Trung Luận giảng giải

Phẩm 21: Quán Thành Hoại



Chánh văn: 

Hỏi: Tất cả việc thế gian hiện là tướng bại hoại, thế nên có hoại.

Đáp:

Lìa thành và cộng thành,

Trong ấy không có hoại.

Lìa hoại và cộng hoại,

Trong ấy cũng không thành

Hoặc có thành hoặc không thành đều không có hoại. Hoặc có hoại hoặc không hoại đều không có thành. Vì cớ sao? 

Nếu lìa sự thành thì 

Làm sao mà có hoại? 

Như lìa sanh có tử, 

Việc ấy ắt không đúng. 

Thành hoại cùng chung có, 

Làm sao có thành hoại?

Như thế gian sanh tử,

Đồng thời ắt không đúng.

Nếu lìa sự hoại diệt,

Làm sao sẽ có thành? 

Vô thường chưa từng có 

Chẳng cùng thời các pháp.

Nếu lìa thành thì hoại không thể được. Vì cớ sao? Nếu lìa thành có hoại ắt không nhân thành mà có hoại thì hoại ắt là không nhân. Lại không có pháp thành mà có thể hoại. Thành gọi là các duyên hợp, hoại gọi là các duyên tan. Nếu lìa thành mà có hoại, không thành cái gì sẽ hoại? Như không có bình, không được nói bình hoại, thế nên lìa thành thì không có hoại. Nếu bảo chung thành có hoại, ấy cũng không đúng. Vì cớ sao? Pháp trước riêng thành mà sau có hợp, pháp hợp chẳng lìa khác. Nếu hoại lìa khác, hoại ắt không nhân, thế nên chung thành cũng không hoại. Nếu lìa hoại cộng hoại không có thành. Nếu lìa hoại có thành, thành ắt là thường, thường là tướng không hoại mà thật không thấy có pháp thường tướng chẳng hoại, thế nên lìa hoại thì không có thành. Nếu bảo cộng hoại có thành, ấy cũng không đúng vì thành và hoại trái nhau làm sao đồng thời có, như người không thể đồng thời có tóc và không tóc. Thành hoại cũng như vậy, thế nên cộng hoại có thành, việc ấy không đúng. Vì cớ sao? Nếu bảo phân biệt pháp, nói trong thành thường có hoại, việc ấy không đúng. Vì cớ sao? Nếu trong thành thường có hoại ắt chẳng nên có pháp trụ mà thật có trụ, thế nên nếu lìa hoại, cộng hoại không nên có thành. 

Lại nữa: 

Thành hoại chung không thành, 

Lìa cũng không có thành, 

Cả hai đều không được, 

Làm sao sẽ có thành? 

Nếu thành hoại chung cũng không thành, lìa cũng không thành. Nếu chung thành thì hai pháp trái nhau, làm sao đồng thời? Nếu lìa thì không nhân. Hai cửa đều không thành, làm sao sẽ có thành? Nếu có thì nên nói. 

Hỏi: Hiện có pháp tướng tận diệt, pháp tướng tận diệt ấy cũng nói tận, cũng nói bất tận, như thế ắt có thành hoại. 

Đáp:

Tận thì không có thành, 

 Bất tận cũng không thành. 

Tận thì không có hoại, 

 Bất tận cũng không hoại. 

Các pháp trong ngày đêm luôn luôn thường diệt tận, trôi qua như dòng nước không dừng, ấy gọi là tận. Việc ấy không thể chấp, không thể nói như sóng nắng không có quyết định, không thể được. Như thế diệt tận không có tánh quyết định có thể được, làm sao có thể phân biệt nói có thành, thế nên nói tận cũng chẳng thành. Vì thành không, nên cũng không nên có hoại, thế nên nói tận cũng không có hoại. Lại luôn luôn sanh diệt thường tương tục không đoạn nên gọi là bất tận. Như thế pháp quyết định thường trụ chẳng đoạn, làm sao có thể phân biệt nói hiện giờ là thành? Thế nên nói vô tận cũng không thành. Vì thành không, nên không có hoại, thế nên nói bất tận cũng không hoại. Như thế tìm xét sự thật không thể được, nên không thành không hoại. 

Hỏi: Hãy gác lại việc thành hoại, chỉ nói có pháp thì có lỗi gì? 

Đáp:

Nếu lìa sự thành hoại, 

Ấy cũng không có pháp. 

Nếu sẽ lìa các pháp, 

Cũng không có thành hoại. 

Lìa thành hoại không có pháp, nếu pháp không thành không hoại thì pháp ấy nên hoặc là không, hoặc là thường mà thế gian không có pháp thường. Ông nói lìa thành hoại có pháp, việc ấy không đúng. 

Hỏi: Nếu lìa pháp chỉ có sanh diệt thì có lỗi gì? 

Đáp: Lìa pháp có thành hoại, ấy cũng không đúng. Vì cớ sao? Nếu lìa pháp thì cái gì thành, cái gì hoại? Thế nên lìa pháp mà có thành hoại, việc ấy không đúng. 

Lại nữa: 

Nếu pháp tánh là không, 

Cái gì có thành hoại? 

Nếu pháp tánh chẳng không, 

Cũng không có thành hoại. 

Nếu các pháp tánh không, không thì làm sao có thành, có hoại? Nếu các pháp tánh chẳng không, chẳng không thì quyết định có, cũng chẳng nên có thành hoại. 

Lại nữa: 

Thành hoại nếu là một, 

Việc ấy ắt không đúng, 

Thành hoại nếu là khác, 

Việc ấy cũng không đúng. 

Tìm xét thành hoại là một ắt không thể được. Vì cớ sao? Vì tướng khác, vì các thứ phân biệt, Lại thành hoại khác cũng không thể được, Vì cớ sao? Vì không có riêng cũng không có nhân. 

Lại nữa: 

Nếu bảo do hiện thấy, 

Mà có sự sanh diệt, 

Ắt là do si vọng, 

Mà thấy có sanh diệt. 

Nếu bảo do mắt thấy có sanh diệt, vì sao dùng ngôn ngữ để phá? Việc ấy không đúng. Vì cớ sao? Mắt thấy sanh diệt ắt là vì ngu si điên đảo, thấy các pháp tánh không, không quyết định, như huyễn như mộng. Chỉ kẻ phàm phu do nhân duyên điên đảo đời trước mà được con mắt này, vì nhân duyên ức tưởng phân biệt đời này nên nói mắt thấy có sanh diệt. Trong đệ nhất nghĩa thật không có sanh diệt. Việc ấy đã nói rộng trong phẩm Phá tướng. 

Lại nữa: 

Từ pháp chẳng sanh pháp,

Cũng chẳng sanh phi pháp.

Từ phi pháp chẳng sanh 

Pháp cùng với phi pháp. 

Từ pháp chẳng sanh pháp là hoặc đến hoặc mất, cả hai đều không đúng. Từ pháp sanh pháp hoặc đến hoặc mất ấy tức là không nhân. Không nhân thì rơi vào đoạn thường. Nếu do đến từ pháp sanh pháp, pháp ấy đến rồi mà gọi là sanh ắt là thường, lại sanh rồi lại sanh, lại cũng không nhân sanh, việc ấy không đúng. Nếu do mất từ pháp sanh pháp, ấy ắt mất nhân, sanh là không nhân, thế nên từ mất cũng chẳng sanh pháp. Từ pháp chẳng sanh phi pháp, phi pháp gọi là không có, pháp gọi là có, làm sao từ tướng có sanh tướng không, thế nên từ pháp chẳng sanh phi pháp. Từ phi pháp chẳng sanh pháp, phi pháp gọi là không, không làm sao sanh ra có? Nếu từ không sanh có, ấy ắt là không nhân. Không nhân thì có lỗi lớn, thế nên chẳng từ phi pháp sanh pháp. Chẳng từ phi pháp sanh phi pháp, phi pháp gọi là không có, làm sao từ không lại sanh ra không, như sừng thỏ không sanh lông rùa, thế nên chẳng từ phi pháp sanh phi pháp. 

Hỏi: Pháp, phi pháp tuy dùng mọi cách phân biệt nên không sanh, nhưng pháp nên sanh pháp. 

Đáp:

Pháp chẳng từ tự sanh, 

Cũng chẳng từ tha sanh,

Chẳng từ tự tha sanh, 

Làm sao mà có sanh? 

Vì pháp khi chưa sanh là không có, lại vì tức tự chẳng sanh, thế nên pháp chẳng tự sanh. Nếu pháp chưa sanh thì cũng không có tha, vì không tha nên không được nói từ tha sanh. Lại chưa sanh thì không tự, không tự cũng không tha, cộng cũng chẳng sanh. Nếu ba thứ chẳng sanh làm sao từ pháp có pháp sanh? 

Lại nữa: 

Nếu có pháp chấp nhận, 

Tức rơi vào đoạn thường. 

Nên biết pháp chấp nhận, 

Hoặc thường hoặc vô thường. 

Thọ pháp là phân biệt là thiện, là bất thiện, thường, vô thường v.v…, người ấy ắt rơi vào hoặc thường kiến, hoặc đoạn kiến. Vì cớ sao? Pháp chấp nhận nên có hai thứ, hoặc thường hoặc vô thường, cả hai đều không đúng. Vì cớ sao? Nếu thường tức rơi vào bên thường, nếu vô thường tức rơi vào bên đoạn. 

Hỏi:

Đã có pháp chấp nhận, 

Không rơi vào đoạn thường.

Vì nhân quả tương tục, 

Không đoạn cũng không thường. 

Có người tuy tin nhận phân biệt nói các pháp mà không rơi vào đoạn thường. Như kinh nói năm ấm vô thường, khổ, không, vô ngã mà không đoạn diệt, tuy nói tội phước vô lượng kiếp số không mất mà không là thường. Vì cớ sao? Vì pháp ấy nhân quả thường sanh diệt tương tục nên qua lại không dứt. Vì sanh diệt nên không thường, tương tục nên không đoạn. 

Đáp:

Nếu nhân quả sanh diệt, 

Tương tục mà chẳng đoạn,

Vì diệt lại chẳng sanh, 

Nhân tức là đoạn diệt. 

Nếu ông nói các pháp nhân quả tương tục nên không đoạn không thường. Nếu pháp diệt rồi là diệt chẳng sanh trở lại, thế thì nhân đoạn. Nếu nhân đoạn làm sao có tương tục vì diệt thì chẳng sanh. 

Lại nữa: 

Pháp trụ nơi tự tánh, 

Không nên có có, không.

Niết-bàn diệt tương tục, 

Ắt rơi vào đoạn diệt.

Pháp quyết định ở trong tướng có, khi ấy không có tướng không, như bình quyết định ở tướng bình, khi ấy không mất tướng hoại. Tùy khi có bình không mất tướng hoại, khi không bình cũng không mất tướng hoại. Vì cớ sao? Nếu không bình thì không có bể, do nghĩa ấy nên diệt không thể được. Lìa diệt nên cũng không sanh. Vì cớ sao? Vì tướng sanh diệt làm nhân đối đãi, lại vì có lỗi thường v.v… Thế nên không nên ở một pháp mà có có và không, Lại vì trước ông nói nhân quả sanh diệt tương tục, tuy nhận các pháp mà không rơi vào đoạn thường, việc ấy không đúng. Vì cớ sao? Ông nói nhân quả tương tục nên có ba cõi tương tục, diệt tương tục gọi là Niết-bàn. Nếu vậy khi Niết-bàn nên rơi vào đoạn diệt, do vì diệt sự tương tục của ba cõi. 

Lại nữa: 

Nếu hữu ban đầu diệt, 

Thì không có hữu sau.

Hữu ban đầu chẳng diệt, 

Cũng không có hữu sau. 

Hữu ban đầu gọi là hữu đời này, hữu sau gọi là hữu đời vị lai. Nếu hữu ban đầu diệt, kế có hữu sau, ấy là không nhân, việc ấy không đúng. Thế nên không được nói hữu ban đầu diệt rồi có hữu sau. Nếu hữu ban đầu không diệt cũng không nên có hữu sau. Vì cớ sao? Nếu hữu ban đầu chưa diệt mà có hữu sau ấy ắt đồng thời có hai hữu, việc ấy không đúng. Thế nên hữu ban đầu không diệt, không có hữu sau. 

Hỏi: Hữu sau không do hữu ban đầu diệt mà sanh, chẳng do chẳng diệt mà sanh, chỉ khi đang diệt mà sanh. 

Đáp:

Hữu ban đầu khi diệt, 

Mà có hữu sau sanh. 

Khi diệt là một hữu, 

Khi sanh là một hữu. 

Nếu khi hữu ban đầu diệt hữu sau sanh tức hai hữu đồng một lúc, một hữu là khi diệt, một hữu là khi sanh. 

Hỏi: Khi diệt khi sanh, hai hữu đều còn ắt không đúng, nhưng hiện thấy hữu ban đầu diệt hữu sau sanh

Đáp:

Nếu nói về sanh diệt,

Mà bảo là đồng thời,

Thì năm ấm này chết,

Tức năm ấm này sanh.

Nếu khi sanh khi diệt đồng thời không có hai hữu, mà bảo hữu ban đầu khi diệt thì hữu sau sanhnay nên tùy ở trong ấm nào mà chết tức nơi ấm này sanh không nên ở trong ấm khác sanh. Vì cớ sao? Vì chết tức là sanh. Như thế tử sanh là pháp trái nhau không nên đồng thời ở một chỗ. Thế nên trước ông nói khi diệt khi sanh đồng thời không có hai hữu, chỉ hiện thấy khi hữu ban đầu diệt hữu sau sanh, việc ấy không đúng

Lại nữa: 

Trong ba đời tìm hữu 

Tương tục không thể được.

Nếu trong ba đời không, 

Sao có hữu tương tục? 

Tam hữu gọi là Dục hữu, Sắc hữu, Vô sắc hữu. Từ vô thủy trong sanh tử vì không được thật trí nên thường có ba cõi tương tục. Nay ở trong ba đời chín chắn tìm không thể được. Nếu trong ba đời không có hữu, sẽ ở chỗ nào có hữu tương tục. Nên biết có hữu tương tục đều từ ngu si điên đảo nên có, trong chân thật thì không. 

Giảng:

Từ trước đến đây đã nhiều lần Luận chủ phá sanh và diệt. Sanh không thành nên diệt không thành, diệt không thành nên sanh không thành. Trên thế gian có những vật sanh rồi tử thì gọi là sanh tử hay sanh diệt. Nhưng có vật do sự tụ hội của duyên hợp thành, như cái nhà, cái bàn, thành rồi phải hoại. Chúng ta tưởng  chỉ chúng sanh có hoạt động mới có sanh diệt, còn bàn ghế, nhà cửa do duyên hợp thành, không phải sanh rồi chấp có thành có hoại thật. Nhưng quán sát kỹ chúng ta thấy rõ sanh diệt không thật mà cả thành hoại cũng không thật. Trong phẩm này ngoại nhân không nói thành trước mà lập hoại trước vì các pháp hiện có đều đi tới hoại diệt, nên hoại diệt được xem như là tướng cố định.

Hỏi: Tất cả việc thế gian hiện là tướng bại hoại, thế nên có hoại. Tất cả pháp thế gian đều từ mới đến cũ, rồi dần dần hư hoại, không một pháp nào không đi đến bại hoại.

Đáp:

Lìa thành và cộng thành, 

Trong ấy không có hoại. 

Lìa hoại và cộng hoại, 

Trong ấy cũng không thành. 

Ông nói có pháp hoại là ngầm lập pháp thành vì lìa pháp thành riêng và chung thì không có hoại. Lìa hoại chung và hoại riêng cũng giống như vậy, Thành và hoại không tách rời nhau, có hoại tức có thành, có thành tức có hoại.

Hoặc có thành hoặc không thành đều không có hoại. Hoặc có hoại hoặc không hoại đều không có thành. Vì cớ sao? 

Nếu lìa sự thành thì 

Làm sao mà có hoại? 

Như lìa sanh có tử,

Việc ấy ắt không đúng. 

Thành hoại cùng chung có,

Làm sao có thành hoại? 

Như thế gian sanh tử, 

Đồng thời ắt không đúng. 

Bài kệ thứ nhất xác định thành và hoại không tách rời nhau, cũng như sanh và tử không tách rời nhau. Nếu tách rời nhau thì việc đó không đúng. Bài kệ thứ hai nói nếu thành và hoại cùng một lượt thì làm sao có thành hoại? Thành là tướng mới hợp thành, hoại là tướng bị bại hoại, hai tướng khác nhau mà nói có một lượt, chung một chỗ thì không được, như thế gian nói sanh tử đồng thời thì không được.

Nếu lìa sự hoại diệt, 

Làm sao sẽ có thành? 

Vô thường chưa từng có 

Chẳng cùng thời các pháp. 

Lìa hoại thì không có thành, vì vậy khi các pháp hiện có thì không pháp nào rời được tướng vô thường.

Nếu lìa thành thì hoại không thể được. Vì cớ sao? Nếu lìa thành có hoại ắt không nhân thành mà có hoại thì hoại ắt là không nhân. Lại không có pháp thành mà có thể hoại. Thành gọi là các duyên hợp, hoại gọi là các duyên tan. Nếu lìa thành mà có hoại, không thành cái gì sẽ hoại? Như không có bình, không được nói bình hoại, thế nên lìa thành thì không có hoại. Nếu bảo chung thành có hoại, ấy cũng không đúng. Vì cớ sao? Pháp trước riêng thành mà sau có hợp, pháp hợp chẳng lìa khác. Nếu hoại lìa khác, hoại ắt không nhân, thế nên chung thành cũng không hoại. 

Nếu bảo chung thành có hoại cũng không đúng vì pháp trước riêng thành, tức là pháp trước có thành rồi sau mới có hoại hợp. Pháp hợp đó chẳng lìa khác, phàm hợp với nhau thì mỗi pháp phải khác nhau mới hợp được như trước đã nói. Nếu hoại lìa khác thì hoại ắt không nhân, như vậy hoại cũng phải khác với thành, làm sao nói chung được? Nếu hoại không khác với thành thì hoại không nhân, thế nên chung thành cũng không có hoại.

Nếu lìa hoại cộng hoại không có thành. Nếu lìa hoại có thành, thành ắt là thường. Lìa hoại mà có thành thì thành đó không bị hoại nên là thường.

Thường là tướng không hoại mà thật không thấy có pháp thường tướng chẳng hoại, thế nên lìa hoại thì không có thành. Nếu bảo cộng hoại có thành, ấy cũng không đúng vì thành và hoại trái nhau làm sao đồng thời có, như người không thể đồng thời có tóc và không tóc. Một người không thể vừa có tóc vừa không tóc trừ các Điệu cạo tóc còn chừa ba vá.

Thành hoại cũng như vậy, thế nên cộng hoại có thành, việc ấy không đúng. Vì cớ sao? Nếu bảo phân biệt pháp, nói trong thành thường có hoại, việc ấy không đúng. Vì cớ sao? Nếu trong thành thường có hoại ắt chẳng nên có pháp trụ mà thật có trụ, thế nên nếu lìa hoại, cộng hoại không nên có thành. Các pháp khi thành đã ngầm có hoại cũng như trong sanh có diệt. Sanh trụ diệt là ba tướng vô thường, hữu lậu, trụ là còn, diệt là hoại, là mất. Nếu hoại ở trong thành, làm sao có trụ? Nếu có trụ tức không có hoại, nếu trong thành có hoại chung là không có tướng trụ. Thế nên nếu lìa hoại và cộng hoại không nên có thành.

Lại nữa: 

Thành hoại chung không thành, 

Lìa cũng không thành,

Cả hai đều không được,

Làm sao sẽ có thành?

Thành với hoại chung thì không có thành. Tại sao? Thành là đối với hoại, trong thành đã có hoại, sao gọi là thành được? Lìa hoại thì không có thành vì không hoại thì nói gì là thành? Cả hai đều không được, làm sao có thành?

Nếu thành hoại chung cũng không thành, lìa cũng không thành. Nếu chung thành thì hai pháp trái nhau, làm sao đồng thời? Nếu lìa thì không nhân. Hai cửa đều không thành, làm sao sẽ có thành? Hai cửa, đứng cửa nào cũng không được. Nếu có thì nên nói. Nhưng sự thật không có nên không nói được.

Hỏi: Hiện có pháp tướng tận diệt, pháp tướng tận diệt ấy cũng nói tận, cũng nói bất tận, như thể ắt có thành hoại. Ngoại nhân dẫn kinh làm bằng chứng để cứu lại. Các pháp có tướng diệt tận. Tướng diệt tận là vô thường có hoại diệt, nhưng các pháp tuy vô thường mà tương tục nên không mất, không diệt tận.

Đáp:

Tận thì không có thành, 

Bất tận cũng không thành. 

Tận thì không có hoại, 

Bất tận cũng không hoại. 

Tận là hết. Nếu tận thì không có thành, không tận cũng không có thành, vì còn nguyên thì thành cái gì? Như vậy tận, không tận đều không hoại.

Các pháp trong ngày đêm luôn luôn thường diệt tận, trôi qua như dòng nước không dừng, ấy gọi là tận. Việc ấy không thể chấp, không thể nói như sóng nắng không có quyết định, không thể được. Như thế diệt tận không có tánh quyết định có thể được, làm sao có thể phân biệt nói có thành, thế nên nói tận cũng chẳng thành. Diệt tận là luôn luôn thay đổi, không dừng một phút giây nào nên không thể chấp, không thể nói đúng được. Như chiếc xe đang chạy ngang, nói nó đang chạy ngang thì nó đã qua rồi, vậy lấy điểm nào để nói đúng rằng nó đang chạy ngang? Các pháp di chuyển, đổi thay không dừng nên không có tánh quyết định, làm sao nói có thành?

Vì thành không, nên cũng không nên có hoại, thế nên nói tận cũng không có hoại. Nếu thành không được, làm sao có hoại? Vậy tận không thành, tận cũng không hoại.

Lại luôn luôn sanh diệt thường tương tục không đoạn nên gọi là bất tận. Như thể pháp quyết định thường trụ chẳng đoạn, làm sao có thể phân biệt nói hiện giờ là thành? Thế nên nói vô tận cũng không thành. Không tận là tiếp nối tương tục, đổi dời luôn luôn thì có điểm nào dừng trụ mà phân biệt nói hiện giờ là thành? Thế nên tận không thành, vô tận cũng không thành.

Vì thành không, nên không có hoại, thế nên nói bất tận cũng không hoại. Như thế tìm xét sự thật không thể được, nên không thành không hoại. Tìm kiếm sự thật đâu là thành, đâu là hoại không thể được, nên không thành không hoại.

Hỏi: Hãy gác lại việc thành hoại, chỉ nói có pháp thì có lỗi gì? Ngoại nhân cứu lại: Tôi không nói thành hoại mà nói có pháp tức là có sự vật thật thì có lỗi gì?

Đáp:

Nếu lìa sự thành hoại, 

Ấy cũng không có pháp, 

Nếu sẽ lìa các pháp, 

Cũng không có thành hoại. 

Luận chủ phá: Nếu lìa thành hoại thì không có pháp vì căn cứ trên pháp mà nói thành hoại, cũng như căn cứ trên sự vật mà lập thời gian. Cũng vậy lìa pháp không có thành hoại. Nói gác thành hoại qua một bên, chỉ nói pháp thì việc đó không hợp lý.

Lìa thành hoại không có pháp, nếu pháp không thành không hoại thì pháp ấy nên hoặc là không, hoặc là thường. Không thành tức là không, không hoại tức là thường. Nếu có pháp không thành không hoại thì pháp đó hoặc là không, hoặc là thường.

Mà thế gian không có pháp thường. Ông nói lìa thành hoại có pháp, việc ấy không đúng. 

Hỏi: Nếu lìa pháp chỉ có sanh diệt thì có lỗi gì? Lìa pháp có sanh diệt tức là thành hoại thì có lỗi gì?

Đáp: Lìa pháp có thành hoại, ấy cũng không đúng. Vì cớ sao? Nếu lìa pháp thì cái gì thành, cái gì hoại? Thế nên lìa pháp mà có thành hoại, việc ấy không đúng. 

Lại nữa: 

Nếu pháp tánh là không, 

Cái gì có thành hoại 

Nếu pháp tánh chẳng không, 

Cũng không có thành hoại. 

Tánh không tức là không có chủ thì nói cái gì thành, cái gì hoại? Nếu tánh chẳng không tức là có tánh, có chủ, có chủ là còn nguyên vẹn thì đâu có thành hoại. Cả hai trường hợp đều không được.

Nếu các pháp tánh không, không thì làm sao có thành, có hoại? Nếu các pháp tánh chẳng không, chẳng không thì quyết định có, cũng chẳng nên có thành hoại. 

Lại nữa: 

Thành hoại nếu là một

Việc ấy ắt không đúng. 

Thành hoại nếu là khác,

Việc ấy cũng không đúng. 

Tìm xét thành hoại là một ắt không thể được. Vì cớ sao? Vì tướng khác, vì các thứ phân biệt. Bao nhiêu thứ phân biệt cho thấy tướng thành khác, tướng hoại khác, làm sao nói là một?

Lại thành hoại khác cũng không thể được. Vì cớ sao? Vì không có riêng cũng không có nhân. Thành phải nhân hoại mà có, hoại phải nhân thành mà lập, nếu không có pháp này thì không có pháp kia nên thành hoại không thể khác.

Lại nữa: 

Nếu bảo do hiện thấy, 

Mà có sự sanh diệt, 

Ắt là do si vọng, 

Mà thấy có sanh diệt, 

Nếu bảo do mắt thấy có sanh diệt, vì sao dùng ngôn ngữ để phá? Việc ấy không đúng. Vì cớ sao? Mắt thấy sanh diệt ắt là vì ngu si điên đảo, thấy các pháp tánh không, không quyết định, như huyễn như mộng. Chỉ kẻ phàm phu do nhân duyên điên đảo đời trước mà được con mắt này, vì nhân duyên ức tưởng phân biệt đời này nên nói mắt thấy có sanh diệt. Ngoại nhân nói hiện mắt tôi thấy có người này sanh, người kia chết mà nói không sanh không diệt sao được? Luận chủ giải thích: thấy sanh diệt, thành hoại là do ngu si điên đảo của đời trước cộng với ức tưởng phân biệt của đời này. Chúng ta phải xét kỹ mới thấy sự ngu si điên đảo của mình. Như một nồi nước mở nắp nấu từ sáng đến chiều, thấy nước trong nồi không còn thì nói nước hết, đó là ức tưởng phân biệt theo xưa nay. Nếu truy nguyên đến cùng, nước đó có hết không? Trăm người như một đều nói nước hết chứ không nói nước bốc hơi. Đó là thói quen của nhiều đời huân tập, không đến được sự thật. Lại như thường nói nước lạnh, mà thật nước có lạnh không? Nước tùy duyên khi lạnh khi nóng không cố định, cũng như nước mặn hay ngọt tùy theo nước biển hay nước sông.

Các pháp không cố định, ở vùng nào nói theo thói quen vùng đó. Như khi nhỏ tôi ở vùng Hậu Giang thấy nước lớn, nước ròng, tôi nghĩ sông nào cũng nước ròng, nước lớn. Nhưng khi ra miền Trung tôi thấy nước chảy xuống, không có nước ròng, nước lớn. Chúng ta theo thói quen ức tưởng phân biệt của đời này cộng với những điên đảo của đời trước nên nhìn sự vật thấy thật có thành hoại, thật có sanh diệt. Đó là thấy theo thói quen của kẻ ngu si, chứ không phải của người trí.

Trong đệ nhất nghĩa thật không có sanh diệt. Thí dụ người mua gỗ về đóng bàn, đóng rồi gọi là thành. Khi không vừa ý, họ tháo tung ra gọi là hoại, đó là theo thói quen cạn cợt của chúng ta thấy cái gì rã ra thì nói là hoại. Nhưng những vật liệu làm bàn không có hoại, có thể đem ráp lại thành vật khác. Trong đệ nhất nghĩa tướng thành là giả tướng duyên hợp, tướng hoại là giả tướng duyên tan, không có sanh diệt thật, thành hoại thật.

Việc ấy đã nói rộng trong phẩm Phá tướng.

Lại nữa: 

Từ pháp chẳng sanh pháp,

Cũng chẳng sanh phi pháp.

Từ phi pháp chẳng sanh 

Pháp cùng với phi pháp. 

Pháp là có, từ có không sanh ra có cũng không sanh ra không. Phi pháp là không, từ không không sanh ra có cũng không sanh ra không, vì đã không thì sanh được cái gì? Chúng ta thường nói từ pháp sanh pháp nhưng Luận chủ nói không phải như vậy.

Từ pháp chẳng sanh pháp là hoặc đến hoặc mất, cả hai đều không đúng. Từ pháp chẳng sanh pháp là sao? Là hoặc pháp đến hoặc pháp mất. Nếu pháp này đến pháp kia mà sanh thì khi sanh nó còn nguyên, còn nguyên thì nó sanh pháp khác nữa, nên sanh rồi lại sanh. Còn nếu pháp mất rồi mới sanh, diệt rồi làm sao sanh? Hai trường hợp đều không đúng.

Từ pháp sanh pháp hoặc đến hoặc mất ấy tức là không nhân. Không nhân thì rơi vào đoạn thường. Nếu do đến từ pháp sanh pháp, pháp ấy đến rồi mà gọi là sanh ắt là thường, lại sanh rồi lại sanh, lại cũng không nhân sanh, việc ấy không đúng. Nhân sanh ra quả thì nhân hoại mới thành quả. Cũng như hạt ươm thành cây, khi cây thành thì hạt phải hoại, nếu hạt còn nguyên thì không thành nên nói là không nhân.

Nếu do mất từ pháp sanh pháp, ấy ắt mất nhân, sanh là không nhân, thế nên từ mất cũng chẳng sanh pháp. Từ pháp chẳng sanh phi pháp, phi pháp gọi là không có, pháp gọi là có, làm sao từ tướng có sanh tướng không, thế nên từ pháp chẳng sanh phi pháp. Từ phi pháp chẳng sanh pháp, phi pháp gọi là không, không làm sao sanh ra có? Nếu từ không sanh có, ấy ắt là không nhân. Không nhân thì có lỗi lớn, thế nên chẳng từ phi pháp sanh pháp. Chẳng từ phi pháp sanh phi pháp, phi pháp gọi là không có, làm sao từ không lại sanh ra không, như sừng thỏ không sanh lông rùa, thế nên chẳng từ phi pháp sanh phi pháp. Từ pháp sanh pháp không được, từ pháp sanh phi pháp không được, từ phi pháp sanh pháp không được, từ phi pháp sanh phi pháp cũng không được.

Hỏi: Pháp, phi pháp tuy dùng mọi cách phân biệt nên không sanh, nhưng pháp nên sanh pháp. 

Đáp:

Pháp chẳng từ tự sanh, 

Cũng chẳng từ tha sanh, 

Chẳng từ tự tha sanh, 

Làm sao mà có sanh? 

Ngoại nhân nói: Dù dùng mọi cách phân biệt để nói pháp không sanh nhưng tôi nhất định nói pháp sanh ra pháp. Luận chủ hỏi: Tự nó sanh hay do pháp khác sanh? Tự nó sanh mà nó chưa có thì làm sao sanh? Do pháp khác sanh thì pháp khác từ đâu có? Từ tự mà có. Tự không thành thì làm sao tha thành?

Vì pháp khi chưa sanh là không có, lại vì tức tự chẳng sanh, thế nên pháp chẳng tự sanh. Nếu pháp chưa sanh thì cũng không có tha, vì không tha nên không được nói từ tha sanh. Lại chưa sanh thì không tự, không tự cũng không tha. Vì pháp chưa sanh nên không có tự, không tự thì làm sao đối với tự để lập tha nên cũng không có tha. Cộng cũng chẳng sanh. Cộng là tự và tha, cũng không sanh. Nếu ba thứ chẳng sanh làm sao từ pháp có pháp sanh? 

Lại nữa: 

Nếu có pháp chấp nhận, 

Tức rơi vào đoạn thường. 

Nên biết pháp chấp nhận, 

Hoặc thường hoặc vô thường. 

Chấp nhận pháp là nhận pháp đó thật có hay thật không. Nhận pháp thật có hay thật không tức rơi vào đoạn và thường.

Thọ pháp là phân biệt là thiện, là bất thiện, thường, vô thường v.v.., người ấy ắt rơi vào hoặc thường kiến, hoặc đoạn kiến. Vì cớ sao? Pháp chấp nhận nên có hai thứ, hoặc thường hoặc vô thường, cả hai đều không đúng, Vì cớ sao? Nếu thường tức rơi vào bên thường, nếu vô thường tức rơi vào bên đoạn. 

Nếu phân biệt, chấp nhận đây là pháp thiện, đây là pháp bất thiện, đây là pháp thường, đây là pháp vô thường… tức là nhận một bên sẽ rơi vào đoạn kiến hoặc thường kiến. Hai cố chấp này là tối kỵ trong nhà Phật, rơi vào bên nào cũng không tu được. Nếu chấp các pháp là thường thì làm sao sửa đổi được, nếu chấp các pháp là đoạn thì tu làm chi? Cả hai đều là lỗi lớn.

Học rồi mới thấy chúng ta thật si mê. Chúng ta thường giản trạch đây là thiện là ác, thường vô thường… đó chỉ là phương tiện tạm thời để tu chứ không có thật. Nếu thiện ác không thật thì phải quấy cũng không thật vậy nói thị phi làm chi? Thế mà hai, ba người ngồi lại nói chuyện thì khen người này, chê người kia rồi cãi nhau, từ cá nhân tới tập thể, rồi đau khổ dài dài. Nếu thấy rõ thị phi không thật thì không còn tranh cãi phải quấy, hơn thua tức nhiên hết khổ. Chúng ta tu hành nếu còn vướng mắc hai bên đoạn và thường thì rơi vào hố hiểm nguy, nên ngài Huyền Giác gọi là Đoạn thường khanh.

Hỏi:

Đã có pháp chấp nhận, 

Không rơi vào đoạn thường, 

Vì nhân quả tương tục, 

Không đoạn cũng không thường. 

Ngoại nhân lặp lại ý kinh rất khéo. Nói có pháp chấp nhận là thật mà không rơi vào đoạn kiến, thường kiến vì nhân quả tương tục, không đoạn không thường.

Giải thích:

Có người tuy tin nhận phân biệt nói các pháp mà không rơi vào đoạn thường. Như kinh nói năm ấm vô thường, khổ, không, vô ngã mà không đoạn diệt, tuy nói tội phước vô lượng kiếp số không mất mà không là thường. Vì cớ sao? Vì pháp ấy nhân quả thường sanh diệt tương tục nên qua lại không dứt. Vì sanh diệt nên không thường, tương tục nên không đoạn. Lý này hợp với kinh. 

Đáp:

Nếu nhân quả sanh diệt, 

Tương tục mà chẳng đoạn,

Vì diệt lại chẳng sanh, 

Nhân tức là đoạn diệt. 

Ông nói nhân quả sanh diệt tương tục chẳng đoạn. Nếu diệt rồi thì làm sao sanh được mà nói sanh diệt tương tục? Nhân tức là đoạn diệt nghĩa là nhân đã diệt rồi làm sao sanh được, làm sao có tương tục?

Nếu ông nói các pháp nhân quả tương tục nên không đoạn không thường. Nếu pháp diệt rồi là diệt chẳng sanh trở lại, thế thì nhân đoạn. Nếu nhân đoạn làm sao có tương tục vì diệt thì chẳng sanh. 

Lại nữa: 

Pháp trụ nơi tự tánh,

Không nên có có, không.

Niết-bàn diệt tương tục, 

Ắt rơi vào đoạn diệt. 

Dứt tương tục là hết, là đoạn diệt. Vậy ông nói Niết-bàn diệt tương tục tức trở thành đoạn diệt sao?

Pháp quyết định ở trong tướng có, khi ấy không có tướng không, như bình quyết định ở tướng bình, khi ấy không mất tướng hoại. Tùy khi có bình không mất tướng hoại, khi không bình cũng không mất tướng hoại. Vì cớ sao? Nếu không bình thì không có bể, do nghĩa ấy nên diệt không thể được. Lìa diệt nên cũng không sanh. Vì cớ sao? Vì tướng sanh diệt làm nhân đối đãi, lại vì có lỗi thường v.v… Thế nên không nên ở một pháp mà có có và không. Lại vì trước ông nói nhân quả sanh diệt tương tục, tuy nhận các pháp mà không rơi vào đoạn thường, việc ấy không đúng. Vì cớ sao? Ông nói nhân quả tương tục nên có ba cõi tương tục, diệt tương tục gọi là Niết-bàn. Nếu vậy khi Niết-bàn nên rơi vào đoạn diệt, do vì diệt sự tương tục của ba cõi. 

Còn tương tục trong ba cõi là có, diệt tương tục là không. Nếu diệt hết nhân tương tục trong ba cõi là Niết-bàn thì Niết-bàn trở thành không, tức là đoạn diệt.

Lại nữa: 

Nếu hữu ban đầu diệt, 

Thì không có hữu sau. 

Hữu ban đầu chẳng diệt, 

Cũng không có hữu sau. 

Nói hữu không nói thân vì hữu này gồm thân, thân với hữu không tách rời nhau vì thân sanh trong ba cõi. Thí dụ như thân Dục giới hoại rồi sanh thân Sắc giới, mỗi cõi đều có thân thì thân và cõi liên hệ nhau nên khi nói cõi, khi nói thân.

Nếu hữu ban đầu diệt thì không có hữu sau vì pháp này diệt rồi làm sao sanh được pháp kia mà nói rằng tương tục? Tương tục diệt thì không có sanh, còn nếu không diệt thì còn, làm sao có sanh? Như vậy diệt không được mà không diệt cũng không được.

Hữu ban đầu gọi là hữu đời này, hữu sau gọi là hữu đời vị lai. Nếu hữu ban đầu diệt, kế có hữu sau, ấy là không nhân, việc ấy không đúng. Thế nên không được nói hữu ban đầu diệt rồi có hữu sau. Nếu hữu ban đầu không diệt cũng không nên có hữu sau. Vì cớ sao? Nếu hữu ban đầu chưa diệt mà có hữu sau ấy ắt đồng thời có hai hữu, việc ấy không đúng. Thế nên hữu ban đầu không diệt, không có hữu sau. 

Hỏi: Hữu sau không do hữu ban đầu diệt mà sanh, chẳng do chẳng diệt mà sanh, chỉ khi đang diệt mà sanh. Hữu sau không đợi hữu ban đầu diệt rồi mới sanh, chính khi đang diệt mà sanh, đó là đồng thời rồi.

Đáp:

Hữu ban đầu khi diệt, 

Mà có hữu sau sanh, 

Khi diệt là một hữu, 

Khi sanh là một hữu. 

Nếu khi hữu ban đầu diệt hữu sau sanh tức hai hữu đồng một lúc, một hữu là khi diệt, một hữu là khi sanh. 

Hỏi: Khi diệt khi sanh, hai hữu đều còn ắt không đúng, nhưng hiện thấy hữu ban đầu diệt hữu sau sanh. Hai hữu một lượt thì không được, tôi chấp nhận. Nhưng tôi hiện thấy hữu này diệt hữu kia sanh, điều đó được không?

Đáp:

Nếu nói về sanh diệt, 

Mà bảo là đồng thời, 

Thì năm ấm này chết, 

Tức năm ấm này sanh. 

Ông nói một lượt tức ấm này diệt thì có ấm kế, mà ấm kế cũng là của ấm này.

Giải thích: Nếu khi sanh khi diệt đồng thời không có hai hữu, mà bảo hữu ban đầu khi diệt thì hữu sau sanh, nay nên tùy ở trong ấm nào mà chết tức nơi ấm này sanh không nên ở trong ấm khác sanh. Vì cớ sao? Vì chết tức là sanh. Như thế tử sanh là pháp trái nhau không nên đồng thời ở một chỗ. Thế nên trước ông nói khi diệt khi sanh đồng thời không có hai hữu, chỉ hiện thấy khi hữu ban đầu diệt hữu sau sanh, việc ấy không đúng. Nếu hữu này diệt hữu kia sanh thì hữu kia là hiện thân của hữu này. Như vậy hai hữu là một, không phải là hai.

Lại nữa: 

Trong ba đời tìm hữu 

Tương tục không thể được. 

Nếu trong ba đời không, 

Sao có hữu tương tục? 

Trong ba đời tìm hữu tương tục không thể được. Tương tục là nhân quả liên hệ với nhau không dừng. Thí dụ như hạt lúa mọc mầm lên cây lúa rồi trổ bông, chúng ta thấy rõ có sự tương tục. Còn thân người diệt rồi sanh ra thân sau ở một cõi khác thì tương tục bằng cách nào? Nghĩa là thân này mất liền qua một thân khác mà không thấy hình tướng, làm sao biết được có sự tương tục, có liên hệ với thân này để chịu quả báo? Cho nên Phật giáo Đại thừa lập ra thức a-lại-da là kho chứa những hạt giống thiện ác do đời trước gây ra. Thức này mang những hạt giống đó kết hợp với những hình thức sắc chất rồi sanh ra thân sau. Như vậy mới thấy đạo Phật tiến triển từ bước này sang bước khác không bị bế tắc.

Giải thích: Tam hữu gọi là: Dục hữu, Sắc hữu, Vô sắc hữu. Từ vô thủy trong sanh tử vì không được thật trí nên thường có ba cõi tương tục. Nay ở trong ba đời chín chắn tìm không thể được. Nếu trong ba đời không có hữu, sẽ ở chỗ nào có hữu tương tục. Nên biết có hữu tương tục đều từ ngu si điên đảo nên có, trong chân thật thì không. 

Sanh trong tam giới là vì mê, giác rồi thì không còn sanh trong tam giới. Như trong lúc ngủ mê thấy hết cảnh này đến cảnh kia liên tục không dừng, khi thức thì những cảnh trong mê đâu có liên tục. Cũng vậy trong thật trí không có liên tục, chỉ trong si mê mới thấy có liên tục trong tam giới, có luân hồi. Phẩm này muốn đưa chúng ta tới thật trí để biết rõ luân hồi là không thật. Chúng ta muốn giải thoát luân hồi sanh tử thì phải hết mê, cũng như thức rồi thì khỏi lo mộng mị, còn nếu chưa thức thì làm sao hết mộng được. Trong lúc đang mê này mà chúng ta tạm tỉnh một chút, thấy những việc thị phi không thật thì trong mê mà chúng ta bớt khổ, nếu thấy thị phi thật thì trong mê lại càng thêm khổ.

Tất cả người tu chúng ta thấy rõ chủ trương của đạo Phật là cứu khổ chúng sanh. Cứu khổ bằng cách dứt mê khai ngộ. Nếu làm việc phước đức thì được sanh trong tam giới tốt đẹp, chứ không phải là dứt dòng sanh tử; chỉ giác ngộ mới thật hết khổ.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.