Tọa Thiền Tam Muội giảng giải

Chương I - Tổng Khởi



Quyển Tọa Thiền Tam-muội này do chư tổ gom chép, biên soạn những pháp thiền căn bản thiết yếu cho người sơ cơ. Trong đó ngài Samgharaksa (Tăng-già-la-xoa) đã nói rõ pháp quán đối trị tướng dâm nhuế si của chúng sanh. Dứt trừ gốc bệnh mới có thể tiến tu, đây là cửa ban đầu vào đạo. Ngài Cưu-ma-la-thập dịch quyển này từ Phạn sang Hán tại Trường An vào năm 402 đời Dao Tần.

Trong lúc nghiên cứu pháp tu thiền, tự mình tìm con đường thích hợp để ứng dụng, tôi thấy lời dạy trong đây rõ ràng, có lợi ích rất lớn nên phát tâm dịch ra tiếng Việt. Trong chương trình giảng dạy Thiền Căn Bản, tôi chọn ba quyển: Tọa Thiền Tam-muội, Pháp Yếu Tu Tập Tọa Thiền Chỉ Quán và Lục Diệu Pháp Môn để hướng dẫn đường lối tu cụ thể, giúp cho những người sơ cơ hiểu rõ thứ tự từng bước tiến tu.

Chánh văn:

Phật nói khó được nghe,

Được nghe mừng cũng khó,

Điều đại nhân ưa nghe,

Kẻ tiểu nhân lại chán.

Chúng sanh đáng thương xót, 

Rơi đường hiểm lão tử, 

Kẻ quê mọi ân ái, 

Chỗ sợ, ngu không sợ.

Thế giới dù lớn nhỏ, 

Pháp vẫn không thường còn, 

Tất cả không lâu bền, 

Tạm hiện như điển chớp.

Thân này thuộc già chết, 

Chỗ về của các bệnh, 

Da mỏng che bất tịnh, 

Ngu muội bị nó lừa.

Người thường bị giặc già 

Cướp mất sắc trai trẻ, 

Như cành hoa xàu héo 

Rã cánh hết quý giá.

Công đức vua Đảnh Sanh 

Ngồi chung trời Đế-thích, 

Phước báo rất rộng lớn 

Ngày nay lại còn đâu!

Vua ấy trong trời người

Dục lạc đủ hơn hết,

Khi chết rất đau khổ,

Do đó khá nhận ý.

Các dục trước vui nhỏ,

Sau thảy thành khổ lớn, 

Như oán trước thấy tốt, 

Diệt tộc họa ở sau.

Thân này là đồ nhơ, 

Chín lỗ thường chảy nhớp, 

Cũng như ghẻ na-lợi, 

Thầy thuốc khôn bề trị.

Xe xương sức rất kém, 

Gân mạch ràng, thức chuyển, 

Ngươi cho là xe đẹp, 

Nhận thích không hổ thẹn.

Người chết gom một chỗ 

Vất bỏ đầy gò nổng, 

Lúc sống cùng tiếc giữ 

Khi chết đều vất đi.

Thường phải nghĩ như thế, 

Nhất tâm quán chớ loạn, 

Phá ngu mê đen tối 

Cầm đuốc rạng sáng soi.

Nếu bỏ Tứ niệm chỉ, 

Tâm ác nào chẳng tạo, 

Như voi hăng không móc 

Trọn không theo lối khiển.

Ngày nay gây nghiệp này 

Ngày mai tạo việc kia, 

Ưa thích không thấy khổ 

Bất ngờ giặc chết đến!

Lo lắng việc của mình, 

Việc kẻ khác cũng tính, 

Giặc chết không đợi giờ 

Đến thì không phương thoát.

Như nai khát tìm suối, 

Vì uống nên đến nước, 

Thợ săn không từ bi, 

Không đợi uống xong, giết.

Người ngu cũng như thế, 

Siêng tạo các sự nghiệp, 

Chết đến không đợi giờ, 

Ai sẽ vì ngươi giữ?

Người tâm mong giàu sang, 

Ngũ dục lòng chưa thỏa, 

Các vị đại quốc vương 

Đâu khỏi được nạn này.

Chư tiên giỏi chú thuật 

Cũng không thoát sanh tử, 

Voi lớn vô thường đạp 

Trùng kiến đồng với đất.

Cho đến tất cả người, 

Chư Phật bậc Chánh giác, 

Vượt qua dòng sanh tử 

Cũng vẫn không thường ở.

Vì thế nên phải biết, 

Điều ông đáng yêu thích, 

Hẳn nên sớm bỏ lìa, 

Nhất tâm cầu Niết-bàn.

Sau khi mất thân này,

Ai sẽ nhận biết ta?

Kẻ được gặp Pháp bảo 

Và người chưa được gặp, 

Rất lâu Phật nhật xuất 

Phá tối lớn vô minh.

Phóng ra các ánh sáng

Chỉ người đạo, phi đạo,

Ta từ đâu mà đến?

Đi sẽ trở về đâu?

Chỗ nào được giải thoát?

Nghi này ai thấu rõ?

Phật Thánh nhất thế trí

Lâu lắm mới ra đời.

Nhất tâm chớ buông lung, 

Hay phá nghi của người, 

Kia không ưa thật lợi, 

Mến thích tâm tệ ác.

Ngươi là chúng sanh tốt 

Nên cầu thật pháp tướng.

Ai biết khi nào chết?

Chết rồi đến ở đâu?

Ví như đèn trước gió 

Đâu biết khi nào tắt.

Pháp chí đạo không khó, 

Đại thánh chỉ việc nói, 

Nói trí và cảnh trí, 

Hai việc không nhờ ngoài.

Ngươi nếu không buông lung 

Nhất tâm thường hành đạo, 

Không lâu được Niết-bàn 

Chỗ đệ nhất an lạc.

Trí sáng gần người lành, 

Hết lòng kính Phật pháp, 

Nhàm chán thân bất tịnh, 

Lìa khổ được giải thoát.

Chỗ vắng tu chí lặng, 

Ngồi kiết già trong rừng, 

Xét tâm không buông lung, 

Ngộ ý, biết các duyên.

Nếu không chán cõi đời, 

Yên ngủ không tự thức, 

Không nghĩ đời vô thường, 

Đáng sợ mà chẳng sợ.

Hồ phiền não không đáy, 

Biển sanh tử không bờ,

Thuyền vượt khổ chưa đóng 

Đâu thể vui ngủ nghỉ!

Do đây phải giác ngộ,

Chớ để ngủ che tâm.

Trong bốn thứ cúng dường, 

Biết lượng, biết vừa đủ.

Sợ lớn chưa thoát được, 

Phải chuyên cần tinh tấn, 

Tất cả khổ khi đến,

Hối hận không thể kịp.

Mặc y ngồi cội cây, 

Đúng như pháp được ăn, 

Chớ vì tham món ngon 

Mà tự đến hư hỏng.

Món ăn qua khỏi cổ 

Ngon dở đều không khác, 

Ưa ngon sanh buồn khổ 

Bởi thế chớ nên ưa.

Hành nghiệp trong thế giới, 

Ngon dở đâu chẳng trải, 

Tất cả đều thọ đủ, 

Phải lấy đó tự ngăn.

Nếu ở trong loài thú 

Nhai cỏ làm vị ngon, 

Địa ngục nuốt hoàn sắt 

Sắt đốt cháy hừng hực.

Nếu sanh quỷ bệ-lệ, 

Máu mủ đồ phẩn uế,

Dãi đàm, các bất tịnh,

Lấy đó làm món ngon.

Nếu được sanh thiên cung, 

Trong cung đẹp thất bảo, 

Ăn toàn thức tô-đà, 

Thiên nữ làm vui lòng.

Sanh làm người hào quý 

Món ngon đủ các thứ, 

Tất cả từng trải qua 

Nay sao còn ưa thích?

Qua lại trong thế giới, 

Chán trải việc khổ lạc, 

Chỉ chưa được Niết-bàn, 

Phải siêng cầu lợi này.

Giảng:

Phật nói khó được nghe,

Được nghe mừng cũng khó,

Điều đại nhân ưa nghe,

Kẻ tiểu nhân lại chán.

Chúng sanh đáng thương xót, 

Rơi đường hiểm lão tử, 

Kẻ quê mọi ân ái, 

Chỗ sợ, ngu không sợ.

Phật nói khó được nghe, được nghe mừng cũng khó. Chúng ta được nghe lời Phật dạy đã là điều khó, nghe rồi vui mừng thích thú lại càng khó hơn. Tại sao? Vì chúng ta chỉ thích nghe những điều vui tai, êm ái nhẹ nhàng, còn những điều khô khan nhưng đúng lẽ thật thì không ai thích. Đức Phật không nói những chuyện đúng sở thích của chúng ta. Mọi người, ai cũng muốn được khen mình đẹp; đáng kính. Phật lại nói thân mình nhớp nhúa, tạm bợ; nghe như thế có mừng không? Lời nói thật thì khó nghe, lời nói tán tụng thì dễ chịu. Đó là bệnh của con người. Chúng sanh ít ai chịu nghe lời Phật nên nói là khó được nghe . Nghe rồi lại hoan hỷ, mừng rỡ nghe được điều chưa từng nghe, cũng rất khó. Có túc duyên nhiều đời mới được hiểu như vậy, nếu mới tu sơ sơ thì không ưa thích nghe.

Điều đại nhân ưa nghe, kẻ tiểu nhân lại chán. Những điều mà người lớn, người trí thức chịu nghe thì người thường trí kém không thích. Như người không hiểu Phật pháp, nghe nói thân này là nhớp nhúa tạm bợ thì chắc chắn không thích, bịt tai bỏ đi.

Chúng sanh đáng thương xót, rơi đường hiểm lão tử. Tất cả chúng sanh đều đáng thương xót, cam chịu rơi trong đường hiểm sanh già bệnh chết. Tại sao? Bởi vì họ thích nghe lời tán tụng khen ngợi không xác thực, mà không thích nghe lẽ thật, không thích nghe lời chỉ dạy thoát khổ.

Kẻ quê mọi ân ái, chỗ sợ ngu không sợ. Người không hiểu biết bị Tổ quở là kẻ quê mùa thích những điều ân ái ràng buộc, thích làm tôi mọi của ái dục. Đó là chỗ người trí sợ mà kẻ ngu không sợ. Người trí sợ những tâm niệm bị cột trói trong ái dục, là nguyên nhân trầm luân, kẻ ngu lại thích bị gia đình cột trói.

Qua các câu mở đầu, Tổ chỉ dạy tổng quát về chúng sanh, thế nào là đại nhân, thế nào là tiểu nhân, ai là người ngu, ai là kẻ trí.

Chúng ta tự kiểm lại mình, tự xét chứ không ai phê phán được. Tự xét rồi thầm biết, thầm biết rồi ráng mà vươn lên.

Thế giới dù lớn nhỏ, 

Pháp vẫn không thường còn, 

Tất cả không lâu bền, 

Tạm hiện như điển chớp.

Nhìn lại thế giới chúng ta đang ở đang nương tựa đây, nó là thường còn hay là vô thường? Thiên tai bão lụt khắp nơi, động đất ở Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản… Mới thấy bình an, ngủ một đêm thức dậy thành tai họa, không có gì bảo đảm. Thế mà chúng ta cứ ngỡ nó là còn mãi mãi, nó là bất di bất dịch… Đó là cái hiểu sai lầm. Cho nên ở đây Tổ nhắc cho nhớ, dù thế giới lớn hay nhỏ vẫn là tướng vô thường tạm bợ không lâu bền, tạm hiện như điện chớp, mới thấy lóe sáng rồi mất.

Thân này thuộc già chết, 

Chỗ về của các bệnh, 

Da mỏng che bất tịnh, 

Ngu muội bị nó lừa.

Hai câu trên ngài nói thân chúng ta thuộc già, chết. Có người nào mang thân này mà khỏi già chết không? Đó là con đường phải đến, chỉ có người sớm kẻ muộn thôi. Thân này chẳng những thuộc già chết mà còn là ổ chứa bệnh hoạn. Có ai dám khẳng định từ bé đến giờ chưa biết bệnh là gì? Ai cũng mang đủ thứ bệnh, không bệnh này cũng bệnh khác, chưa có người không bệnh.

Da mỏng che bất tịnh, ngu muội bị nó lừa . Thân chúng ta bên ngoài chỉ có lớp da mỏng tạm coi sạch sẽ một chút, bên trong lại chứa toàn đồ nhớp nhúa, chỗ nào khơi ra cũng nhờm gớm, từ đầu cho tới chân. Thân chúng ta chỉ có dáng vẻ bên ngoài, kẻ ngu bị nó lừa, nhìn dáng bề ngoài cho là đẹp là xấu… Người trí thấy biết tột cùng, bên ngoài tốt đẹp đến đâu cũng chỉ là một lớp da mỏng bao bọc, bên trong thân là bất tịnh không có gì khác, vì thế không bị lừa.

Người thường bị giặc già 

Cướp mất sắc trai trẻ, 

Như cành hoa xàu héo 

Rã cánh hết quý giá.

Ở đời, ai cũng bị giặc già cướp mất sức trai trẻ. Năm nay hai mươi tuổi, mười năm sau ba mươi, rồi đến bốn mươi, năm mươi… tất cả tuổi trẻ, vẻ đẹp, sức tinh nhanh đều không còn. Tuổi già như cành hoa xàu héo. Chúng ta thấy cành hoa nào đang tươi cũng đều dễ thương muốn hái, muốn cầm nắm, nhưng khi nó héo tàn có ai muốn cầm giữ nó không? Ở Trúc Lâm có những lúc tôi thấy buồn cười, khách đi chùa thấy vườn hoa đẹp, dù có ghi bảng yêu cầu đừng hái hoa nhưng họ cũng ngắt một cái, cầm đi chơi một hồi thấy nó héo thì quăng. Con người thời tuổi trẻ thấy là đẹp là quý, nhưng về già thì mất hết tự hào, không còn ai ngó ngàng đến. Vì vậy trong đây nói Như cành hoa xàu héo, rã cánh hết quý giá.

Công đức vua Đảnh Sanh 

Ngồi chung trời Đế-thích, 

Phước báo rất rộng lớn 

Ngày nay lại còn đâu!

Kinh A-hàm dẫn tích vua Đảnh Sanh. Vị vua này có phước đức nhiều nên cầu gì được nấy. Ông muốn cầu bảy báu thì trời mưa bảy báu đầy cả dinh thự, đầy kho lẫm. Mong cầu cuối cùng của ông là lên chơi cõi trời, liền được toại nguyện. Vua trời Đế-thích thấy ông liền mừng đón mời ông ngồi chung tòa. Quán sát cõi trời ông khởi tâm ham thích, bèn thầm nghĩ xô Đế-thích xuống để giành ngôi. Vừa khởi nghĩ thì ông bị rớt xuống lại trần gian.

Như vậy, phước báo của vua Đảnh Sanh thật to lớn, cầu gì được nấy, chỉ vì lòng tham không bờ bến nên bị rớt lại thế gian chịu khổ. Tất cả phước báo dù to lớn đến đâu, sau cùng rồi cũng tan. Chúng ta thường ham thích muốn được phước nhiều để hưởng, nhưng sung túc chừng nào thì chết yểu chừng nấy. Phước báo nhiều không có lợi, không phải là cái đáng mong cầu.

Vua ấy trong trời người 

Dục lạc đủ hơn hết, 

Khi chết rất đau khổ, 

Do đó khá nhận ý.

Vua Đảnh Sanh ở trong cõi trời cõi người tất cả dục lạc đầy đủ hơn ai hết, đến giờ phút chót phải khổ rồi chịu chết, không ai ngó ngàng. Chúng ta phải hiểu ý này nên sớm lo tu hành, không nên tham đắm dục lạc thế gian.

Các dục trước vui nhỏ, 

Sau thảy thành khổ lớn, 

Như oán trước thấy tốt, 

Diệt tộc họa ở sau.

Vui dục lạc lúc đầu chỉ là cái vui nhỏ, nhưng lại thành khổ lớn. Như những đứa trẻ ngu dại hút xì-ke ma túy, lúc được hút thì vui không? Vui! Nhưng vui được bao lâu? Vui nhiều lắm là năm ba phút, đến khi nghiện thì khổ suốt đời. Như thế mà người ta lại đắm mê trong đó, thật đáng thương. Như oán trước thấy tốt, diệt tộc họa ở sau . Khi chúng ta tạo nhiều oán thù, thấy mình thắng người, hơn người rồi tưởng như vậy là tốt. Nhưng người ta ôm mối oán thù với mình có ngày họ tiêu diệt mình. Vui trong dục lạc cũng như vậy, lúc đầu tốt đẹp mà sau chịu khổ lâu dài.

Thân này là đồ nhơ, 

Chín lỗ thường chảy nhớp,

Cũng như ghẻ na-lợi,

Thầy thuốc khôn bề trị.

Thân chúng ta bất tịnh, bên trong chứa đồ nhơ, hở chỗ nào thì chảy ra toàn những thứ nhớp. Như con mắt, lỗ mũi xem như rất quan trọng, vậy mà thỉnh thoảng chảy ra ghèn nhớt, nước mũi… rất gớm. Đã gớm thì biết rằng những thứ đó không phải tốt đẹp sạch sẽ, quý báu. Nên ở đây nói cũng như ghẻ na-lợi . Ở Ấn Độ ghẻ na-lợi là thứ ghẻ không có thầy thuốc nào trị lành. Ai mắc bệnh này rồi thì phải suốt đời chịu lở lói, khổ sở. Tất cả chúng ta mang thân này toàn là đồ nhớp nhúa, như ghẻ lở hôi hám không ai làm cho nó sạch được. Biết như vậy thì không nên đắm mến để khỏi khổ vì nó.

Xe xương sức rất kém, 

Gân mạch ràng, thức chuyển, 

Ngươi cho là xe đẹp, 

Nhận thích không hổ thẹn.

Thân này do những lóng xương kết lại, gân mạch ràng rịt, thành như một cái xe. Trong đó thần thức chuyển biến khiến thân cử động như chiếc xe đi lại tới lui. Chỉ là một mớ xương gân da thịt ràng rịt làm thân này mà người ta cho là đẹp, thích thú yêu mến nó không biết hổ thẹn. Tổ nhắc nhở điều này để chúng ta đừng tự hào về thân mình.

Người chết gom một chỗ 

Vất bỏ đầy gò nổng,

Lúc sống cùng tiếc giữ

Khi chết đều vất đi.

Đây nói đến lúc cuối cùng của đời người, ai chết rồi thì cũng đều vất bỏ hết. Nhiều khi chúng ta nghĩ tủi cho thân mình, ngày nào còn sống thì anh em cha con vui vẻ thân mật. Lúc có một người chết, thân đã bầm xanh rồi thì cha con anh em không dám lại gần. Mới hôm qua là quý là thương, là thân mật, sao bữa nay lại khinh rẻ vậy? Người thân thuộc chết chúng ta gớm sợ không dám lại gần, mai kia thân chúng ta chết thì sao? Mọi người cũng gớm, không dám lại gần như vậy. Mới ngày nào thân mật, đi đâu cũng không rời mà khi tắt thở, bầm xanh rồi không ai thèm ngó tới, bảo lại gần không dám lại gần. Cho nên lối chôn cất cũng khéo léo, phải có quan tài đậy kín rồi sơn màu mè cho dễ coi, nếu để trống trơn ở ngoài chắc thiên hạ gớm không ai dám tới. Nếu thân này là quý là sạch, khi sống được mọi người mến thương thì khi chết cũng phải như vậy. Vậy thân này là đồ quý hay đồ bỏ? Ở Ấn Độ có thi lâm, là khu rừng để bỏ thây chết. Phật dạy các thầy Tỳ-kheo đến thi lâm quán bất tịnh để nhàm chán, không yêu quý thân.

Thường phải nghĩ như thế, 

Nhất tâm quán chớ loạn.

Lúc sống chúng ta quý tiếc gìn giữ thân, nhưng khi chết thì mọi người đều vất đều quăng nó đi không thương tiếc. Thường nghĩ nhớ quán sát như vậy, chúng ta không si mê lầm chấp thân, quý trọng thân. Nếu không nhất tâm quán xét sự thật, chúng ta sẽ chịu khổ, lệ thuộc vào thân không thoát ra được.

Thân này là đồ bỏ, không đáng quý nhưng chúng ta có nó thì phải làm sao? Phật nói thân là vật bại hoại vô thường nhưng cũng nói thân này mất đi tìm lại được rất khó. Khó được tức là quý, mà đây thì nói thân bất tịnh đáng chê, như vậy có mâu thuẫn không? Phật dạy thân này tuy không ra gì, nhớp nhúa, tạm bợ… nhưng rất cần để tu tập, đem lại lợi ích cho mình và người. Chúng ta phải làm thế nào xứng đáng khi có mặt trên thế gian này. Không phải thấy thân gớm, nhớp quá rồi thả trôi nằm chờ chết, đó là lầm lẫn. Ví dụ chúng ta đi sông đi biển lỡ chìm thuyền, lúc đó bơi ra ngoài bỗng gặp được gốc cây mục. Biết là gốc cây mục không có gì quý, nhưng lúc mình đuối sức bơi không nổi lội không được, đeo gốc cây mục thì khỏi chìm. Bản thân gốc cây mục không quý, nhưng nhờ nó mà mình khỏi chết chìm là quý. Được gốc cây mục rồi chúng ta phải nương nó, cố gắng bơi cho tới bờ. Nếu được nó mà cứ đeo bám ràng rịt, lâu ngày nó rã mình cũng chết chìm luôn, đó là dại khờ. Đức Phật thường dạy, chúng ta có thân này, mượn nó để tu, để làm những điều công đức. Nhờ nó đưa chúng ta tới bờ bên kia, qua khỏi vòng trầm luân. Khinh rẻ nó để chờ chết đó là dại khờ; biết không đáng quý nhưng đem hết khả năng tu tiến đến giác ngộ, đó là người khôn biết dùng thân.

Phá ngu mê đen tối

Cầm đuốc rạng sáng soi.

Nếu bỏ Tứ niệm chỉ,

Tâm ác nào chẳng tạo,

Như voi hăng không móc

Trọn không theo lối khiển.

Phá ngu mê đen tối, cầm đuốc rạng sáng soi , nghĩa là dùng đèn trí tuệ phá ngu mê, dùng đuốc trí tuệ soi sáng lại bản thân chúng ta, đừng đắm mến đừng say mê nó, mà ráng tu. Tứ niệm chỉ , chỗ khác gọi là Tứ niệm xứ , là quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã, nhớ bốn điều này theo đó tu hành. Tâm ác nào chẳng tạo , nếu không tu Tứ niệm chỉ, tâm chúng ta không chừa bất cứ điều ác nào, giống như con voi đang hăng đang mạnh mà không có móc nhọn để kéo lại thì nó không theo sự điều khiển của mình. Vì thế chúng ta tu tứ niệm xứ để dẹp trừ tâm đuổi theo dục lạc thế gian, nếu không thì tâm đắm mê dục lạc khó kìm giữ.

Ngày nay gây nghiệp này 

Ngày mai tạo việc kia, 

Ưa thích không thấy khổ 

Bất ngờ giặc chết đến!

Người đời gây tạo nghiệp khổ mà không thấy biết, nay tạo nghiệp này mai tạo nghiệp kia, cứ chạy theo nghiệp, một hôm nào cái chết đến thì sao? Chừng đó giật mình hối hận không kịp, chỉ có theo nghiệp mà đi, không sao thoát khỏi đau khổ.

Lo lắng việc của mình, 

Việc kẻ khác cũng tính, 

Giặc chết không đợi giờ 

Đến thì không phương thoát.

Chúng ta chẳng những lo lắng việc của mình, việc kẻ khác cũng tính. Việc của mình lo tính phải rồi, việc của người cũng lo không chịu dừng, tưởng như mình hay mình giỏi lắm. Chẳng ngờ việc của mình làm chưa xong, giặc chết đến không hẹn ngày, không chờ lo xong việc. Chết là kẻ giặc lớn cướp mạng sống con người, không ai thoát khỏi nó.

Như nai khát tìm suối, 

Vì uống nên đến nước, 

Thợ săn không từ bi, 

Không đợi uống xong, giết.

Con nai khát nước tìm đến suối để uống nước. Khi nó đang uống, người thợ săn nhìn thấy, chờ nó uống xong rồi mới bắn hay thấy là bắn liền? Thấy là bắn liền. Cái chết đối với chúng ta cũng thế, tính việc này việc kia chưa xong, phải chi thần chết thương tình nán cho mình năm bảy bữa xong rồi nó hãy bắt đi! Mình đang tính dang dở chưa xong mà ngã đùng ra chết. Thế gian có rất nhiều trường hợp như vậy. Biết như thế chúng ta phải khéo hiểu đừng mê lầm chấp trước mọi việc, một khi thần chết tới không biết làm sao mà giải quyết.

Người ngu cũng như thế, 

Siêng tạo các sự nghiệp,

Chết đến không đợi giờ,

Ai sẽ vì ngươi giữ?

Chúng ta như người si mê, lúc sống tạo sự nghiệp này sự nghiệp kia, khi cái chết đến rồi ai sẽ giữ cho mình đây? Vậy mà có nhiều người lớn tuổi, năm mươi sáu mươi đến bảy mươi cũng cứ tính làm cái này, tính làm cái kia. Cứ nỗ lực lo tính, hết sức ra công làm, làm rồi thì không biết ai giữ. Sao không để sức mình làm những việc lợi ích cho chúng sanh, dành thời giờ tu tập, lợi ích biết là bao. Cứ cố gắng tạo sự nghiệp, khi nhắm mắt không đem theo được gì, chỉ có nghiệp theo mình.

Người tâm mong giàu sang,

Ngũ dục lòng chưa thỏa,

Các vị đại quốc vương

Đâu khỏi được nạn này.

Người mong cầu được giàu sang, đối với ngũ dục lòng không bao giờ thỏa mãn. Họ cứ mong hoài, được cái này đòi cái nọ. Các vị đại quốc vương thuở xưa đâu khỏi được nạn này, tức là đâu khỏi được cái chết. Dù tài giỏi giữ được ngôi báu nước nhà rồi cũng phải chết, không sống mãi để hưởng ngũ dục.

Chư tiên giỏi chú thuật 

Cũng không thoát sanh tử, 

Voi lớn vô thường đạp 

Trùng kiến đồng với đất.

Cho đến tất cả người,

Chư Phật bậc Chánh giác, 

Vượt qua dòng sanh tử 

Cũng vẫn không thường ở.

Thường người ta nói mấy ông tiên tu luyện được thuật trường sanh không chết. Điều đó có đúng không? Nếu không chết thì bây giờ chúng ta phải gặp, nhưng có còn vị nào không? Tiên sống lâu hơn người thường thì được một trăm năm hoặc hơn trăm năm rồi cũng chết. Dù chú thuật giỏi mấy cũng không thể giữ thân này được.

Voi lớn vô thường đạp, trùng kiến đồng với đất . Vô thường giống như con voi lớn giẫm đạp tất cả, nào kiến nào trùng cũng như đất dưới chân, ý nói cái chết không tha một ai.

Cho đến tất cả người, chư Phật bậc Chánh giác, vượt qua dòng sanh tử cũng vẫn không thường ở . Đây là chỗ nhiều người hay nghi ngờ. Nói rằng con voi lớn vô thường diệt hết không chừa một ai, đến như đức Phật đã qua dòng sanh tử mà bây giờ cũng không còn. Như vậy, người không tu thì bị già, bệnh, chết, còn Phật tu là để thoát khỏi sanh tử mà sao ngài cũng già, bệnh, chết? Đây là điều hệ trọng cần lưu ý. Kinh điển Đại thừa luôn nhắc nhở chúng ta đừng chấp Phật là thân có ba mươi hai tướng tốt. Nếu cho thân tướng là Phật thì thân ấy bại hoại rồi. Tu là để thoát ly sanh tử, tức là thoát quả sanh tử. Chúng ta mang thân này là kết quả sanh tử, khi tu là dừng tạo nhân sanh tử, bỏ thân này rồi không còn tiếp tục thân khác để chịu sanh tử, không phải tu rồi mình khỏi chết. Phật dạy thân là khổ, nhưng khổ đó từ đâu ra? Từ si mê tham ái nên có thân này, nếu dứt tham ái thì không bị nghiệp dẫn tái sanh, nhân diệt quả diệt, đó là giải thoát sanh tử.

Theo nhà thiền hay theo giáo lý Đại thừa, trong thân sanh tử có cái không sanh tử, kinh Pháp Hoa gọi là viên ngọc sẵn có ở trong chéo áo. Chúng ta tu để nhận ra viên ngọc này, là Phật tánh chân tâm không hình không tướng mà hằng giác hằng tri. Chỗ đó vô thường không đến được, ngay đó là thoát ly sanh tử. Chúng ta tu biết rõ cái nào sanh tử, cái nào không sanh tử để sống trở về với nó. Không phải tìm kiếm ở đâu, không phải chờ đợi đến bao giờ, mà ngay đây chúng ta đã có cái không sanh tử rồi, chỉ vì bỏ quên chạy theo sanh tử, đi liên miên trong vòng luân hồi, một khi thức tỉnh trở về sống lại với tánh giác hằng hữu. Thân này có hoại nhưng tánh giác không hoại. Chỗ này nhà thiền gọi là hoa sen trong lò lửa hay là hòn ngọc trên ngọn núi cháy. Núi cháy mà ngọc vẫn tươi nhuần, hoa sen trong lửa mà vẫn tươi thắm. Ngay trong vô thường có cái thường còn bất sanh bất diệt. Nhận được cái đó mới nhận ra ông Phật thật của chính mình.

Vì thế nên phải biết, 

Điều ông đáng yêu thích, 

Hẳn nên sớm bỏ lìa, 

Nhất tâm cầu Niết-bàn.

Sau khi mất thân này,

Ai sẽ nhận biết ta?

Đây là lời khuyên chúng ta nên sớm bỏ lìa, đừng chấp thân sanh diệt, mà phải cầu Niết-bàn vô sanh. Bởi vì sao? Vì khi mất thân này rồi ai còn nhận biết mình là gì.

Kẻ được gặp Pháp bảo 

Và người chưa được gặp, 

Rất lâu Phật nhật xuất 

Phá tối lớn vô minh.

Đây là lời khuyên người đã gặp Phật pháp và người chưa được gặp Phật pháp. Nên nhớ, lâu lắm Phật mới ra đời một lần. Ngài ra đời để phá trừ vô minh, nó là sức mạnh lôi dẫn chúng ta đi mãi trong luân hồi sanh tử, phá được vô minh mới ra khỏi sanh tử.

Phóng ra các ánh sáng

Chỉ người đạo, phi đạo, 

Ta từ đâu mà đến?

Đi sẽ trở về đâu?

Chỗ nào được giải thoát?

Nghi này ai thấu rõ?

Phật phóng ánh sáng phá trừ vô minh, ánh sáng là trí tuệ giúp chúng ta thấy rõ đâu là con đường nên đi, đâu là con đường không nên đi. Đường nào tà, đường nào chánh, đường nào trầm luân sanh tử, đường nào giải thoát sanh tử, đức Phật chỉ dạy rành rẽ. Tất cả mối nghi ta từ đâu mà đến, khi chết sẽ về đâu, chỗ nào được giải thoát sanh tử… đều được giải quyết.

Phật Thánh nhất thế trí 

Lâu lắm mới ra đời.

Nhất tâm chớ buông lung, 

Hay phá nghi của người.

Đức Phật là bậc Nhất thiết trí, lâu lắm mới ra đời một lần. Nếu chúng ta đối với Phật tinh tấn nhất tâm hướng về, ngài sẽ phá những mối nghi, dẫn dắt chúng ta đi trên đường giải thoát.

Kia không ưa thật lợi, 

Mến thích tâm tệ ác.

Ngươi là chúng sanh tốt 

Nên cầu thật pháp tướng.

Người không ưa thích cái lợi chân thật, mến thích tâm tệ ác, đó là người thế gian phàm phu. Ngươi là chúng sanh tốt, người biết tu biết đến với đạo là chúng sanh tốt. Nên cầu thật pháp tướng , chúng ta nên tìm cho ra pháp tướng chân thật, đừng chạy theo những thứ tạm bợ.

Ai biết khi nào chết?

Chết rồi đến ở đâu?

Ví như đèn trước gió 

Đâu biết khi nào tắt.

Chúng ta không biết chừng nào mình chết, chết rồi đi đâu cũng không biết. Cuộc đời mình cũng như ngọn đèn để trước gió, lúc nào còn cháy còn sáng thì mừng lúc đó, một cơn gió mạnh thổi qua lại tắt mất. Chúng ta không biết khi nào gió thổi, khi nào đèn tắt. Vì sống trong si mê mờ tối nên cần có người dẫn đường.

Pháp chí đạo không khó,

Đại thánh chỉ việc nói,

Nói trí và cảnh trí,

Hai việc không nhờ ngoài.

Pháp chí đạo là pháp chân thật. Đại thánh tức là đức Phật, ngài chỉ thẳng sự việc trước mắt để nói ra pháp chí đạo, không nói chuyện gì xa xôi bên ngoài.

Nói trí và cảnh trí , Phật nói về trí soi sáng và cảnh bị trí soi sáng. Hai việc đó không thể nhờ bên ngoài mà được, phải do chính chúng ta quán sát ngay trong nội tâm của mình.

Ngươi nếu không buông lung

Nhất tâm thường hành đạo,

Không lâu được Niết-bàn

Chỗ đệ nhất an lạc.

Nếu chúng ta là người ham tu, không buông lung thả trôi, chăm chỉ nhất tâm cố gắng hành đạo thì không bao lâu sẽ được Niết-bàn. Niết-bàn là chỗ an vui đệ nhất. Chúng ta cứ ngỡ cái vui đó là vui mừng theo lẽ thường, nhưng mà không phải vậy. Cái vui thông thường là vui đối với khổ, vui trong sanh diệt. Cho nên có khi vui có khi khổ, hoặc hết khổ được vui, hết vui trở lại khổ. Niết-bàn là vượt ra ngoài vui khổ đối đãi, là vui bậc nhất.

Trên thế gian này, vui và khổ luôn luôn đi đôi. Thử tìm xem có cái vui nào không có khổ đi theo. Như người ngồi trong sòng bạc, họ nói là đi chơi hay đi tìm cái khổ? Đi chơi cho vui, nhưng có vui thật không? Nếu thắng thì vui, thua thì khổ. Cái vui của mình là cái khổ của người. Hoặc cái vui của mình ngày nay là cái khổ của mình ngày mai. Không bao giờ có cái vui thật mà người ta lại thích đi chơi tìm cái vui tạm đó. Tất cả các trò vui thế gian đều có cái khổ bên cạnh. Cái vui đau đớn nhất là võ sĩ lên võ đài. Khán giả ngồi ở dưới thấy phe mình hạ được bên kia thì sao? Vỗ tay khen vui. Còn bên bị hạ thì sao? Buồn! Đó là vui trong cái khổ, trong khi người ta bị đánh ngã. Vì thế, người đời tìm cái vui trong đau khổ nhiều hơn là cái vui thật.

Chúng ta hiểu rõ tu là để lìa khổ được vui, để tìm cái vui chân thật không còn đối đãi tạm bợ. Niết-bàn là an vui chân thật, tuyệt đối không còn khổ. Đó không phải là cái vui cười vỗ tay, mà là vui trong thoát ly sanh tử.

Trí sáng gần người lành, 

Hết lòng kính Phật pháp,

Nhàm chán thân bất tịnh, 

Lìa khổ được giải thoát.

Chúng ta luôn luôn phải có trí tuệ sáng suốt tìm bạn lành, tìm những người đạo đức để gần gũi. Đem hết tâm kính tin Tam bảo, nhàm chán thân bất tịnh. Như vậy mới được lìa khổ và đạt được vui giải thoát.

Chỗ vắng tu chí lặng, 

Ngồi kiết già trong rừng, 

Xét tâm không buông lung, 

Ngộ ý, biết các duyên.

Nếu không chán cõi đời, 

Yên ngủ không tự thức, 

Không nghĩ đời vô thường, 

Đáng sợ mà chẳng sợ.

Chúng ta tu bằng cách nào? Đến chỗ vắng vẻ ngồi kiết già tọa thiền, giữ cho tâm ý lặng lẽ không buông lung. Nhận rõ tâm ý mình để không bị nó lôi kéo, biết rõ các duyên bên ngoài là hư vọng tạm bợ. Đó là khéo tu.

Nếu không chán cõi đời , người mà mê thích cõi đời, người đó không bao giờ biết chán, không chán thì yên ngủ không tự thức . Đó là chấp nhận cái mê, mê trọn đời mê trọn kiếp mà không thức tỉnh. Không nghĩ đời vô thường, đáng sợ mà không sợ . Vô thường đáng sợ mà người mê không biết sợ, vì thế chạy theo dục lạc không chán, không tỉnh thức tu tập.

Hồ phiền não không đáy, 

Biển sanh tử không bờ, 

Thuyền vượt khổ chưa đóng 

Đâu thể vui ngủ nghỉ!

Những lời này thật tha thiết. Chỉ cho chúng ta thấy rõ tâm mình giống như hồ nước. Hồ nước này là hồ nước phiền não không đáy . Thử xét xem nội tâm chúng ta nghĩ suy tính toán đủ thứ, nó có giới hạn có chừng mực hay không? Tâm rong ruổi chạy tứ tung, không chỗ nào không tới, không việc gì không nghĩ. Suy nghĩ nhiều thì phiền não nhiều. Vì không có chừng mực nên nói hồ phiền não không đáy. Biển sanh tử không bờ , tức là chết nơi đây sanh nơi kia liên tục từ đời này đến kiếp nọ, sanh tử không biết tới đâu là dừng. Biển sanh tử không bờ, chưa đóng thuyền để vượt qua biển khổ thì đâu có lòng nào để vui ngủ nghỉ.

Người biết tu luôn nghĩ rằng chúng ta đang chất chứa phiền não, đang luân hồi trong biển sanh tử, phải tìm cách để vượt qua, không thể an lòng vui chơi, lo ngủ nghỉ. Đây là lời nhắc nhở thống thiết của chư tổ.

Do đây phải giác ngộ, 

Chớ để ngủ che tâm.

Trong bốn thứ cúng dường, 

Biết lượng, biết vừa đủ.

Đây là nhắc riêng cho giới tu sĩ. Ngài bảo rằng người tu phải giác ngộ , phải ý thức rằng mình đang dẫy đầy phiền não, chưa thoát khỏi sanh tử, phải cố gắng tu, cố gắng tìm cách thoát sanh tử, không nên ham ngủ. Chớ để ngủ che tâm , ngủ làm cho tâm mình mờ mịt. Lúc ngủ chúng ta không làm chủ được mình nên nói bị ngủ che tâm.

Trong bốn thứ cúng dường , người xuất gia thì luôn luôn nhờ Phật tử ủng hộ ẩm thực, ngọa cụ, y phục, thuốc men. Đối với bốn thứ này phải biết độ lượng biết đủ, không tham nhiều tham đẹp, đó gọi là biết tu.

Sợ lớn chưa thoát được, 

Phải chuyên cần tinh tấn, 

Tất cả khổ khi đến, 

Hối hận không thể kịp.

Nỗi sợ hãi lớn của chúng ta là biển khổ sanh tử, phải làm sao thoát khỏi nó. Chưa thoát được thì phải cố gắng chuyên cần tinh tấn tu hành. Đừng để khi khổ đến lại hối hận là mình chưa làm được gì, chưa tu được bao nhiêu. Dù có hối hận cũng không kịp. Vì vậy cần phải tinh tấn cần mẫn tu tập, nếu vô thường đến chúng ta kịp thời tỉnh giác.

Mặc y ngồi cội cây, 

Đúng như pháp được ăn, 

Chớ vì tham món ngon 

Mà tự đến hư hỏng.

Đây nhắc người xuất gia mặc y của Phật, tọa thiền dưới cội cây. Đúng như pháp được ăn , tức là nhận thức ăn đúng pháp của thí chủ cúng dường. Chớ vì lòng tham, khi ăn đừng đòi món này ngon, đừng chê món kia dở. Còn tham ăn, khen ngon chê dở là tự mình làm hư hỏng mình.

Món ăn qua khỏi cổ 

Ngon dở đều không khác, 

Ưa ngon sanh buồn khổ 

Bởi thế chớ nên ưa.

Thức ăn của chúng ta lúc còn ở trên bàn trên mâm thì có món ngon món dở, mới để vô miệng, lưỡi nếm còn thấy ngon dở, chừng ba phút sau nhai nuốt vào một hồi thì sao? Lúc đó ngon dở hết giá trị. Thức ăn dù ngon hay dở khi vào bụng rồi cũng như nhau, không có giá trị gì. Nhiều người vì thích ăn ngon phải chịu khổ cực tìm kiếm, vì cái dở mà bực bội, đó là điều không cần thiết.

Hành nghiệp trong thế giới, 

Ngon dở đâu chẳng trải, 

Tất cả đều thọ đủ, 

Phải lấy đó tự ngăn.

Tất cả chúng ta sanh ra trong thế gian này không biết bao nhiêu lần, có khi làm quan có khi làm dân, có khi làm trưởng giả có khi làm tôi đòi… Trải qua nhiều kiếp cũng từng ăn bao nhiêu món ngon dở, bây giờ còn trông mong ngon dở làm chi nữa. Cái nào chúng ta cũng có trải qua, đều thọ đủ rồi. Phải nhớ phải nghĩ như vậy để ngăn ngừa tâm ý đừng có mê say.

Nếu ở trong loài thú 

Nhai cỏ làm vị ngon, 

Địa ngục nuốt hoàn sắt 

Sắt đốt cháy hừng hực.

Nếu sanh quỷ bệ-lệ, 

Máu mủ đồ phẩn uế, 

Dãi đàm, các bất tịnh,

Lấy đó làm món ngon.

Nếu được sanh thiên cung, 

Trong cung đẹp thất bảo, 

Ăn toàn thức tô-đà, 

Thiên nữ làm vui lòng.

Sanh làm người hào quý 

Món ngon đủ các thứ, 

Tất cả từng trải qua 

Nay sao còn ưa thích?

Ngài nhắc lại, có khi chúng ta sanh trong các loài thú, lúc đó cỏ lá cây là ngon. Như trâu bò nai hươu… thấy cỏ non cho là ngon. Có khi đọa xuống địa ngục bị bắt nuốt hoàn sắt cháy hừng hực. Có khi sanh làm loài quỷ bệ-lệ thì lấy máu mủ và đồ phẩn uế, những thứ bất tịnh làm món ăn. Có khi sanh lên thiên cung, ở cung điện trang nghiêm đẹp đẽ toàn bằng thất bảo, thức ăn toàn vị tô-đà, có thiên nữ làm cho vui lòng. Có khi sanh làm người sang cả hào quý thì món ngon đủ các thứ. Như vậy chúng ta từng trải qua rất nhiều đời kiếp, ăn uống đủ loại, tại sao không sanh lòng chán sợ, còn ưa thích đòi hỏi thêm nhiều? Đó là lời răn nhắc, nhớ lại việc trước kia không nên đắm mê ưa thích.

Qua lại trong thế giới, 

Chán trải việc khổ lạc, 

Chỉ chưa được Niết-bàn, 

Phải siêng cầu lợi này.

Chúng ta đã từng trải qua biết bao thế giới, tất cả việc khổ vui đều nếm đủ không thiếu một việc gì , chỉ chưa được Niết-bàn . Bây giờ phải cố gắng tìm cầu Niết-bàn, đó là việc quan trọng. Còn tất cả các việc kia không có gì quan trọng.

Chúng ta sanh ra ở đời này, không nghĩ về những đời trước, cũng không nghĩ đến đời sau. Đó là vòng luân hồi liên miên không dừng, nhưng chúng ta không tin cũng không để ý đến. Nếu có tin là vì nghe Phật nói, chứ không tin chắc lắm. Tôi tin chắc chúng ta đã có mặt trải qua vô số đời, chỉ vì không thấy biết rõ ràng nên tưởng như mình chỉ sống một đời này thôi. Ví dụ trong gia đình, tất cả mọi người không giống nhau hoàn toàn, mỗi người có một sở thích khác. Cái không giống đó là duyên từ quá khứ, nên khi ra đời người mang ý thích này, người mang ý thích kia. Như trong lớp học, thầy cô dạy chung tất cả học trò, nhưng có người giỏi môn văn, người giỏi toán, người giỏi thủ công… Nếu bảo rằng từ thầy dạy, thầy không dạy riêng, giỏi thì phải giỏi đồng với nhau. Như vậy mới biết chúng ta ra đời đã mang sẵn cái gì của quá khứ, có sẵn cái cũ rồi nên gặp việc gợi lại thì phát ra. Có trường hợp những vị thần đồng, học một biết mười, chưa học đã biết, giỏi hơn hẳn thầy giáo. Điều đó chứng minh rằng chúng ta đã có mặt lâu xa lắm, có nhân duyên chủng tử tiềm ẩn trong vô số đời, chỉ vì quên nên không thấy biết.

Kinh nghiệm bản thân tôi, tôi tin chuyện luân hồi sanh tử không nghi tí nào. Khi tôi còn nhỏ học lớp ba, được đi theo bác gái đến chùa Sơn Tiên núi Ba Thê ở Long Xuyên, làm tuần thất cho bác trai. Thấy cảnh chùa trên núi, tôi chợt cảm hứng làm bài thơ.

Non đảnh là nơi thú lắm ai, 

Đó cảnh nhàn du của khách tài.

Tiếng mõ công phu người tỉnh giấc, 

Chuông hồi văng vẳng quá bi ai.

Lúc đó tôi chưa biết tu là gì, nhưng nhớ lại có lần đi ngang chùa Long An ở Đồng Đế, khi ấy Sư ông của tôi đang trụ trì ở đó. Nhằm ngày rằm tháng bảy, tôi đi ở ngoài đường, trong chùa tới giờ ngọ đánh chuông trống cúng, nghe tiếng chuông tôi đi không được. Hình như có cái gì làm tôi quặn thắt khó chịu lắm, nên tôi mới nói lên câu: Chuông hồi văng vẳng quá bi ai . Nghe tiếng chuông buồn lắm, mà không biết buồn cái gì.

Non đảnh là nơi thú lắm ai . Trên Trúc Lâm, cái thất của tôi nằm trên ngọn núi rõ ràng. Đó là chỗ tôi thích từ thuở bé, được ở núi là vui. Bây giờ tôi được lên non đảnh, như vậy lời nói đó từ đâu mà ra? Là cái tích lũy từ xa xưa nào đó đã sẵn rồi, bây giờ gặp cảnh có hứng thú để mình nói lên. Nói mà không suy nghĩ, không tính toán gì hết, mà rồi nó lại thực hiện được. Như vậy có đời trước hay không? Nếu không có đời trước thì tôi cũng như ai, tôi đâu nói được câu nói đó. Nói được câu đó nghĩa là trước kia biết đâu tôi đã từng tu ở núi, bây giờ thấy núi là thích, là nhớ. Biết đâu ngày xưa tôi đã có ở chùa, cho nên khi nghe tiếng chuông chùa tôi chịu không nổi.

Khi chúng ta ra đời dường như quên hết, không biết cái gì của quá khứ, nhưng nó vẫn chôn sâu đâu đó. Khi gặp cảnh liền gợi nhớ lại, cái gợi đó không phải là ngẫu nhiên mà là sẵn có. Kiểm điểm lại, chúng ta đều trải qua trường hợp tương tự như thế, ai cũng có sẵn mà vì quên nên coi thường. Phật thấy tường tận sanh tử của chúng sanh liên tục không dừng. Chúng sanh thì không hay biết, tưởng chỉ có đời sống mấy chục năm, không ngờ mình đã bao nhiêu lần sanh tử rồi. Bây giờ cũng chịu sanh tử nữa hay là cố gắng tìm cách thoát ly? Đó là câu hỏi mà tự chúng ta phải suy ngẫm kỹ rồi quyết định cho mình.

Sanh tử không có bờ mé, vì vậy mà chúng ta phải cố gắng. Như trong đây dạy, đóng thuyền để chèo qua biển sanh tử, không nên ngồi yên chờ chết đến rồi thả trôi nữa uổng đi một đời. Chúng ta không phải chỉ tu để cho hiện tại bớt khổ mà còn chuẩn bị cho mai sau không còn tiếp tục đau khổ. Phải biết sớm thức tỉnh, nhắc nhở nhau tu tiến.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.