Kỷ năng lãnh đạo và điều hành Phật sự thời Công nghệ số

Bài 5 Thọ Giới - Học Giới - Trì Giới



THỌ GIỚI

Kinh Hoa Nghiêm nói: “Giới là gốc của Vô thượng Bồ đề”. Do đó, tinh thần căn bản của Phật giáo là ở sự tôn nghiêm của giới luật, tức là đệ tử của Phật phải tôn trọng và tuân giữ giới luật. Vì thế, hễ là đệ tử của Phật, bất luận tại gia hoặc xuất gia, khi bước vào cửa Phật thì điều trọng đại nhất là phải thọ giới. Bằng không thì dù tự xưng là tin Phật, học Phật, cũng chẳng được Phật giáo thừa nhận. Nói một cách khác: Ấy là người ngoài cửa.

Giới tại gia có 4 thứ:

1. Tam quy giới

2. Ngũ giới

3. Bát quan trai giới

4. Bồ tát giới

Xuất gia có 5 thứ:

1. Sa di và Sa di ni giới

2. Thức xoa ma na ni giới

3. Tỳ kheo giới

4. Tỳ kheo ni giới

5. Bồ tát giới, hay còn gọi là Thông Giới

“Pháp môn vô lượng thệ nguyện học” của tứ hoằng thệ nguyện là pháp môn gì? Đều là học điều Phật học, hành điều Phật hành, chứng điều Phật chứng. Giới luật của Phật giáo là pháp môn rộng lớn dạy người học điều Phật học, hành điều Phật hành để đi đến chứng điều Phật chứng.

* Nhiếp luật nghi giới: Người con Phật phải nguyện từ bỏ mọi điều ác.

* Nhiếp thiện pháp giới: Người con Phật vâng làm các việc lành.

* Nhiêu ích hữu tình giới: Người con Phật phải đem lại lợi ích cho tất cả chúng sinh.

Mục đích của thọ giới và học giới là trì giới. Nếu như học mà không thọ không trì, ấy là nói tên món ăn không no bụng đói, là đếm của báu cho người.

Khai giá trì phạm

Theo lịch sử Phật giáo thì hai thương gia Đề Vị (Trapusa) và Ba Lợi (Bhallika) là hai đệ tử Ưu bà tắc đầu tiên của Phật, người mẹ và vợ trước khi xuất gia của tôn giả Da Xá là hai đệ tử Ưu bà di đầu tiên trong hàng nữ Phật tử tại gia.

Sa di là tiếng dịch âm của Pàli Sàmanera, và được dịch ý là Cầu tịch, Cần sách hay Tức từ. Nghĩa là ưa sự vắng lặng, siêng năng tu học, dứt bỏ việc ác, thực hành từ bi. Đây là những người nam xuất gia từ 7 tuổi đến 70 tuổi, đã thọ mười giới mà chưa thọ giới Cụ túc. Nếu người nữ xuất gia thì gọi là Sa di ni (Sàmaneri) được dịch ý là Cần sách nữ, Tức từ nữ. Hai chúng này cùng chung một giới pháp.

Vị Sa di đầu tiên trong hàng ngũ đệ tử xuất gia của Phật là La Hầu La. Phật  bảo Trưởng lão Xá Lợi Phất làm Đường đầu Hòa thượng truyền giới cho tôn giả La Hầu La.

Ngoài 10 giới của Sa di hay Sa di ni, hai chúng này còn phải tuân thủ một số quy tắc theo nếp sinh hoạt hàng ngày của thiền gia, tức là “Tỳ ni nhật dụng” gồm chừng 45 điều; đồng thời phải giữ tác phong đạo hạnh gồm  24 oai nghi cho Tăng và 22 oai nghi cho Ni.

Hiện nay, ở nước ta gồm có Phật giáo Bắc truyền, Phật giáo Nguyên thủy (hay Nam tông) và hệ phái Khất sĩ. Nhưng về giới pháp của Sa di thì trên căn bản gần như đồng nhất. Chỗ khác nhau là Phật giáo Nam tông không có Sa di ni (có lẽ do thất truyền) mà chỉ có tịnh nhân nữ (tu nữ). Nghĩa là người nữ mặc áo hoại sắc, sống ở tự viện, theo nếp sống của người xuất gia.

Thức xoa ma na là từ dịch âm chữ Phạn Siksamànà, được dịch ý là Học giới nữ (người nữ học giới), Chánh học nữ (người nữ đang học những pháp cơ bản). Người nữ xuất gia, trước khi thọ giới Cụ túc làm Tỳ kheo ni, phải trải qua 2 năm học tập những học pháp căn bản của Tỳ kheo ni.

Tỳ Kheo : Trong 7 chúng đệ tử của Phật thì Tỳ kheo được xem là trưởng tử của Như Lai, chiếm một địa vị tôn quý nhất trong hàng ngũ đệ tử, cả tại gia lẫn xuất gia. Tiếng Pàli Bhikkhu được phiên âm là Tỳ kheo, tiếng Sanskrit Bhiksu được phiên âm là Bí-sô. Hai chữ Bhikkhu và Bhiksu cùng một nghĩa và được dịch ý là Khất sĩ, Bố ma, Phá ác.

* Khất sĩ: Đi khất thực để tự nuôi sống mình một cách thanh tịnh, nên gọi là Khất sĩ.

* Bố ma: Tỳ kheo có thể tu đạo khiến cho ác ma kinh hồn, nên gọi là Bố ma.

* Phá ác: Tỳ kheo tu giới, định, tuệ, có thể phá trừ hai thức ác là Kiến hoặc và Tư hoặc, nên gọi là Phá ác.

Tỳ Kheo: Đây là những người nam xuất gia đã thọ Đại giới hay giới Cụ túc. Tiếng Phạn Upasampadà. Hán dịch là Cụ túc hay Cận viên. Cụ túc nghĩa là thành tựu đầy đủ; Cận viên nghĩa là đến gần Niết bàn viên mãn. Luật quy định số tuổi tối thiểu để thọ giới Cụ túc là 20 tuổi. Một giới tử muốn thọ giới Cụ túc phải là người đầy đủ 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý), đây là điều kiện chung, chủ yếu, từ xưa đến nay các bộ phái đều nhất trí chấp hành.

Theo giáo sử thì 5 anh em tôn giả Kiều Trần Như là những đệ tử đầu tiên trong hàng ngũ đệ tử Tỳ kheo của Phật.

Tỳ Kheo Ni: Vị Tỳ kheo ni đầu tiên trong hàng ngũ Ni chúng là bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề (Mahàpajàpati), di mẫu của Phật, được Phật cho phép xuất gia thọ giới Cụ túc. Tiếp theo sau bà là 500 người nữ dòng họ Thích cũng được Phật độ cho xuất gia, thành lập Ni chúng.

Để đảm bảo tính chất tôn nghiêm của giáo pháp và sự thanh tịnh của Tăng đoàn, người nữ muốn xuất gia thọ giới, trước hết phải tuân thủ 8 kính pháp mà Phật quy định.

Giới Bồ tát:  được gọi là Đạo tục thông hành giới, nghĩa là người xuất gia và tại gia đều thọ trì như nhau. Không những thế mà các loài chúng sanh từ cõi trời Sắc giới trở xuống, hễ ai hiểu được lời nói của pháp sư đều có thể thọ giới, chỉ trừ những kẻ phạm 7 tội nghịch (giết cha, giết mẹ, giết A la hán, phá sự hòa hợp của Tăng, làm cho thân Phật ra máu, giết Hòa thượng Bổn sư và giết thầy dạy phép tắc). Hơn nữa, giới này có thể thọ toàn phần hay từng phần, tùy theo khả năng. Ai đã thọ lãnh giới này rồi thì vĩnh viễn không mất giới, dù tái sinh ở bất cứ nơi đâu, chỉ trừ phạm 7 tội nghịch, phạm thượng phẩm trọng giới và bỏ mất tâm Bồ đề.

“Tỳ Ni tạng trụ, Phật Pháp diệc trụ. Tỳ Ni tạng diệt, Phật Pháp diệc diệt.”

Đức Phật dạy: “Trên từ Chư Phật, Thánh nhân, Sư Tăng, Phụ mẫu; dưới đến các loài bò bay máy cựa, vi tế côn trùng, hễ có mạng sống đều không được giết.”

Hay trong bài kệ Tỳ Ni có bài kệ Hạ đơn: “Tùng triêu Dần đán trực chí mộ, nhất thiết chúng sanh tự hồi hộ, nhược ư túc hạ táng kỳ hình, nguyện nhữ tức thời sanh Tịnh độ.” Thể hiện lòng Từ bi của Đạo Phật trong từng hành động nhỏ nhiệm.

Kinh Tâm Địa Quán, Phật dạy:

“Người giữ gìn giới luật dù xuất gia chỉ trong một ngày đêm cũng được hai trăm vạn kiếp không sa đọa ác thú. Người đó thường sanh nơi nhàn cảnh, hưởng phước trí thù thắng, thường gặp Thiện tri thức, vĩnh viễn không thoái chuyển, thường gặp chư Phật được Phật thọ ký, ngồi tòa kim Cang thành bậc Đại Giác.”

Kinh Đại Niết Bàn, Phật dạy:

“Giới là thềm thang của tất cả pháp lành, cũng là cội gốc của tất cả thiện pháp, như quả đại địa là cội gốc của tất cả thảo mộc phát sanh.”

Như trong Kinh Lăng Nghiêm, Phật đã từng dạy:

“Như nấu cát mà muốn thành cơm, trọn không thể có được.”

Ngay đây hành giả phải tự nghiệm lấy, chớ nói suông vô ích, đến khi bệnh nặng, những tri kiến, tri giải học suông một đời làm sao cứu nổi cơn vô thường sắp đến! Phải biết rõ vua Diêm La không kiêng nể một ai, cho dù chúng ta thông suốt Tam Tạng Kinh điển v.v…, đều không màng đến nếu không tịnh nghiệm giới pháp.

Thiền Sư Quy Sơn dạy:

“Một mai bệnh nặng nằm trên giường, mọi thứ đau đớn đoanh vây bức bách. Sớm tối lo nghĩ, trong lòng lo sợ bồi hồi. Đường trước mịt mờ chưa biết về đâu, bấy giờ mới biết ăn năn, đợi khát đào giếng sao kịp? Hận mình sớm chẳng lo tu, đến lúc tuổi già nhiều điều tội lỗi. Khi sắp rời bỏ cuộc đời, sự sống tan rã nhanh chóng, trong lòng khiếp sợ kinh hoàng. Giống như lưới thủng chim bay, thức tâm theo nghiệp. Như kẻ mắc nợ, ai mạnh kéo trước, trong tâm nhiều mối, nặng đâu sa đó.”

Như vậy, chúng ta thấy rõ, trên từ chư Phật, dưới các bậc Tổ sư đều dạy chúng ta lúc còn khỏe mạnh phải thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức. Song điều tiên quyết ở đây là làm sao để phát huy năng lực của định và tuệ? Nhưng nếu không có giữ gìn giới hạnh trang nghiêm thì thử hỏi định và tuệ làm sao phát khởi?

Kinh Niết Bàn, Phật dạy:

“Nếu không có hộ trì giới luật làm sao được Phật tánh? Tất cả chúng sanh dù sẵn có Phật tánh, nhưng phải nhờ trì giới. Sau đó Phật tánh mới hiển lộ, nhân thấy Phật tánh mới chứng được giác trí.”

Trong Kinh A Hàm, Phật có dạy:

“Này các thầy Tỳ kheo! Có một người buổi sáng ý nghĩ điều lành, miệng nói lời lành, thân làm điều lành. Người ấy có một buổi sáng an ổn và hạnh phúc.

Này các thầy Tỳ kheo! Có một người buổi trưa ý nghĩ điều lành, miệng nói lời lành, thân làm điều lành. Người ấy có một buổi trưa an ổn và hạnh phúc.

Này các thầy Tỳ kheo! Có một người buổi chiều ý nghĩ điều lành, miệng nói lời lành, thân làm điều lành. Người ấy có một buổi chiều an ổn và hạnh phúc.”

Qua đoạn Kinh văn này, chúng ta thấy rõ Đức Phật đâu có dạy điều gì cao siêu mầu nhiệm, mà chỉ dạy một buổi sáng ý nghĩ điều lành… Đây là bí yếu vào đạo, là cửa ngõ để đi đến con đường của “Giới – Định – Tuệ”. Vì sao? Vì khi chúng ta không tỉnh giác thì dễ dấy niệm ác, mà đã dấy niệm ác thì luôn luôn tìm cách hại người này, hại kẻ khác. Song những hạt giống ác pháp này nó không mất, mà nó tích lũy đủ nhân đủ duyên nó tạo ác, mà đã tạo tác rồi thì giới pháp khó mà giữ được. Còn chúng ta luôn nghĩ về điều lành, thân làm điều lành, miệng nói lời lành, thì hạt giống thiện pháp này tích lũy và tăng trưởng lên. Từ đó, ta đi vào cuộc sống giữa đời thường này, giới thể tự bộc phát và giữ gìn pháp thân huệ mạng cho ta. Đây là sự thật vậy! Vì chúng tôi quan sát trong đại chúng tu tập, người nào hay hại người này, kẻ kia không sớm thì muộn đều phạm vào giới pháp của Phật Tổ.

Như Kinh Di Giáo, Phật dạy:

“Tỳ kheo các ông! Sau khi Ta nhập diệt, phải tôn trọng quý kính Ba la đề mộc xoa (giới luật) như đêm tối gặp ánh sáng, như người nghèo gặp của báu. Phải biết pháp này là thầy của các ông, dù Ta có trụ ở đời cũng không khác pháp này vậy.”

Luận Đại Trí Độ nói:

“Nếu người nào muốn cầu sự lợi ích lớn thì trước hết phải kiên trì giới luật như quý ngọc báu, như giữ thân mạng, vì giới luật là chỗ an trú của tất cả thiện pháp.”

Kinh A Nan Vấn Sự Phật Cát Hung nói:

“Đức của giới hạnh khiến cho phước tự nhiên đến, thiên thần ủng hộ, cảm động đến 10 phương. So với đức của chư thiên thì công đức của giới hạnh cao vòi vọi, các Thánh ngợi khen, khó thể cân lường. Người trí đạt mệnh dù tan thân mất mạng cũng chẳng theo tà, khéo nhận biết lời Phật dạy thì có thể đắc đạo, vượt khỏi thế gian.”

Kinh Hoa Nghiêm, Phật dạy:

“Giới luật là vị thuốc hay trị được bệnh phiền não, như đấng cha mẹ giúp con qua cơn đau khổ, là chiếc cầu bắc ngang sông sanh tử, là đèn soi đêm tối si mê.”

Như vậy, chúng ta muốn được an vui và hạnh phúc, thoát khỏi cảnh trầm luân của kiếp người, ta đừng có mơ mộng đâu xa, mà ở ngay nơi mảnh đất thực tại này, ta luôn luôn tỉnh giác về thân, khẩu, ý. Hy vọng rằng với công phu tu tập của Đại chúng trong 3 tháng An Cư sẽ tạo thành nguồn năng lượng thanh tịnh và tươi mát, góp phần đem lại sự an lành cho tất cả mọi người, mọi loài trên trái đất nầy. ¤


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.