đức Phật, nhắm thẳng vào chỗ thấy của ngài sau khi chứng quả. Đó là trí tuệ thấy đúng chân lý, đúng lẽ thật. Chúng ta tu không thấy biết được chỗ chân thật đó là si mê, dù có được thiền định cũng là định của phàm phu. Muốn thành quả thánh phải tu trí tuệ, muốn có trí tuệ phải lấy pháp Tứ để làm nền tảng. Quán pháp khổ được trí tuệ nên gọi là khổ pháp trí nhẫn, chữ nhẫn ở đây là an trụ, nghĩa là do quán pháp khổ tâm được an trụ. Do quán khổ mà được trí tuệ nên gọi là khổ pháp trí… Xét kỹ xem chúng ta có nhận chân được lẽ thật của khổ đế như lời Phật dạy hay không? Nếu không biết lẽ thật của khổ, đó là không có trí. Người biết tu, đầu tiên bước vào đường giác ngộ, phải giác ngộ ngay khổ đế.

Quán xét thân mình thân người thấy ai cũng chịu chung bốn khổ sanh già bệnh chết, đây là lẽ thật không ai thoát khỏi, dù giàu sang quyền quý như đế vương. Về nội tâm thì có cái khổ xa lìa những gì mình yêu mến, khổ vì mong cầu không được, khổ vì chung hội kẻ oán ghét. Đó là bảy cái khổ, kể chung thân và tâm thì chịu khổ ngũ ấm xí thạnh, nghĩa là thân chung hợp này gây nhiều xáo trộn bất an. Phật dạy khổ đế không phải để chúng ta bi quan, mà thức tỉnh chúng ta nhìn cuộc đời một cách đúng như thật. Do trí quán chiếu khổ, rồi phăn tìm nguyên nhân của khổ, biết cội gốc của nó từ phiền não kiết sử, chúng ta tu để đoạn trừ, tiến dần đến quả giải thoát.

Con đường đoạn trừ gốc khổ chia ra nhiều giai đoạn, đi từ cạn đến sâu. Nguyên nhân chính là sự mê lầm, danh từ nhà Phật gọi là hoặc, chia ra làm hai: kiến hoặc và tư hoặc. Kiến hoặc là mê lầm về nhận định, là cái thấy sai, có năm thứ: thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ. Mê lầm về tư tưởng gọi là tư hoặc, có năm thứ: tham, sân, si, mạn, nghi. Gốc rễ tư hoặc rất sâu, tiềm ẩn trong chúng ta từ lúc mới sanh, không phải do nhận định sau này. Vì khó trừ nên người tu phải chịu khó rèn luyện mài giũa rất lâu mới trừ được. Kiến hoặc thì dễ trị hơn, khi chúng ta được chỉ dạy, thấy biết lẽ thật, nó liền tan biến.

Danh từ pháp số chia các hoặc trong ba cõi theo Tứ đế. Dục giới, khổ đế có đủ mười thứ hoặc, tập đế và diệt đế mỗi đế có bảy thứ, đạo đế có tám thứ, cộng chung là ba mươi hai hoặc hay kiết sử trong cõi Dục. Kiết sử là những phiền não ràng buộc lôi kéo chúng sanh, cõi Dục nhiều lôi kéo ràng buộc nên mê lầm nhiều. Cõi Sắc có hai mươi tám hoặc, Vô sắc có hai mươi tám hoặc. Muốn ra khỏi ba cõi phải diệt trừ hết các thứ hoặc này. Dùng trí quán khổ đế ở Dục giới, được khổ pháp trí, khổ pháp nhẫn; quán khổ đế ở Sắc giới và Vô sắc giới được khổ tỷ nhẫn, khổ tỷ trí. Bốn trí hay bốn tâm này do quán mà được. Quán tập đế ở Dục giới được tập pháp nhẫn, tập pháp trí; quán tập đế ở Sắc giới và Vô sắc giới được tập tỷ nhẫn, tập tỷ trí… Như thế quán Tứ đế trong ba cõi thì được mười sáu trí. Do công năng của các trí này nên diệt trừ xong tám mươi tám hoặc của ba cõi, bước vào dòng thánh gọi là Nhập lưu hay Tu-đà-hoàn.

Như vậy người tuy đạt Tứ thiền mà không dùng trí quán Tứ đế thì vẫn chưa ra khỏi ba cõi, chưa giải thoát sanh tử. Vì thế pháp Tứ đế là con đường quan trọng, nên chúng ta mới hiểu tại sao đức Phật lặp đi lặp lại rất nhiều lần pháp Tứ đế cho các thầy Tỳ-kheo. Chuyển từ phàm lên thánh là bắt đầu có trí tuệ thấy đúng như thật, thấy lẽ thật rồi thì tất cả mê lầm bị tiêu diệt mau. Người tu mà không chịu tu tập trí tuệ, cứ tin tưởng vào những điều huyễn hoặc thì không bao giờ dẹp được phiền não. Ở đây phân tích chi ly để chúng ta biết tổng quát các vị tu chứng Tu-đà-hoàn đều phải tiến lên diệt các phiền não kiết sử này.

Trong Tu-đà-hoàn lại chia ra làm hai hạng. Hạng lanh lợi gọi là Tùy pháp hạnh, hạng độn căn là Tùy tín hạnh. Tu-đà-hoàn còn gọi là Thất lai, nghĩa là còn phải bảy lần sanh trở lại thế gian rồi mới chứng A-la-hán. Nhiều người cho rằng nếu chúng ta tu thiền trong đời này dù có đạt được quả vị như Tu-đà-hoàn, trở lại sanh đời khác e mê lầm rồi quên, không nhớ gốc mình tu. Nếu quên thì Tu-đà-hoàn bảy lần tái sanh trở lại thế gian không thể tiếp tục tiến tu, vì không quên nên khi trở lại thì gốc cũ vẫn còn. Khi đã thấm nhuần sữa chánh pháp rồi thì nhất định không lui sụt, chỉ có tiến lên mà thôi.

Nếu trước đoạn sáu phẩm Kiết được mười sáu thứ tâm gọi là Tư-đà-hàm. Nếu trước đoạn chín phẩm Kiết được mười sáu thứ tâm gọi là A-na-hàm. Bởi chưa ly dục đoạn tám mươi tám món Kiết sử nên gọi Tu-đà-hoàn. Lại nữa, được thiện căn vô lậu quả nên gọi Tu-đà-hoàn. Người lợi căn gọi Kiết đắc, người độn căn gọi là Tín ái.

Tu-đà-hoàn tuy đoạn phiền não nhưng chưa ly dục, vì thế còn tái sanh trong nhân gian. Phân biệt với Tư-đà-hàm chỉ còn tái sanh một lần và A-na-hàm không trở lại cõi Dục. Tu-đà-hoàn lợi căn là người thông minh dẹp hết các kiết sử được quả Tu-đà-hoàn, người độn căn là tín ái, tức là tuy dẹp kiết sử nhưng còn yêu mến thân.

Chưa đoạn tư hoặc nên phải bảy lần sanh nhân gian, nếu đoạn ba món tư hoặc chỉ còn sanh ba lần. Thấu đạt ba mươi bảy phẩm trợ đạo gọi là Lưu hướng Niết-bàn. Tùy thuận trôi vào biển thánh gọi là Tu-đà-hoàn. Đó là đứa con công đức ban đầu của Phật.

Tu-đà-hoàn là đứa con công đức ban đầu của đức Phật, được trôi vào biển thánh. Tôi nhắc lại quả đầu của tứ quả Thanh văn là Tu-đà-hoàn phải còn bảy lần sanh tử mới chứng A-la-hán giải thoát. Nếu chúng ta tu ở đây diệt được phiền não, tuy chưa giải thoát nhưng đã bước vào dòng thánh. Bước vào dòng thánh tức là bất thối chuyển, nhất định bảy lần sanh là đi tới Niết-bàn.

  1. Tư-đà-hàm

Được thoát khỏi ác đạo, đoạn tam kiết, làm mỏng tam độc gọi là Tư-đà-hàm. Lại nữa, chín phẩm Hoặc ở Dục giới do kiến đế đoạn và tư duy đoạn. Nếu người phàm phu trước dùng hữu lậu đạo đoạn sáu thứ Hoặc ở Dục giới, vào kiến đế đạo, được mười sáu thứ tâm gọi là Tư-đà-hàm. Nếu đoạn được tám thứ Hoặc nhập kiến đế đạo đủ mười sáu thứ tâm gọi là quả Tư-đà-hàm hướng A-na-hàm. Nếu đệ tử Phật chứng Tu-đà-hoàn rồi riêng đoạn ba món Kiết dục, chứng Tư-đà-hàm. Hoặc tư duy trong chín món Hoặc ở Dục giới, đoạn được sáu món gọi là Tư-đà-hàm; đoạn tám món gọi là quả Tư-đà-hàm hướng A-na-hàm.

Đây là quả thứ hai trong tứ quả Thanh văn. Tu-đà-hoàn gọi là Thất lai, còn Tư-đà-hàm gọi là Nhất lai, tức là chỉ còn trở lại một lần hoặc ở thế gian hoặc ở cõi trời rồi chứng quả A-la-hán nhập Niết-bàn.

Người thoát khỏi ác đạo đoạn được tam kiết, làm mỏng tam độc, gọi là Tư-đà-hàm. Chúng ta muốn biết mình tu khá đến đâu thì nhìn lại tam độc mỏng hay chưa? Nếu tham sân si mỏng rồi thì đó là chuẩn bị vào dòng thánh, nếu tham sân si hết sạch thì tuy thân phàm phu nhưng tâm đã chuyển thành thánh.

Phiền não kiết sử tuy nhiều nhưng nói gọn chỉ có ba độc tham sân si. Pháp tu tuy nhiều tên nhiều cách đối trị, nhiều danh từ tu chứng, đều không ngoài việc diệt trừ phiền não. Chúng ta dụng tâm bao lâu diệt được tham? Chừng bao lâu diệt được sân, si? Rõ ràng đó là chuyện của mình, chỉ cần ra công gọt giũa. Ai tu cũng muốn thành thánh, chỉ có ba đứa rối loạn mà không chịu đuổi ra. Đuổi dẹp được nó thì quả thánh tự nhiên đến, không đâu xa.

Đôi khi chúng ta càng tu lòng tham càng nhiều, bản ngã càng lớn. Chuyện này dường như vô lý, nhưng nếu tu để dứt phiền não sạch nghiệp tham sân si thì đó là tu tốt, còn tu mà cầu Phật gia hộ, nghĩ đến chuyện mình được phát tài, sống lâu, muốn gì được nấy thì đó là càng tu càng thêm tham. Trên thế gian có nhiều người lợi dụng đạo lý, dùng thuật linh thiêng để rủ chúng ta đi chùa. Đến chùa sẽ được cái này cái kia, toàn là được không thôi, nghe thế rất ham. Vì thế, tu quyết tâm cầu giải thoát thì ít, tu tiếp tục luân hồi thì hơi nhiều. Ở đây các ngài dạy chúng ta tu để diệt mê lầm, để bước dần lên đường thánh, nghe hơi xa lạ với mình. Đừng nói diệt các hoặc nghiệp tế nhị, chỉ nói diệt tham sân si còn thấy khó khăn. Phải nhận thức rõ ràng, hiểu rõ pháp Tứ đế và các phương tiện diệt trừ phiền não. Cố gắng bào mòn, chăm chỉ quán sát để tập khí thưa dần, bớt tham bớt sân bớt si, mỗi ngày tăng trưởng trí tuệ thì tự nhiên các mê lầm ràng buộc chóng dứt, càng tu càng tiến. Như thế mới là an vui.

  1. A-na-hàm

Nếu phàm phu trước đoạn chín món Hoặc ở Dục giới vào kiến đạo, được mười sáu thứ tâm gọi là A-na-hàm. Hoặc được Tu-đà-hoàn tiến lên đoạn ba món tư hoặc, chứng đạo giải thoát thứ chín gọi là A-na-hàm. A-na-hàm có chín thứ:

1/ A-na-hàm hiện đời vào Niết-bàn.

2/ A-na-hàm thân trung ấm vào Niết-bàn.

3/ A-na-hàm đời sau sanh ra nhập Niết-bàn.

4/ A-na-hàm chuyên cần mong cầu nhập Niết-bàn.

5/ A-na-hàm không cầu mong nhập Niết-bàn.

6/ A-na-hàm tiến lên các cõi trên nhập Niết-bàn.

7/ A-na-hàm lên cõi trời Ca-ni-tra nhập Niết-bàn.

8/ A-na-hàm đến định Vô sắc nhập Niết-bàn.

9/ A-na-hàm thân ở vị A-na-hàm mà hạnh hướng A-la-hán.

Đây nói về các bậc A-na-hàm, ngay đời này hoặc đời sau vào Niết-bàn.

  1. A-la-hán

Dùng vô ngại đạo Kim cương tam-muội thứ chín phá chín món Hoặc cõi Sắc, Vô sắc và tất cả Hoặc, được tận trí giải thoát đạo thứ chín, tu tất cả thiện căn gọi là quả A-la-hán. A-la-hán có chín thứ:

1/ Thối pháp.

2/ Bất thối pháp.

3/ Tử pháp.

4/ Thủ pháp.

5/ Trụ pháp.

6/ Tất tri pháp.

7/ Bất hoại pháp.

8/ Tuệ thoát.

9/ Cộng thoát.

Trí kém, tinh tấn yếu, thực hành ngũ pháp mà lui sụt gọi là A-la-hán Thối pháp. Trí tuệ sắc bén, siêng năng hành ngũ pháp không lùi, gọi là A-la-hán Bất thối pháp. Trí kém, tinh tấn yếu mà nhàm chán mạnh suy nghĩ muốn tự sát, gọi là A-la-hán Tử pháp. Trí kém, tinh tấn mạnh tự bảo vệ thân, gọi là A-la-hán Thủ pháp. Trí bậc trung, tinh tấn bậc trung không tăng không giảm, trụ vào bậc trung gọi là A-la-hán Trụ pháp. Trí có phần sắc bén, chuyên cần tinh tấn được bất hoại tâm giải thoát gọi là A-la-hán Tất tri pháp. Trí sắc bén, tinh tấn mãnh liệt mới được bất hoại tâm giải thoát gọi là A-la-hán Bất hoại pháp. Không nhập trong các thiền định vị đáo địa mà các lậu đã sạch, gọi là A-la-hán Tuệ giải thoát. Được các thiền cũng được Diệt tận định, các lậu dứt sạch, gọi là A-la-hán Cộng giải thoát.

A-la-hán dịch nghĩa là Vô sanh, không còn trở lại sanh tử. Người tu theo hạnh Thanh văn đến quả A-la-hán là tột cùng. Trong đây chia ra chín hạng.

Hạng thứ nhất là thối pháp. Do trí kém, tinh tấn yếu, thực hành ngũ pháp mà lui sụt nên gọi thối pháp.

Thứ hai, người trí tuệ sắc bén siêng năng tu hành ngũ pháp không lùi gọi là A-la-hán bất thối pháp. Ngũ pháp tức là các tư hoặc: tham, sân, si, mạn, nghi. Đối năm pháp này tinh tấn đối trị không lùi gọi là bất thối.

Thứ ba, người trí kém, tinh tấn yếu suy nghĩ muốn tự sát gọi là A-la-hán tử pháp. Đó là những vị A-la-hán quán bất tịnh… thấy thân này chán quá, gớm quá nên muốn tự sát.

Thứ tư, người tuy trí kém nhưng tinh tấn mạnh, muốn giữ thân này khỏe mạnh để tu hành gọi là A-la-hán thủ pháp.

Thứ năm, vị này tu hành tinh tấn và trí tuệ đều vừa chừng, gọi là A-la-hán trụ pháp.

Thứ sáu, người trí sắc bén, chuyên cần tinh tấn có thể được tâm bất hoại gọi là A-la-hán tất tri pháp.

Thứ bảy, người trí sắc bén tinh tấn mãnh liệt hơn người trước, bắt đầu được tâm bất hoại, gọi là A-la-hán bất hoại pháp.

Thứ tám, người không nhập các thiền định, chưa đến địa vị mà các lậu đã sạch gọi là A-la-hán Tuệ giải thoát. Đây là trường hợp vị A-la-hán tu không chứng Sơ thiền Nhị thiền Tam thiền Tứ thiền, do trí tuệ thấy rõ được pháp Tứ đế không nghi ngờ không lầm lẫn, những vị đó hiện đời do trí tuệ mà được giải thoát.

Thứ chín, các vị tu chứng các thiền, được Diệt tận định, các lậu dứt sạch, gọi là A-la-hán cộng giải thoát. Cộng tức là trí tuệ và thiền định.

Như vậy trong cách tu giải thoát có hai hạng người. Hạng người trí tuệ mạnh, có khi không nhập định mà vẫn được giải thoát. Tại sao? Tuy không nhập định mà biết rõ cội nguồn của khổ, biết rõ cội nguồn của dính mắc trói buộc, cắt gỡ hết những trói buộc đó thì tự nhiên giải thoát. Còn có những vị vừa tu tập thiền định tăng trưởng sức mạnh vừa dùng trí bén để gỡ bỏ những trói buộc, mau đến kết quả giải thoát. Hiện giờ chúng ta tu vừa thiền định vừa dùng trí tuệ quán, đó là cộng giải thoát.

Đệ tử Phật có hai vị gọi là hàng tướng quân trong chánh pháp, ngài Xá-lợi-phất trí tuệ đệ nhất và ngài Mục-kiền-liên thần thông đệ nhất, do sức thiền định nên được thiền định đệ nhất. Như vậy, người tu không nhất thiết phải giống hệt nhau. Có người tu trí nhiều, có người tu định nhiều. Định nhiều trí ít đưa đến sức mạnh phi thường là thần thông, trí nhiều định ít không đặt nặng thần thông nhưng nhờ trí tuệ thấu suốt, dứt sạch phiền não nhập Niết-bàn.

Có vị A-la-hán đối với pháp hữu vi rất nhàm chán tự mãn, không muốn làm các việc công đức, chỉ đợi thời nhập Niết-bàn. Có vị A-la-hán mong cầu Tứ thiền, Tứ định Vô sắc, Tứ đẳng tâm, Bát giải thoát, Bát thắng xứ, Thập nhất thiết xứ nhập, Cửu thứ đệ định, tu Lục thần thông, Nguyện trí, Vô tránh tam-muội, Siêu việt tam-muội, huân thiền, tam giải thoát môn và Phóng xả. Lại y cứ trí sắc bén chuyên cần tinh tấn nhập các thiền công đức, gọi là A-la-hán đắc Bất thối pháp, Bất hoại pháp.

Phân biệt về thái độ của các vị A-la-hán, có A-la-hán hơi bi quan, hơi tự mãn, chỉ chờ nhập Niết-bàn. Còn những vị A-la-hán hăng hái tu tất cả pháp, pháp nào của Phật dạy đều đem ra ứng dụng. Các vị thành tựu Cửu thứ đệ định, đắc lục thông, tu Nguyện trí… được tất cả rồi sau mới nhập Niết-bàn. Như vậy các vị này tích cực hơn.

Tóm lại, người tu tứ quả Thanh văn dứt được phiền não, đến Niết-bàn có gần xa khác nhau. Tất cả đều lấy Tứ đế làm nền tảng, làm gốc để phát triển trí tuệ. Pháp Tứ đế rất quan trọng, ngay khi chúng ta tu tập đây cũng lần lượt áp dụng. Trước tiên xét thấy cái khổ sanh tử, biết nó là do tập nghiệp phiền não gây ra, dứt nghiệp là diệt đế, muốn dứt nghiệp phải làm chủ lấy mình, không theo vọng tưởng, đó là tu tập đạo đế. Từ xưa đến nay đệ tử Phật không rời xa Tứ đế này.

IX- QUẢ BÍCH-CHI PHẬT

Nếu khi không có Phật ra đời, không có giáo pháp và các đệ tử Phật, khi ấy có những vị ly dục Bích-chi Phật ra đời. Bích-chi Phật có ba bậc: thượng, trung, hạ.

Có một quả khác không do pháp Tứ đế của Phật, lại do công phu riêng, đó là Bích-chi Phật. Bích-chi Phật, Trung Quốc dịch nghĩa là Phật Độc giác. Độc là riêng, giác là giác ngộ, nghĩa là chỉ riêng mình quán chiếu rồi được giác ngộ chứ không phải do nghe pháp của Phật. Thanh văn là được nghe lời Phật dạy, thấu suốt lý Tứ đế mà được giải thoát, còn các vị này ra đời không gặp Phật, không được gặp kinh điển, không được gặp đệ tử Phật, chỉ do quán lẽ thật của cuộc đời mà được giác ngộ. Người thành tựu quả Độc giác gọi là Bích-chi Phật.

Như ở Trung Quốc xưa có đạo Khổng, đạo Lão, những vị này không gặp Phật pháp. Nhưng Lão Tử cũng là người thức tỉnh, người có đôi phần giác do tự nghiệm tự chứng, không do học hỏi. Đây cũng là trường hợp Độc giác. Giác ngộ thức tỉnh không phải chỉ riêng có trong đạo Phật, nhưng theo giáo lý thì phân chia cho dễ hiểu.

  1. Bích-chi Phật bậc hạ

Vị đã chứng Tu-đà-hoàn hoặc Tư-đà-hàm. Tu-đà-hoàn phải sanh trong nhân gian bảy lần, đến lần thứ bảy nếu không gặp Phật pháp, không được làm đệ tử Phật, cũng không sanh đến lần thứ tám, khi ấy chứng Bích-chi Phật. Tư-đà-hàm còn sanh lại nhân gian một lần, nếu không gặp Phật pháp, không được làm đệ tử Phật cũng không sanh đến lần thứ hai, khi ấy chứng Bích-chi Phật.

Trường hợp Bích-chi Phật bậc hạ là các vị Tu-đà-hoàn tái sanh đến lần thứ bảy, không gặp Phật pháp, cũng tự giác ngộ; các vị Tư-đà-hàm tái sanh một lần không gặp Phật pháp, tự giác ngộ, được quả Bích-chi Phật. Như thế chúng ta càng tin mạnh hơn về nhân duyên tu tập. Đời trước gặp Phật, được quả Tu-đà-hoàn tức là được vào dòng thánh, đời sau chót không gặp Phật, không gặp giáo pháp, chúng ta cũng không lui sụt. Đã có trí tuệ tỉnh giác, tự quán sát sự vật chung quanh thấy nó sanh rồi diệt, quán rõ thấy rõ liền được giác ngộ chứng quả Bích-chi Phật. Như vậy đã có hạt giống mạnh mẽ thì không bao giờ mất. Nhiều người e sợ đời này tu chưa ra gì, lỡ đời sau không gặp được Phật pháp mất hết chủng tử tu tập. Đừng lo mất, chỉ lo mình không gieo trồng; đã có gieo trồng rồi thì không mất. Đời này tu được bao nhiêu tích lũy đó, đời sau tùy duyên gặp Phật pháp thì tiến nhanh, không gặp Phật pháp thì cũng có cơ hội giác ngộ.

  1. Bích-chi Phật bậc trung

Có người nguyện làm Bích-chi Phật, khi gieo căn lành Bích-chi Phật, căn lành thuần thục đối với Phật pháp không có, chán đời đi xuất gia đắc đạo, đây là Bích-chi Phật.

Như vua nước Ba-la-nại mùa hạ nóng bức ở trên lầu cao, ngồi sàng thất bảo, sai thể nữ tán hương ngưu đầu chiên-đàn xoa vào thân. Thể nữ tay đeo rất nhiều xuyến, khi xoa vào mình vua xuyến khua vang tai. Vua rất ghét bảo thứ lớp cởi bớt xuyến, xuyến còn ít thì tiếng khua cũng ít, khi chỉ còn một chiếc thì im lặng không khua. Khi ấy vua tự giác ngộ: “Quốc gia, quan dân, cung nhân thể nữ, nhiều việc thì nhiều não cũng giống như thế.” Tức thì lìa dục riêng ở một chỗ suy gẫm chứng Bích-chi Phật, râu tóc tự rụng, mặc y tự nhiên, rời cung điện dùng sức thần túc vào núi xuất gia. Nhân duyên như thế, là Bích-chi Phật bậc trung.

Các vị này cũng gặp thời không có Phật nhưng có gieo căn lành Bích-chi Phật, chán đời đi xuất gia rồi đắc đạo. Như vua nước Ba-la-nại trong câu chuyện này, tuy không học câu kinh nào, không gặp thầy chỉ dạy, nhưng tự nghiệm lấy chính mình. Khi cung nữ xoa hương phấn vào mình, tay mang xuyến nhiều nên khua vang, vua khó chịu bảo cởi bỏ bớt, cởi bỏ một chiếc thì thấy nó kêu ít một chút, bỏ chiếc nữa thì nó kêu ít chút nữa, bỏ riết còn một chiếc thì hết kêu. Vua nghiệm mình nhiều việc, nhiều việc thì rối loạn, cũng như thế bỏ hết mọi việc ngồi một mình tu thì hết rối loạn. Do đó thức tỉnh lìa dục, riêng ở một chỗ suy gẫm chứng Bích-chi Phật. Đây là Độc giác bậc trung.

  1. Bích-chi Phật bậc thượng

Có người cầu Phật đạo, sức trí tuệ và tinh tấn kém do gặp nhân duyên lui sụt, đến khi không có Phật ra đời, không Phật pháp và đệ tử Phật, mà hành thiện căn được thuần thục thành Bích-chi Phật, có tướng hảo hoặc ít hoặc nhiều, nhàm chán thế tục đi xuất gia đắc đạo là Bích-chi Phật bậc thượng.

Bích-chi Phật bậc thượng, do tự mình xưa đã có gieo trồng căn lành nơi Phật pháp, nhưng sức trí tuệ tinh tấn còn kém nên chưa đắc quả. Đến thời sanh ra không gặp Phật và đệ tử Phật, thiện căn chín muồi liền phát tâm đi tu ngộ đạo, chứng quả Bích-chi Phật.

Như thế mới thấy, chúng ta tu Phật không có gì thiệt thòi mất mát. Nhiều vị tu ở chùa năm năm mười năm rồi không biết lý do gì lui sụt, trở lại thế gian. Người đời thấy vậy chê cười, cho rằng ông thầy đó tu không ra gì. Sự thật không có gì mất, tu được một chặng, tích chứa chủng tử lành, hết thời gian phàm tục thì hướng tới tu nữa, mau đắc đạo.

Trong kinh có kể, Tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc tu chứng quả A-la-hán, gặp các thiếu nữ mười lăm mười sáu tuổi, bà bảo mấy cô phát tâm xuất gia làm Tỳ-kheo-ni. Các cô thưa sợ tu không được, phạm giới đọa địa ngục. Bà nói, không sao đâu, đọa địa ngục rồi lên tu lại. Tại sao bà nói như thế? Người tu dù chưa đi đến nơi, dù có phạm tội đọa địa ngục, nhưng khi hết nghiệp địa ngục có cơ hội trở lên họ nhớ chủng tử trước lại tu mau tiến. Còn hơn người không có chủng tử, bị đọa địa ngục rồi lên không biết gì hết, lại lăng xăng phạm tội đọa nữa. Nhiều khi chúng ta hiểu lầm “đời này tu lôi thôi, đời sau mất chủng tử đó rồi không gặp đạo.” Hiện tại đã có gieo chủng tử, về sau có cơ hội sẽ nhớ thì cũng tu lại, không mất. Hiểu chỗ này chúng ta yên lòng tu, ngày nào có công phu là ngày đó có chủng tử lành, có chủng tử lành rồi không sớm thì chầy cũng tiến. Đó là ý nghĩa rất rõ ràng.

Đối trong các pháp, trí tuệ cạn được vào gọi là A-la-hán, trí tuệ bậc trung là Bích-chi Phật, trí tuệ bậc sâu là Phật. Như ở xa nhìn cây, chỉ thấy cây không phân biệt được cành; lại gần hơn phân biệt được cành, không phân biệt hoa lá; đến dưới cội cây nhìn lên mới phân biệt rành rõ cành lá hoa quả.

Đây giản trạch thế nào là Phật, thế nào là A-la-hán, thế nào là Bích-chi Phật. A-la-hán là trí tuệ cạn, Bích-chi Phật là trí tuệ bậc trung, Phật là trí tuệ sâu thẳm. Như người đứng xa nhìn cái cây, thấy tổng quát không phân biệt cành lá rõ ràng, dụ cho trí tuệ của A-la-hán. Người đứng gần hơn nhìn thấy cây, có thể phân biệt được cành lá, nhưng chưa phân biệt hoa quả, dụ cho trí tuệ Bích-chi Phật. Người đứng sát cội cây nhìn lên thấy rõ ràng cành lá hoa quả, từng chi tiết không nghi ngờ, dụ cho trí tuệ sâu của Phật. Cùng một sự vật, tùy theo trí tuệ cạn sâu mà chỗ thấy hiểu phân biệt khác nhau. Đức Phật do sức tu chứng thâm sâu và công hạnh độ sanh dài lâu nên trí tuệ của ngài vượt hơn hẳn các bậc A-la-hán và Bích-chi Phật.

Thanh văn biết tất cả hạnh vô thường, tất cả pháp vô ngã, chỉ Niết-bàn là hoàn toàn an ổn. Thanh văn hay quán như thế, mà không thể phân biệt biết sâu và vào sâu. Bích-chi Phật có phân biệt mà cũng không thể phân biệt biết sâu và vào sâu. Phật biết các pháp phân biệt cứu xét rõ ràng, biết tận cùng và vào tận cùng.

Trí tuệ của Thanh văn, biết tất cả hạnh vô thường, tất cả pháp vô ngã, biết Niết-bàn là hoàn toàn an ổn. Chỉ quán biết như thế nhưng không thể phân biệt vào sâu. Bích-chi Phật cũng quán biết, có thể phân biệt nhưng không phân biệt vào sâu. Chỉ có Phật biết tận cùng các pháp, phân biệt cứu xét rõ ràng, vào tận cùng.

Các hạnh vô thường, các pháp vô ngã, Niết-bàn tịch tịnh là tam pháp ấn. Ấn là in, như con dấu in trên tờ giấy trắng, con dấu có chữ gì thì hiện ra chữ ấy không sai chạy. Ba pháp vô thường, vô ngã, Niết-bàn tịch tịnh là con dấu chắc thật, đóng trên các pháp không sai chạy. Hàng đệ tử Phật và các bậc thánh đều biết và quán sát lẽ thật này.

Giáo lý của các kinh A-hàm lấy ba pháp này làm chỗ chân thật chứng minh, ai nói pháp Phật mà rời ba pháp này đều không phải. Chúng ta xét thấy tất cả các hành động, các hiện tượng thế gian đều là tướng vô thường sanh diệt, đó là một lẽ thật. Chư pháp vô ngã là các pháp duyên sanh, duyên tụ họp không có chủ thể cố định, đó cũng là lẽ thật. Thấy các hạnh vô thường, các pháp vô ngã, đến đó không phải là dứt hết; phải đến chỗ không sanh không diệt, đó là Niết-bàn an lạc. Các hàng Thanh văn quán biết ba pháp này nhưng còn cạn cợt ở ngoài. Đến hàng Duyên giác Bích-chi Phật cũng quán ba pháp đó nhưng có thể biết sâu hơn. Phật thì biết tột cùng, biết rành rõ không còn tý nào nghi ngờ. Tu Phật là đến chỗ hoàn toàn giác ngộ, không phải tu lưng chừng lôi thôi một chút ít mà xong việc.

Nhân đây tôi giải thích chữ truyền tâm ấn , danh từ này chỉ có trong Thiền tông. Truyền tâm ấn là sự ấn chứng thân truyền giữa thầy trò, thầy thấy biết thế nào thì đệ tử cũng thấy biết đúng như vậy, thầy ấn tâm cho trò là chấp nhận người đệ tử này hiểu đúng đạo lý như thật.

Như tổ Huệ Khả khi được Sơ tổ Đạt-ma chỉ cho lối vào, ngài nhận được và tiến tu. Một hôm ngài Huệ Khả thưa: Tâm con bặt hết các duyên. Tổ Đạt-ma bảo: Coi chừng rơi vào không. Ngài thưa: Rõ ràng thường biết làm sao không được. Tổ bảo: Ngươi được như thế, ta cũng được như thế, chư Phật cũng như thế, nên khéo giữ gìn.

Đây là truyền tâm ấn. Chỗ này không có gì mầu nhiệm, khi nào đệ tử trình bày chỗ tu của mình đúng như cái thấy biết của thầy, thì thầy nói là đúng, là được. Ngang đó đệ tử hết nghi, thầy cũng hoàn toàn chấp nhận đệ tử. Lẽ thật của đạo là như thế, không phải như mọi người hiểu lầm, cứ nói truyền tâm ấn là phải làm sao cho có vẻ la lùng huyền bí. Cái gì có tính cách lạ thường đều không phải của đạo Phật.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.