Kinh Diệu Pháp Liên Hoa giảng giải

07. Phẩm Hóa Thành Dụ



Hóa Thành Dụ là thí dụ hóa ra cái thành tạm, cho kẻ đi đường dài mỏi mệt nghỉ chân để rồi tiếp tục đi nữa. Dụ này ngầm nói lên quả vị Thanh văn, Duyên giác chỉ là Niết-bàn tạm, không phải cứu cánh. Cứu cánh là phải đạt quả vị Phật.

Chánh văn: 

1) Đức Phật bảo các thầy Tỳ-kheo: 

Thuở quá khứ vô lượng vô biên bất khả tư nghì a-tăng-kỳ kiếp đã qua, lúc bấy giờ có đức Phật hiệu Đại Thông Trí Thắng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. 

Nước đó tên Hảo Thành, kiếp tên Đại Tướng. Các Tỳ-kheo! Từ khi đức Phật đó diệt độ nhẫn đến nay rất là lâu xa, thí như địa chủng trong cõi tam thiên đại thiên, giả sử có người đem mài làm mực rồi đi khỏi một nghìn cõi nước ở phương đông bèn chấm một điểm chừng bằng bụi nhỏ, lại qua một nghìn cõi nước nữa cũng chấm một điểm, cứ như thế lần lựa chấm hết mực mài bằng địa chủng ở trên. Ý các ông nghĩ sao? Các cõi nước đó hoặc thầy toán hoặc đệ tử của thầy toán có thể biết được ngằn mé số đó chăng? 

– Thưa Thế Tôn! Không thể biết! 

– Các Tỳ-kheo! Những cõi nước của người đó đi qua hoặc có chấm mực hoặc không chấm mực, đều nghiền nát cả ra làm bụi, một hạt bụi là một kiếp, từ đức Phật đó diệt độ đến nay lại lâu hơn số đó vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức a-tăng-kỳ kiếp. Ta dùng sức tri kiến của Như Lai xem thuở lâu xa đó dường như hiện ngày nay. 

Bấy giờ đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: 

2) Ta nhớ đời quá khứ 

Vô lượng vô biên kiếp 

Có Phật Lưỡng Túc Tôn 

Hiệu Đại Thông Trí Thắng.

Như người dùng sức mài 

Cõi tam thiên đại thiên 

Hết tất cả địa chủng 

Thảy đều làm thành mực

Quá hơn nghìn cõi nước 

Bèn chấm mỗi điểm trần 

Như thế lần lựa chấm 

Hết các mực trần này.

Bao nhiêu cõi nước đó 

Điểm cùng chẳng điểm thảy

Lại đều nghiền làm bụi 

Một bụi làm một kiếp

Kiếp số lâu xa kia 

Lại nhiều hơn số bụi

Phật đó diệt đến nay 

Vô lượng kiếp như thế 

Trí vô ngại của Phật

Biết Phật đó diệt độ

Và Thanh văn, Bồ-tát

Như hiện nay thấy diệt.

Các Tỳ-kheo nên biết!

Trí Phật tịnh vi diệu 

Vô lậu và vô ngại 

Suốt thấu vô lượng kiếp.

Giảng:

Đức Phật kể lại chuyện của một đức Phật từ kiếp xa xưa tên là Đại Thông Trí Thắng. Từ khi đức Phật ấy diệt độ nhẫn đến nay thời gian rất lâu xa. Thí như lấy đất tam thiên đại thiên thế giới, mài nát ra thành mực, rồi cứ đi về phương đông cách khoảng một ngàn cõi nước chấm một điểm nhỏ, và cứ thế mà chấm cho đến khi hết mực được mài, thì chừng bao nhiêu thế giới? Không thể tính đếm được, quá nhiều! Bây giờ đem những thế giới chấm mực và không chấm mực nghiền nát thành bụi, mỗi hạt bụi tính là một kiếp. Như vậy vô số bụi là vô số kiếp. Từ khi đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai nhập diệt tới nay lâu hơn vô số kiếp đó, thế mà đức Thế Tôn dùng tri kiến Phật xem thuở lâu xa đó thấy như hiện nay. Chúng ta không thể tưởng tượng nổi, không thể tính toán ra thời gian đó là bao nhiêu, làm sao mà tin được? Đứng về mặt sự mà nói thì kinh Phạm Động trong bộ Trường A-hàm có ghi lại sáu mươi hai kiến chấp của ngoại đạo. Sở dĩ ngoại đạo có những kiến chấp là do họ tu thiền định, nếu sức định vừa thì họ nhớ từ năm mười kiếp về trước, thấy rõ về túc mạng, gia tộc, quốc độ, sinh hoạt của họ và mỗi loài chúng sanh. Nếu sức định sâu thì thấy cả trăm cả ngàn đời về trước. Họ thấy tới đâu là họ chấp tới đó. Còn những gì xa hơn chỗ thấy biết do sức định thì họ không biết. Ở đây nói lên sức định của Phật thâm sâu không thể diễn tả nổi. Cho nên cái biết của ngài về quá khứ cũng không thể nghĩ lường.

Thời gian từ đức Phật Đại Thông Trí Thắng tịch diệt, đến lúc đức Thích-ca ra đời trải qua thời gian lâu xa vô kể, mà bây giờ ngài ưng nhớ lại thì thấy rõ như chuyện hiện nay. Đó là do sức thiền định sâu, nhớ được quá khứ rất lâu xa. Đứng về mặt lý thì tri kiến Như Lai là trí tuệ Phật, mà trí tuệ Phật thì không lệ thuộc thời gian…

Thời gian như ngày, tháng, năm chẳng qua là khái niệm do người đặt ra, không có thật. Quả đất cứ xoay quanh mặt trời, vùng đất nhận ánh sáng mặt trời, người cho là ngày, vùng đất không nhận ánh sáng mặt trời, người cho là đêm, chứ nó không tự nói là ngày hay là đêm. Thời gian chỉ là ý niệm người đặt ra tạm dùng không có lẽ thật. Dù thời gian muôn nghìn triệu ức, nhưng đối với đức Đại Thông Trí Thắng tức tri kiến Phật là cái không hình, không tướng, không sanh, không diệt thì không bị giới hạn bởi thời gian. Vì vậy mà nói dù cho vô lượng kiếp xa xưa không thể tính đếm được, cần nhớ thì nhớ thấy như hiện tại.

Chánh văn: 

3) Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: 

Đức Đại Thông Trí Thắng Phật thọ năm trăm bốn mươi vạn ức na-do-tha kiếp, đức Phật đó khi trước lúc ngồi đạo tràng phá quân ma rồi, sắp được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà Phật pháp chẳng hiện ra trước, như thế một tiểu kiếp cho đến mười tiểu kiếp, ngồi xếp bằng thân và tâm đều không động mà các Phật pháp còn chẳng hiện ra trước. 

Thuở đó, các vị trời Đao-lợi ở dưới cội cây bồ-đề đã trước vì đức Phật đó mà trải tòa sư tử cao một do-tuần. Phật ngồi nơi tòa này sẽ được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Khi Phật vừa ngồi trên tòa đó các trời Phạm thiên vương rưới những hoa trời khắp bốn mươi do-tuần, gió thơm lâu lâu thổi đến, thổi dẹp hoa héo rồi rưới hoa mới mãi như thế không ngớt mãn mười tiểu kiếp để cúng dường đức Phật, nhẫn đến khi Phật diệt độ thường rưới hoa này. Các trời Tứ thiên vương vì cúng dường Phật nên thường đánh trống trời. Ngoài ra các vị trời khác trỗi kỹ nhạc trời mãn mười tiểu kiếp đến khi Phật diệt độ cũng lại như thế. 

Các Tỳ-kheo! Đức Đại Thông Trí Thắng Phật quá mười tiểu kiếp các Phật pháp hiện ra trước thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. 

Lúc Phật chưa xuất gia có mười sáu người con trai, người con cả tên Trí Tích. Các người con đó đều có các món đồ chơi tốt đẹp báu lạ, nghe cha chứng được quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đều bỏ đồ báu của mình, đi đến chỗ Phật. Các người mẹ khóc lóc theo đưa. 

Ông nội là vua Chuyển luân thánh vương, cùng một trăm vị đại thần và trăm nghìn muôn ức nhân dân khác đều vây quanh nhau đi theo đến đạo tràng, mọi người đều đến gần gũi đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai để cúng dường cung kính, tôn trọng, ngợi khen. Khi đã đến nơi, tất cả đem đầu mặt mình lạy chân Phật, đi vòng quanh đức Phật xong, đều chắp tay một lòng chiêm ngưỡng dung nhan của Phật, rồi nói kệ khen Phật. 

Giảng: 

Tại sao đức Phật Đại Thông Trí Thắng ngồi đạo tràng phá quân ma rồi sắp được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thân tâm chẳng động mà Phật pháp không hiện tiền?

Đứng về mặt sự thì chúng ta thấy đức Thích-ca-mâu-ni tuổi thọ khoảng tám mươi tuổi. Ngài tọa thiền bốn mươi chín ngày đêm, đêm sau cùng đầu hôm ma quân đến quấy nhiễu, ngài chiến đấu với ma quân, đến canh năm lúc sao mai mọc thì ngài thành đạo. Còn đức Phật Đại Thông Trí Thắng tuổi thọ đến năm trăm bốn mươi vạn ức na-do-tha kiếp, nên thời gian ngài nhập định chiến đấu với ma quân cũng lâu dài và mãi đến mười tiểu kiếp sau trời Đao-lợi trải tòa sư tử dưới cội bồ-đề, ngài ngồi trên tòa này mới thành đạo. Sự kiện này nói lên đức Thích-ca-mâu-ni là Phật hóa thân tuổi thọ ngắn nên thời gian tu cũng ngắn, còn đức Đại Thông Trí Thắng là Phật báo thân, tuổi thọ dài nên thời gian tu cũng dài.

Đứng về mặt lý thì nếu nhập định thân tâm không động, mãi an trú trong định thì chưa giác, mà nếu chưa giác thì chưa thành Phật, nên nói Phật pháp chưa hiện ra. Thiền tông có một câu chuyện nói lên ý nghĩa này:

Xưa, có một bà già thấy một thiền sư tu hành tinh tấn, bà phát tâm cất một cái am và cung cấp lương thực cho ngài tu. Thiền sư ở yên tu một thời gian, một hôm bà sai đứa cháu gái đem cơm đến cho ngài và dặn đứa cháu khi đưa cơm xong thì vòng tay ôm ngài và hỏi:

– Ngay bây giờ thì thế nào?

Đứa cháu gái làm đúng như lời bà dạy. Thiền sư trả lời:

Khô mộc ỷ hàn nham 

Tam xuân vô noãn khí. 

Dịch:

Cây khô tựa đá lạnh 

Ba xuân không hơi ấm. 

Tuy cô gái ôm ngài, nhưng ngài không động tâm: trơ trơ như cây khô như đá lạnh, đã trải qua ba năm rồi lòng ngài như băng giá không có chút tình cảm hơi ấm với người. Hành động của cô gái đối với ngài, ngài không hề khởi niệm dục vọng.

Cô gái về thuật lại sự việc ấy cho bà nghe, bà nói:

– Uổng mấy năm nuôi ông thầy không có trí tuệ!

Bà bèn đốt am đuổi đi.

Một người tu chân chính bị nữ sắc cám dỗ tâm không dao động, đối với chúng ta ngài là người có đạo lực cao, đáng tán thán khen ngợi. Nhưng dưới mắt bà già cũng như dưới mắt Thiền tông thì thiền sư ấy đang “chìm trong nước chết”, tức là đang ở trong trạng thái tịch lặng, trí tuệ chưa sáng, chưa đến chỗ rốt ráo. Để cảnh giác ngài, bà đốt am để ngài vươn lên. Một việc làm phi thường của bà già thấu được lý đạo. Đây nói ngồi thân tâm không động, Phật pháp chẳng hiện tiền, là chỉ trạng thái tịch lặng, trí tuệ chưa sáng. Trải qua mười tiểu kiếp lúc đó Phật pháp mới hiện tiền, tức là vượt qua chỗ nước chết, trí tuệ sáng ra.

Đức Phật Đại Thông Trí Thắng lúc chưa xuất gia có mười sáu người con trai, người con cả tên là Trí Tích. Trí Tích là trí chứa nhóm lâu đời, phần sau sẽ giải thích rộng hơn. Khi Phật thành đạo thì mười sáu người con phát tâm tu và cả quyến thuộc đều lần lượt kéo đến chiêm ngưỡng cung kính, cúng dường, khen ngợi.

Chánh văn: 

4) Thế Tôn oai đức lớn 

Vì muốn độ chúng sanh 

Trong vô lượng ức năm

Bèn mới được thành Phật

Các nguyện đã đầy đủ 

Hay thay! Lành vô thượng 

Thế Tôn rất ít có 

Một phen ngồi mười kiếp 

Thân thể và tay chân 

Yên tịnh không hề động 

Tâm Phật thường lặng lẽ 

Chưa từng có tán loạn

Trọn rốt ráo vắng bặt 

An trụ pháp vô lậu.

Ngày nay thấy Thế Tôn

An ổn thành Phật đạo 

Chúng con được lợi lành 

Mừng rỡ rất vui đẹp.

Chúng sanh thường đau khổ 

Đui mù không Đạo sư

Chẳng biết đạo dứt khổ

Chẳng biết cầu giải thoát 

Lâu ngày thêm nẻo ác 

Giảm tổn các chúng trời

Từ tối vào nơi tối 

Trọn chẳng nghe danh Phật.

Nay Phật được Vô thượng 

Đạo an ổn vô lậu

Chúng con và trời người

Vì được lợi lớn tột 

Cho nên đều cúi đầu

Quy mạng đấng Vô thượng 

Giảng:

Mười sáu vị vương tử và trong thân quyến tán thán Phật. Trong lời tán thán Phật, đoạn trên lặp lại ý đức Phật tu hành, đoạn dưới nói lên sự đau khổ của chúng sanh là do đui mù không người hướng dẫn. Chúng ta thấy mọi loài chúng sanh ai ai cũng có mắt, thấy đường đi, ai ai cũng phân biệt được cảnh vật tốt xấu, tại sao trong Kinh nói mù? Chữ đui mù ở đây ý nói rằng tất cả chúng sanh trong thế gian này, nếu không có Phật ra đời thì không làm sao nhận ra pháp thân thanh tịnh bất sanh bất diệt của mình. Cứ sống theo vọng tưởng hình tướng sanh diệt nên chúng sanh đời đời kiếp kiếp mê mờ, chẳng khác nào người mù không thấy lối đi.

Chính vì mê mờ chẳng biết đạo dứt khổ, chẳng biết cầu giải thoát. Khi sanh ra không biết mình từ đâu đến, rồi khi nhắm mắt chẳng biết mình đi về đâu! Sống cứ loanh quanh lẩn quẩn trong việc ăn, mặc, ở, bệnh, già, chết… không biết đầu mối trước, cũng không biết cuối mối sau, cứ mù mù mịt mịt, không có ánh sáng nên mãi đau khổ. Sở dĩ như thế là vì không có minh sư hướng dẫn để thoát khỏi vòng lẩn quẩn đó, nên càng ngày càng tạo thêm nghiệp ác, dẫn tới những đường ác như địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Không có người tu Thập thiện nên cõi trời ít chúng sanh sanh lên đó. Như vậy thì đường ác càng ngày càng tăng, cõi thiện càng ngày càng giảm, nên nói từ tối vào nơi tối. Kinh A-hàm, Phật có dùng thí dụ để giải thích sự kiện này. Phật nói có 4 hạng người:

  1. Từ tối vào tối: là những người quá khứ không tạo duyên phước lành nên sanh ra trong cảnh nghèo khổ bệnh tật, chẳng những không phát tâm hướng thiện lại còn hung dữ tàn bạo tạo nhiều nghiệp ác. Trước đã mờ mịt nay lại tạo nghiệp đen tối nữa nên nói từ tối vào tối.
  2. Từ sáng đến sáng: là những người quá khứ đã tạo duyên phước lành nên sanh ra trong cảnh giàu sang, thông minh, hiền hậu, lại biết làm lành tạo nghiệp thiện. Trước đã sáng suốt nay tiếp tục tạo nghiệp duyên tốt nên nói từ sáng đến sáng.
  3. Từ tối đến sáng; là những người quá khứ mê mờ không tạo duyên phước lành nên sanh ra trong cảnh cơ cực bần cùng, nay biết hướng thiện tạo nghiệp duyên lành, lần lần nghiệp ác giảm, nghiệp thiện và trí tuệ tăng trưởng, nên nói từ tối đến sáng.
  4. Từ sáng vào tối: là những người trước đã có phước duyên lành sanh ra trong cảnh giàu có, mà không biết nương đạo lý tạo nhân lành lại tạo nghiệp ác. Vì vậy mà đời này thì sung sướng nhưng mai kia sẽ khổ sở, nên nói từ sáng vào tối.

Tới đây chúng ta thấy trách nhiệm của tăng ni là làm thầy dẫn đường cho người đời. Vì vậy mình phải tự tu cho sáng được lý đạo, để rồi hướng dẫn người biết đường thoát ra khỏi cảnh mê mờ u tối, bằng cách mồi đuốc trí tuệ với chánh pháp của Phật. Chính tăng ni phải là ngọn đuốc soi đường cho người đời đi đúng hướng, chứ không thể chấp nhận một kẻ dẫn đường là người mù dẫn theo một số người đui, chắc chắn không tránh khỏi cảnh lạc đường hay sa hầm sụp hố, khổ đau không có ngày cùng.

Chánh văn:

5) Bấy giờ, mười sáu vị vương tử nói kệ khen đức Phật rồi liền khuyến thỉnh đức Thế Tôn chuyển pháp luân, đều thưa rằng: 

Đức Thế Tôn nói pháp được an ổn, thương xót làm lợi ích cho các trời và nhân dân. 

Lại nói kệ rằng:

Đức Phật không ai bằng

Trăm phước tự trang nghiêm 

Được trí tuệ vô thượng 

Nguyện vì đời nói pháp 

Độ thoát cho chúng con 

Và các loài chúng sanh 

Xin phân biệt chỉ bày 

Cho được trí tuệ Phật 

Nếu chúng con thành Phật 

Chúng sanh cũng được thế 

Thế Tôn biết chúng sanh 

Thâm tâm nghĩ tưởng gì

Cũng biết đạo chúng làm 

Lại biết sức trí tuệ

Muốn ưa và tu phước 

Nghiệp gây tạo đời trước 

Thế Tôn biết cả rồi 

Nên chuyển pháp Vô thượng. 

Giảng: 

Trên là cảnh khổ của chúng sanh không gặp Phật ra đời. Nay được Phật ra đời là điều mãn nguyện bậc nhất của các vương tử nên các ngài tán thán và khẩn cầu Phật vì lợi ích chúng sanh mà chuyển pháp luân.

Chánh văn: 

6) Phật bảo các Tỳ-kheo:

Lúc đức Đại Thông Trí Thắng Phật được quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, trong mười phương, mỗi phương đều năm trăm muôn ức các cõi nước Phật sáu diệu vang động. Trong các cõi nước đó chỗ tối tăm ánh sáng của nhật nguyệt không soi tới được mà đều sáng rỡ, trong đó chúng sanh đều được thấy nhau, đồng nói rằng: “Trong đây tại sao bỗng sanh ra chúng sanh?” 

Lại trong các cõi đó cung điện của chư thiên cho đến Phạm cung sáu điệu vang động, hào quang lớn soi cùng khắp đầy cõi nước, sáng hơn ánh sáng của trời. 

Giảng:

Khi đức Đại Thông Trí Thắng thành Phật thì năm trăm muôn ức cõi Phật ở mỗi phương trỗi lên sáu điệu vang động. Trong cõi nước chỗ nào tối tăm, ánh sáng mặt trời mặt trăng không đến được, nay nhân Phật thành đạo, hào quang của Phật bủa khắp cả mười phương, chỗ tối tăm người ta không thấy nhau bây giờ được thấy. Do đó, các chúng sanh mới lần theo ánh sáng tìm đến chỗ Phật ngự. Khi đến nơi, ra mắt Phật, tán thán Phật, cúng dường Phật và cuối cùng thỉnh Phật chuyển pháp luân. Phần này, đứng về mặt sự thì trí tuệ Phật là cái hằng sáng soi khắp tất cả chỗ, được dụ như mặt trời không chỗ nào là soi chẳng đến. Tại sao? Vì do công phu thiền định sâu nên khi giác ngộ thì giác ngộ viên mãn. Do giác ngộ viên mãn nên trí tuệ trùm khắp cả mười phương. Đứng về lý thì trí tuệ Phật không sanh không diệt không bị hạn cuộc ở thời gian như đã trình bày ở đoạn trước, và ở đây thì nói trí tuệ Phật không hình không tướng nên không bị hạn cuộc bởi không gian. Trong Kinh thường ví trí tuệ Phật rộng lớn như hư không, phàm cái gì có hình tướng là có giới hạn, còn hư không không hình tướng nên không ngần mé, không giới hạn, bởi không giới hạn nên trùm khắp cả mười phương, vì vậy mà đâu đâu cũng thấy được ánh sáng Phật.

Khi chúng sanh còn mê thì trí tuệ Phật bị hạn cuộc trong thân năm uẩn, bị giới hạn bởi ý niệm thời gian. Khi đã giác ngộ rồi, hết vô minh phiền não thì trí tuệ Phật bủa khắp tất cả chỗ. Sự kiện này người giác ngộ thì tự biết. Bây giờ chúng ta chỉ lý luận để tạm hiểu chứ chưa phải là thấy thật. Do đó phải nỗ lực tu hành để nhận ra lẽ thật ấy.

Chánh văn: 

7) Bấy giờ, phương đông, năm trăm muôn ức các cõi nước, cung điện của trời Phạm thiên ánh sáng soi chói gấp bội hơn ánh sáng thường ngày, các Phạm thiên vương đều tự nghĩ rằng: “Hôm nay cung điện sáng suốt từ xưa chưa từng có, vì nhân duyên gì mà hiện điềm tốt này?” Lúc đó các vị Phạm thiên vương liền đi đến nhau để chung bàn việc đó. Trong chúng có một vị Phạm thiên vương lớn tên Cứu Nhất Thiết vì các Phạm chúng mà nói kệ rằng: 

Các cung điện chúng ta

Sáng suốt chưa từng có 

Đây là nhân duyên gì

Phải nên chung nhau tìm

Là trời đại đức sanh 

Hay là Phật ra đời? 

Mà ánh sáng lớn này 

Khắp soi cả mười phương.

Bấy giờ, năm trăm muôn ức cõi nước, các vị Phạm thiên vương cùng chung với cung điện mỗi vị đều lấy đấy đựng các thứ hoa trời, đồng đi đến phương tây suy tìm tướng sáng đó. Thấy đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai ngồi tòa sư tử ở nơi đạo tràng dưới cội bồ-đề, hàng chư thiên, long vương, càn-thát-bà, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, nhân và phi nhân v.v… cung kính vây quanh đức Phật, và thấy mười sáu vị vương tử thỉnh Phật chuyển pháp luân; tức thời các vị Phạm thiên vương đầu mặt lạy chân Phật đi quanh trăm nghìn vòng, liền lấy hoa trời mà rải trên đức Phật. 

Hoa của mấy ông rải nhóm như núi Diệu Cao, cùng để cúng dường cây bồ-đề của Phật, cây bồ-đề đó cao mười do-tuần. Cúng dường hoa xong, mỗi vị đem cung điện dâng lên đức Phật mà thưa rằng: 

Xin đức Phật đoái thương lợi ích cho chúng con, cung điện dâng cúng đây xin nạp ở. 

Lúc đó, các vị Phạm thiên vương liền ở trước Phật một lòng đồng tiếng dùng kệ khen rằng: 

Thế Tôn rất ít có 

Khó thể gặp gỡ được 

Đủ vô lượng công đức

Hay cứu hộ tất cả 

Thầy lớn của trời người

Thương xót ở trong đời 

Mười phương các chúng sanh

Khắp đều nhờ lợi ích.

Chúng con cùng theo đến 

Năm trăm muôn ức nước 

Bỏ vui thiền định sâu 

Vì để cúng dường Phật

Chúng con phước đời trước

Cung điện rất tốt đẹp

Nay đem dâng Thế Tôn 

Cúi xin thương nạp thọ. 

Bấy giờ, các vị Phạm thiên vương nói kệ khen đức Phật rồi đều thưa rằng: 

Cúi xin Thế Tôn chuyển pháp luân, độ thoát chúng sanh mở đường Niết-bàn. 

Khi ấy, các vị Phạm thiên vương một lòng đồng tiếng mà nói kệ rằng:

Thế Hùng Lưỡng Túc Tôn 

Cúi xin diễn nói pháp 

Dùng sức từ bi lớn 

Độ chúng sanh khổ não.

Lúc đó, đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai lắng yên nhận lời đó. 

8) Lại nữa, các Tỳ-kheo! Phương đông nam năm trăm muôn ức cõi nước các vị Phạm thiên vương đều tự thấy cung điện mình ánh sáng chói lòa từ xưa chưa từng có, vui mừng hớn hở sanh lòng hy hữu, liền cùng đến nhau chung bàn việc đó. Lúc ấy trong chúng đó có một vị Phạm thiên vương tên là Đại Bi, vì các Phạm chúng mà nói kệ rằng: 

Việc đó nhân duyên gì 

Mà hiện tướng như thế?

Các cung điện chúng ta

Sáng suốt xưa chưa có 

Là trời đại đức sanh 

Hay là Phật ra đời? 

Chưa từng thấy tướng này

Nên chung một lòng cầu

Quá nghìn muôn ức cõi 

Theo luồng sáng tìm đó 

Phần nhiều Phật ra đời 

Độ thoát khổ chúng sanh.

Bấy giờ, năm trăm muôn ức các vị Phạm thiên vương cùng chung với cung điện, lấy đãy đựng các thứ hoa trời, đồng đến phương tây bắc suy tìm tướng đó. Thấy đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai ngồi tòa sư tử nơi đạo tràng dưới cội bồ đề, các hàng chư thiên, long vương, càn-thát-bà, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, nhân cùng phi nhân v.v… cung kính vây quanh, và thấy mười sáu vị vương tử thỉnh Phật chuyển pháp luân. 

Khi ấy, các vị Phạm thiên vương đầu mặt lạy chân Phật, đi quanh trăm nghìn vòng, liền lấy hoa trời mà rải trên đức Phật. Hoa rải đó nhóm như núi Diệu Cao, cùng để cúng dường cây bồ-đề của Phật. Cúng dường hoa xong, đều đem cung điện dâng lên đức Phật mà thưa rằng: 

Xin Phật thương xót lợi ích cho chúng con, những cung điện dâng đây cúi xin nhận ở. 

Lúc đó, các vị Phạm thiên vương liền ở trước Phật một lòng đồng tiếng nói kệ khen rằng: 

Thánh Chúa vua trong trời 

Tiếng ca-lăng-tần-già 

Thương xót hàng chúng sanh 

Chúng con nay kính lễ.

Thế Tôn rất ít có 

Lâu xa một lần hiện 

Một trăm tám mươi kiếp

Luống qua không có Phật

Ba đường dữ dẫy đầy 

Các chúng trời giảm ít.

Nay Phật hiện ra đời

Làm mắt cho chúng sanh

Chỗ quy thú của đời 

Cứu hộ cho tất cả 

Là cha của chúng sanh 

Thương xót làm lợi ích 

Nhờ phước lành đời trước

Nay được gặp Thế Tôn.

Khi đó, các vị Phạm thiên vương nói kệ khen Phật xong đều thưa rằng:

Cúi xin đức Thế Tôn thương xót tất cả, chuyển pháp luân cho, để độ thoát chúng sanh. 

Lúc ấy, các vị Phạm thiên vương một lòng đồng tiếng mà nói kệ rằng:

Đại Thánh chuyển pháp luân 

Chỉ bày các pháp tướng

Độ chúng sanh đau khổ

Khiến được rất vui mừng

Chúng sanh nghe pháp này

Được đạo hoặc sanh thiên 

Các đường dữ giảm ít 

Bậc nhẫn thiện thêm nhiều.

Khi đó, đức Đại Thông Trí Thắng Phật lặng yên nhận lời.

9) Lại nữa, các Tỳ-kheo! Năm trăm muôn ức cõi nước ở phương nam, các vị Đại Phạm vương đều tự thấy cung điện mình ánh sáng chói lòa từ xưa chưa có, vui mừng hớn hở sanh lòng hy hữu liền đến cùng nhau chung bàn việc đó. Vì nhân duyên gì cung điện của chúng ta có ánh sáng chói này? 

Trong chúng đó có một vị Phạm thiên vương lớn tên là Diệu Pháp, vì hàng Phạm chúng mà nói kệ rằng: 

Các cung điện chúng ta

Quang minh rất oai diệu

Đây không phải không nhân

Tướng này phải tìm đó

Quá hơn trăm nghìn kiếp

Chưa từng thấy tướng này 

Là trời đại đức sanh 

Hay đức Phật ra đời? 

Bấy giờ, năm trăm muôn ức Phạm thiên vương cùng cung điện chung, mỗi vị dùng đãy đựng các thứ hoa trời đồng đến phương bắc suy tìm tướng đó. Thấy đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai ngồi tòa sư tử nơi đạo tràng dưới cội cây bồ đề, hàng chư thiên, long vương, càn-thát-bà, khẩn-na-la, ma-hầu- la-già, nhân và phi nhân v.v… cung kính vây quanh, cùng thấy mười sáu vị vương tử thỉnh Phật chuyển pháp luân. 

Khi đó, các vị Phạm thiên vương, đầu mặt lễ Phật, đi quanh trăm nghìn vòng, liền lấy hoa trời mà rải trên đức Phật. Hoa rải đó nhóm như núi Diệu Cao và để cúng dường cây bồ đề của Phật. 

Cúng dường hoa xong, mỗi vị đều đem cung điện dâng lên đức Phật mà thưa rằng: 

Xin đức Phật đoái thương lợi ích chúng con, cung điện của chúng con dâng đây cúi xin nhận ở. 

Bấy giờ, các vị Đại Phạm thiên vương liền ở trước Phật một lòng đồng tiếng nói kệ khen rằng: 

Thế Tôn rất khó thấy 

Bậc phá các phiền não

Hơn trăm ba mươi kiếp 

Nay mới thấy một lần

Hàng chúng sanh đói khát

Nhờ mưa pháp đầy đủ

Xưa chỗ chưa từng thấy

Đấng vô lượng trí tuệ 

Như hoa ưu-đàm-bát 

Ngày nay mới gặp gỡ 

Cung điện của chúng con 

Nhờ hào quang được đẹp

Thế Tôn đại từ mẫn 

Cúi xin thương nhận ở.

Khi đó, các vị Phạm thiên vương nói kệ khen đức Phật rồi, đều bạch rằng:

Cúi mong đức Thế Tôn chuyển pháp luân làm cho tất cả thế gian các hàng trời, ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn đều được an ổn mà được độ thoát.

Lúc ấy, các vị Phạm thiên vương một lòng đồng tiếng nói kệ rằng:

Cúi mong Thiên Nhân Tôn 

Chuyển pháp luân Vô thượng

Đánh vang pháp cổ lớn 

Mà thổi pháp loa lớn 

Khắp rưới pháp vũ lớn 

Độ vô lượng chúng sanh 

Chúng con đều quy thỉnh 

Nên nói tiếng sâu xa.

Khi đó, đức Đại Thông Trí Thắng Phật lặng yên nhận lời đó. 

10) Phương tây nam nhẫn đến phương dưới cũng lại như thế. 

Bấy giờ, năm trăm muôn ức cõi nước ở thượng phương, các vị Đại Phạm thiên vương thảy đều tự thấy cung điện của mình ở, ánh sáng chói rực từ xưa chưa từng có, vui mừng hớn hở sanh lòng hy hữu, liền đi đến nhau để chung bàn việc đó. Vì nhân duyên gì cung điện của chúng ta có ánh sáng này? Lúc đó, trong chúng có một vị Đại Phạm thiên vương tên là Thi-khí vì hàng Phạm chúng mà nói kệ rằng: 

Nay vì nhân duyên gì 

Cung điện của chúng ta 

Ánh sáng oai đức chói 

Đẹp đẽ chưa từng có 

Tướng tốt như thế đó 

Xưa chưa từng nghe thấy 

Là trời đại đức sanh 

Hay là Phật ra đời? 

Bấy giờ, năm trăm muôn ức các vị Phạm thiên vương cùng cung điện chung, mỗi vị đều dùng đãy đựng các thứ hoa trời đồng đến phương dưới suy tìm tướng sáng đó. Thấy đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai ngồi tòa sư tử nơi đạo tràng, dưới cội bồ-đề, hàng chư thiên, long vương, càn-thát-bà, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, nhân và phi nhân v.v… cung kính vây quanh và thấy mười sáu vị vương tử thỉnh đức Phật chuyển pháp luân. 

Lúc đó, các vị Phạm thiên vương đầu mặt lạy chân Phật, đi quanh trăm nghìn vòng, liền lấy hoa trời rải trên đức Phật. Hoa rải đó nhóm như núi Diệu Cao và để cúng dường cây bồ-đề của Phật. Cúng dường hoa xong, đều đem cung điện dâng lên đức Phật mà bạch rằng: 

Xin đoái thương lợi ích chúng con. Cung điện dâng đây cúi mong Phật nhận ở. 

Lúc đó, các vị Phạm thiên vương liền ở trước Phật một lòng đồng tiếng dùng kệ khen rằng: 

Hay thay! Thấy các Phật 

Đấng Thánh Tôn cứu thế

Hay ở ngục tam giới 

Cứu khỏi các chúng sanh

Thiên Nhân Tôn trí khắp 

Thương xót loài quần manh

Hay khai môn cam lồ 

Rộng độ cho tất cả.

Lúc xưa vô lượng kiếp

Luống qua không có Phật

Khi Phật chưa ra đời 

Mười phương thường mờ tối 

Ba đường dữ thêm đông 

A-tu-la cũng thạnh 

Các chúng trời càng bớt

Chết nhiều đọa ác đạo

Chẳng theo Phật nghe pháp

Thường làm việc chẳng lành

Sắc, lực, cùng trí tuệ

Các việc đều giảm ít 

Vì tội nghiệp nhân duyên

Mất vui cùng tưởng vui

Trụ trong pháp tà kiến 

Chẳng biết nghi tắc lành 

Chẳng nhờ Phật hóa độ 

Thường đọa trong ác đạo.

Phật là mắt của đời 

Lâu xa mới hiện ra

Vì thương các chúng sanh

Nên hiện ở trong đời 

Siêu việt thành Chánh giác

Chúng con rất mừng vui

Và tất cả chúng khác 

Mừng khen chưa từng có.

Cung điện của chúng con

Nhờ hào quang nên đẹp

Nay đem dâng Thế Tôn

Cúi mong thương nhận ở.

Nguyện đem công đức này

Khắp đến cho tất cả 

Chúng con cùng chúng sanh 

Đều đồng thành Phật đạo.

Khi đó, năm trăm muôn ức các vị Phạm thiên vương nói kệ khen đức Phật rồi, đều bạch Phật rằng:

Cúi mong đức Thế Tôn chuyển pháp luânnhiều chỗ an ổn, nhiều chỗ độ thoát.

Lúc ấy, các vị Phạm thiên vương đồng nói kệ rằng: 

Thế Tôn chuyển pháp luân

Đánh trống pháp cam lồ 

Độ chúng sanh khổ não

Mở bày đường Niết-bàn

Cúi mong nhận lời con

Dùng tiếng vi diệu lớn

Thương xót mà nói bày 

Pháp tu vô lượng kiếp. 

Giảng: 

Phật vì muốn đưa mình và chúng sanh ra khỏi khổ luân hồi sanh lão bệnh tử, mới xuất gia tu hành. Khi thành Phật rồi sao ngài không đi giáo hóa cứu độ chúng sanh hết khổ, mà đợi khuyến thỉnh mới ra nói pháp? Thái độ này không riêng gì đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai mà ngay cả đức Thích-ca cũng vậy, Phật có thiếu từ bi chăng? Theo tâm lý thông thường thì những gì mà người đời không ưa thích, chưa biết giá trị, dù vật có quý giá đem cho, họ vẫn không trọng. Hơn thế nữa, Phật pháp cao siêu vượt ngoài sự hiểu biết thông thường của con người, nên khó nói, khó hiểu, khó nhận. Cái cao quý, khó nói khó hiểu khó nhận, nếu đem cho một cách dễ dàng thì sẽ bị khinh thường, khi đã khinh thường thì người không cố gắng tu học để được lợi ích. Phật sẵn sàng cho nhưng người nhận phải thiết tha mong cầu. Đã thiết tha mong cầu thì khi nhận mới chịu áp dụng tu hành, có tu mới lợi ích. Vì vậy khi Phật thành đạo, đợi mấy phen thưa thỉnh ngài mới chuyển pháp luân.

Trí tuệ Phật trùm khắp tất cả chỗ, chúng sanh trong mười phương được soi sáng, nên tìm đến để cúng dường hương hoa cùng cung điện, xin Phật nạp thọ và cung thỉnh Phật chuyển pháp luân.

Trong phần này có đề cập đến những chúng sanh không theo Phật nghe pháp, thường làm việc ác nên sắc, lực cùng trí tuệ đều suy giảm. Tại sao? Vì người tạo nghiệp ác là do thiếu trí tuệ nên tâm không sáng, vì tâm không sáng nên hiện ra tướng bên ngoài u tối, và sức lực yếu kém, do quả báo sát sanh hại vật chiêu cảm mà nên. Đồng là người sanh ra trong cõi đời mà người thì sắc diện trí tuệ sáng suốt, sức lực khỏe mạnh, kẻ thì sắc diện tối, sức lực yếu kém, đó là kết quả do tạo nghiệp ác hay nghiệp lành mà nên.

Vì tội nghiệp nhân duyên, 

Mất vui cùng tưởng vui.

Tội nghiệp đây không có nghĩa là thương xót theo tình cảm thông thường của chúng ta, mà là thân khẩu ý tạo nghiệp gây tội, do nghiệp và tội đó là nhân là duyên cho nên Mất vui cùng tưởng vui, Mất vui cùng tưởng vui là sao? Vì nhân duyên gây tạo nghiệp xấu ác nên có tội, vì có tội nên không được hưởng thú vui ở thế gian, không được vui mà lòng vẫn ham muốn, do lòng ham muốn nên cứ mơ tưởng đến lạc thú. Đó là do tội nghiệp mà ra vậy.

Trụ trong pháp tà kiến,

Chẳng biết nghi tắc lành,

Chẳng nhờ Phật hóa độ,

Thường đọa trong ác đạo.

Có những chúng sanh thấy biết lệch lạc sai lầm, không biết điều thiện việc lành, cái không đáng nghĩ cứ nghĩ, việc không nên làm cứ làm, không có duyên với Phật nên không được Phật hóa độ. Vì vậy mà đọa trong đường ác. Phật là bậc trí tuệ dẫn dắt đưa chúng sanh ra khỏi mê lầm tối tăm nên nói Phật là mắt của đời.

Tóm lại, mười sáu vị vương tử cho đến mười phương tất cả Phạm thiên đều đến cúng dường tán thán Phật, và cầu thỉnh Phật thương xót chuyển pháp luân độ cho chúng sanh được thành Phật.

Chánh văn: 

11) Lúc bấy giờ, đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai nhận lời thỉnh của các Phạm thiên vương và mười sáu vị vương tử tức thời ba phen chuyển pháp luân mười hai hành hoặc là Sa-môn, Bà-la-môn, hoặc là trời, ma, Phạm và các thế gian khác đều không thể chuyển được, nói: đây là khổ, đây là khổ tập, đây là khổ diệt, đây là đạo diệt khổ. 

Và rộng nói pháp Mười hai nhân duyên: vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão, tử, ưu bi, khổ não. 

Vô minh diệt thời hành diệt, hành diệt thời thức diệt, thức diệt thời danh sắc diệt, danh sắc diệt thời lục nhập diệt, lục nhập diệt thời xúc diệt, xúc diệt thời thọ diệt, thọ diệt thời ái diệt, ái diệt thời thủ diệt, thủ diệt thời hữu diệt, hữu diệt thời sanh diệt, sanh diệt thời lão, tử, ưu bi, khổ não diệt. 

Đức Phật ở trong đại chúng trời, người khi nói pháp đó có sáu trăm muôn ức na-do-tha người do vì không thọ tất cả pháp mà ở các lậu tâm được giải thoát, đều được thiền định sâu mầu, ba món minh, sáu món thông, đủ tám giải thoát. 

Lúc nói pháp lần thứ hai, lần thứ ba, lần thứ tư, có nghìn muôn ức hằng hà sa na-do-tha chúng sanh cũng bởi không thọ tất cả pháp mà nơi các lậu tâm được giải thoát. Từ đây nhẫn sau các chúng Thanh văn nhiều vô lượng vô biên, không thể tính kể được. 

Giảng: 

Đức Phật Đại Thông Trí Thắng ở thời xa xưa khi bắt đầu giáo hóa cũng dùng phương tiện nói pháp Tứ đế gọi là tam chuyển pháp luân, thập nhị hành. Tam chuyển pháp luân là Thị chuyển, Khuyến chuyển, Chứng chuyển. Thị chuyển là Phật chỉ rõ bốn lẽ thật có tính cách khách quan: đây là khổ, đây là khổ tập, đây là khổ diệt, đây là đạo diệt khổ. Khuyến chuyển là Phật khuyên năm vị Tỳ-kheo xưa chưa từng nghe, nay cần phải biết hãy chánh tư duy để phát sanh trí tuệ: đây là khổ các ông phải biết, đây là tập các ông phải đoạn, đây là diệt các ông phải chứng, đây là đạo các ông phải tu. Chứng chuyển, Phật nói đối với pháp Tứ đế ngài đã biết, đã tu, đã đoạn và đã chứng. Đây là khổ ta đã biết, đây là khổ tập ta đã đoạn, đây là khổ diệt ta đã chứng, đây là khổ đạo ta đã tu. Phật nói về Tứ đế ba lần là thị chuyển, khuyến chuyển, chứng chuyển mỗi lần đều lặp lại bốn đế, ba lần lặp lại thành mười hai nên nói Thập nhị hành. Lần thứ nhất chưa hiểu nói cho hiểu, lần thứ hai hiểu rồi phải tu, lần thứ ba tu rồi để chứng.

Đức Phật thuyết pháp rất cụ thể, mỗi khi ngài nói điều gì thì điều đó ngài đã biết rõ, đã thực hành và được lợi ích, khuyên người nên làm để được lợi ích như ngài, nên lời Phật dạy được coi là chân lý. Chúng ta ngày nay nói pháp, chỉ lý thuyết suông, thiếu cụ thể, có khi lại mâu thuẫn nữa. Vì vậy tốn công rất nhiều mà kết quả rất ít. Điều mình dạy người mà chính bản thân mình chưa thực hành được thì làm sao có đủ kinh nghiệm, đủ lòng tin, để hướng dẫn người

Trên đây là Phật chuyển pháp luân, chúng ta chớ lầm lối chuyển luân xa của ngoại đạo là dẫn điện chạy từ rún qua xương cùng, rồi theo xương sống chạy lên đầu xuống rún trở lại, dẫn điện chạy vòng vòng trong người gọi là chuyển luân xa. Hiện tại có nhiều người mang hình thức tu sĩ Phật giáo đầu tròn áo vuông vẫn tin và tu theo, thật là một việc đáng tiếc! Danh từ Phật giáo bị ngoại đạo lợi dụng, thế mà người tu Phật không biết lại thực hành theo!

Kế đến là Phật nói pháp mười hai nhân duyên là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập… cho tới sanh duyên lão tử, ưu bi khổ não, đó là chiều lưu chuyển. Còn chiều hoàn diệt là vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt… cho tới sanh diệt thì lão tử diệt, ưu bị khổ não không còn. Căn cứ vào mười hai pháp nhân duyên thì đầu mối của luân hồi sanh tử là vô minh. Từ vô minh dẫn tới hành rồi thúc đẩy thức đi thọ sanh, khi có bào thai thì có danh sắc, có danh sắc thì có lục nhập… Cứ như vậy tạo nghiệp rồi trở lại sanh, liên miên không cùng tận. Muốn dứt vòng luân hồi đó là phải diệt vô minh, làm cho trí tuệ bừng sáng thì hết tạo nghiệp tức là hành diệt, nếu hết tạo nghiệp thì thức không còn đi thọ sanh, nên thức diệt… Nhưng mà vô minh gốc, thuộc về quá khứ không thể diệt, phải đoạn vô minh hiện tại là ái, thủ, hữu, nếu ái, thủ, hữu dứt thì vô minh gốc cũng không còn. Vậy làm thế nào phá vô minh?

Mọi người ai cũng thấy thân này là thật, thấy vọng tưởng là thật, thấy cảnh vật là thật. Dùng trí Bát-nhã quán chiếu thấy thân này do duyên hợp tạm có, vọng tưởng cũng là tướng duyên hợp chợt hiện chợt mất, cảnh vật cũng là tướng duyên hợp không thật. Khi thấy thân này không thật, vọng tưởng không thật, cảnh vật không thật thì ái, thủ, hữu theo đó mà dứt. Như vậy vô minh diệt thì hành diệt ngay trong đời này. Đó là dùng trí tuệ phá dẹp vô minh để thoát khỏi luân hồi sanh tử. Nhưng từ đâu mà thắp sáng trí tuệ? Kinh A-hàm Phật có dạy chư Tỳ-kheo: Các ông hãy tự thắp đuốc lên mà đi, thắp đuốc lên với chánh pháp. Chánh pháp Phật dạy được kết tập lại thành tam tạng giáo điển, chúng ta học hiểu và thực hành theo lời Phật dạy bằng cách giữ giới luật, tu thiền quán, để trí tuệ bừng sáng, không còn thấy biết mê mờ, không tạo nghiệp dẫn đi trong luân hồi sanh tử, đó là tự thắp đuốc lên với chánh pháp để phá vô minh. Đạo Phật chủ trương phát huy trí tuệ để dẹp vô minh, vì vậy trong tất cả thời khóa tụng niệm ở trong chùa đều có tụng Bát-nhã Tâm Kinh. Bát-nhã Tâm Kinh là kinh dạy cho chúng ta dùng trí thấy đúng như thật về thân, về tâm, về pháp. Bất cứ pháp tu nào cũng phải có trí tuệ để phá vô minh mới dứt luân hồi sanh tử. Trước tự mình tu, sau là giáo hóa cho người tu, hết vô minh thoát ly sanh tử luân hồi. Đó là mồi đuốc chánh pháp, hay nói theo tinh thần Thiền tông là truyền đăng tục diệm,

Sau đây Phật lại dạy: Do không thọ tất cả pháp mà ở các lậu tâm được giải thoát, đều được thiền định sâu mầu ba món minh, sáu món thông, đủ tám giải thoát. Không thọ tất cả các pháp là sao? Kinh Phạm Động trong Trường A-hàm có ghi lại giai đoạn Phật đi du hóa gặp hai người Phạm chí, thầy thì dùng đủ cách để chê Phật, trò cũng dùng đủ cách để khen Phật. Khi về tỉnh xá Phật dạy các Tỳ-kheo: Nếu gặp người hủy báng Phật, Pháp, Tăng, các ngươi chớ sanh oán giận, hoặc có ác ý với người ta, vì như vậy sẽ bị hãm nịch. Và khi gặp người khen ngợi tán thán Phật, Pháp, Tăng, các ngươi lấy đó làm vui mừng kiêu hãnh cũng bị hãm nịch. Vì khi vui mừng kiêu hãnh hay oán giận có ác ý thì không thấy đúng lẽ thật, mờ tối không có trí tuệ nên bị ưu khổ não bủa vây.

Phật lại nói tiếp, người chỉ căn cứ vào hình thức giới tướng như: ăn một ngày một bữa, mặc chỉ ba y, đêm thức nhiều ngủ ít, hành hạnh khất thực… Phật nói người khen ngài như vậy là chưa hiểu ngài. Chỗ đáng khen của ngài chỉ có các bậc A-la-hán mới biết để khen là: Phật biết tất cả pháp mà không thọ. Thế nào là không thọ? Sáu căn mắt tai mũi lưỡi thân ý tiếp xúc với sáu trần sắc thanh hương vị xúc pháp không thọ nhận. Mắt thấy cảnh thấy người biết là cảnh là người, chứ không thấy cảnh đẹp người đẹp thì ưa thích, thấy cảnh xấu người xấu thì ghét bỏ, đó là không thọ. Hoặc tai nghe tiếng khen biết là khen, nghe tiếng chê biết là chê, không nhận tiếng khen khởi tâm vui mừng, không nhận tiếng chê sanh tâm buồn giận, đó là không thọ. Nếu thấy cảnh đẹp người đẹp hay nghe tiếng khen mà sanh lòng ưa thích đó là thọ lạc. Hoặc thấy cảnh xấu người xấu hay tiếng chê mà sanh buồn giận đó là thọ khổ. Tắng ái sở dĩ có là do thọ khổ thọ lạc mà ra. Nếu không có tắng ái, làm gì có thủ và hữu đời sau? Nên nói không thọ tất cả là nhân giải thoát.

Nhưng làm sao không thọ? Mắt thấy vật thấy người, biết đẹp biết xấu, tai nghe tiếng khen tiếng chê, biết là khen là chê. Nhưng đẹp xấu khen chê, dùng trí tuệ biết rõ nó là tướng duyên hợp không thật. Đẹp trên tướng giả, xấu trên tướng giả, khen trên tướng giả, chê trên tướng giả. Thấy đúng lẽ thật của các pháp không lầm, không lầm thì không thọ, không thọ thì không nhiễm trước do đó mà được vô lậu giải thoát. Chúng ta vì si mê nên lầm chấp các pháp, chấp các pháp là thọ nên tự trói buộc, sanh vô số phiền não khổ đau, đi mãi trong luân hồi sanh tử.

Chánh văn: 

12) Bấy giờ, mười sáu vị vương tử đều là đồng tử mà xuất gia làm Sa-di, các căn thông lanh, trí tuệ sáng láng, đã từng cúng dường trăm nghìn muôn ức các đức Phật, tịnh tu hạnh thanh tịnh, cầu đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đều bạch cùng Phật rằng: “Thưa Thế Tôn! Các vị Đại đức Thanh văn vô lượng nghìn muôn ức đây đã thành tựu xong, đức Thế Tôn cũng nên vì chúng con nói pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, chúng con nghe xong đều đồng tu học. Thế Tôn! Chúng con có chí mong được tri kiến của Như Lai, chỗ nghĩ tưởng trong thâm tâm, đức Phật tự chứng biết cho.” 

Lúc đó, tám muôn ức người trong chúng của Chuyển luân thánh vương dắt đến thấy mười sáu vị vương tử xuất gia, cũng tự cầu xuất gia, vua liền thuận cho. 

Bấy giờ, đức Phật nhận lời thỉnh của Sa-di, qua hai muôn kiếp sau mới ở trong hàng bốn chúng nói kinh Đại thừa tên là: “Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm”. Đức Phật nói Kinh đó xong, mười sáu vị Sa-di vì đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đều đồng thọ trì đọc tụng thông thuộc. Lúc nói Kinh đó, mười sáu vị Sa-di Bồ-tát thảy đều tin thọ, trong chúng Thanh văn cũng có người tin hiểu. Ngoài ra nghìn muôn ức loại chúng sanh đều sanh lòng nghi lầm. Phật nói Kinh đó suốt tám nghìn kiếp chưa từng thôi bỏ. Phật nói Kinh đó xong liền vào tịnh thất trụ trong thiền định tám muôn bốn nghìn kiếp. 

Giảng:

Mười sáu vị vương tử xuất gia làm Sa-di, các căn trí lanh sáng, thiết tha cầu Phật Đại Thông Trí Thắng nói pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác để các ngài được nghe và được tu chứng thành Phật. Đức Phật Đại Thông Trí Thắng thể theo lời yêu cầu của mười sáu vị Sa-di, ngài nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nói xong liền trụ trong thiền định suốt tám mươi bốn ngàn kiếp.

Chánh văn: 

13) Bấy giờ, mười sáu vị Bồ-tát Sa-di biết Phật nhập thất trụ trong thiền định vắng bặt, mỗi vị đều lên pháp tòa cũng trong tám muôn bốn nghìn kiếp, vì bốn bộ chúng rộng nói phân biệt kinh Diệu Pháp Liên Hoa. 

Mỗi vị đều độ sáu trăm muôn ức na-do-tha hằng hà sa chúng sanh, chỉ dạy cho được lợi mừng, khiến phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. 

Giảng: 

Sau khi biết Phật Đại Thông Trí Thắng trụ trong thiền định, mười sáu vị Bồ-tát Sa-di đều lên pháp tòa vì tứ chúng mà nói kinh Pháp Hoa, mỗi vị đều độ vô số chúng sanh phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Các vị Sa-di chỉ là Bồ-tát thôi, chưa chứng quả Phật mà vẫn ra nói pháp cho tứ chúng nghe. Vì các vị Bồ-tát Sa-di đã tin thọ lời Phật dạy rồi, nên có quyền ra hành Bồ-tát đạo độ chúng sanh cho công hạnh tự giác giác tha được viên mãn để thành Phật. Chúng ta thấy rõ tinh thần của đạo Phật, ngoài công việc tự giác ở chính mình, còn phải làm lợi ích cho chúng sanh, chứ không phải đợi tu thành Phật rồi mới ra giáo hóa. Như chúng ta đã thấy Phật Thích-ca thường nhắc lại ở kinh Bản Sanh, trải qua nhiều đời nhiều kiếp ngài hành Bồ-tát đạo, kiếp sau cùng mới thành Phật dưới cội bồ-đề. Nên nói tự giác giác tha viên mãn thì thành Phật.

Chánh văn: 

14) Đức Đại Thông Trí Thắng Phật qua tám muôn bốn nghìn kiếp sau, từ tam-muội dậy, qua đến pháp tòa mà ngồi an lành, khắp bảo trong hàng đại chúng: 

Mười sáu vị Bồ-tát Sa-di này rất là ít có, các căn thông lẹ, trí tuệ sáng láng, đã từng cúng dường vô lượng nghìn muôn ức số đức Phật, ở chỗ các đức Phật thường tu hạnh thanh tịnh, thọ trì trí của Phật để chỉ dạy chúng sanh làm cho vào trong đó. Các ông phải luôn luôn gần gũi mà cúng dường các vị ấy. 

Vì sao? Nếu hàng Thanh văn, Duyên giác cùng các Bồ-tát có thể tin Kinh pháp của mười sáu vị Bồ-tát Sa-di đó nói mà thọ trì không mất, thời người đó sẽ được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác trí tuệ của Như Lai. 

Giảng:

Pháp mà mười sáu vị Sa-di Bồ-tát nói là kinh Pháp Hoa, tức là tri kiến Phật. Các ngài đã tin nhận được tri kiến Phật rồi thọ trì tu hành, sau này chắc chắn sẽ thành Phật không nghi. Đó là trách nhiệm giáo hóa của đức Phật Đại Thông Trí Thắng đã xong.

Chánh văn: 

15) Phật bảo các Tỳ-kheo: 

Mười sáu vị Bồ-tát đó thường ưa nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa này. Sáu trăm muôn ức na-do-tha hằng hà sa chúng sanh của mỗi vị Bồ-tát hóa độ đó đời đời sanh ra đều cùng Bồ-tát ở chung, theo nghe pháp với Bồ-tát thảy đều tin hiểu. Nhờ nhân duyên đó mà được gặp bốn muôn ức các đức Phật Thế Tôn đến nay vẫn chẳng ngớt. 

Các Tỳ-kheo! Ta nói với các ông, mười sáu vị Sa-di đệ tử của đức Phật kia nay đều chứng được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, hiện đang nói pháp trong cõi nước ở mười phương, có vô lượng trăm nghìn muôn ức Bồ-tát Thanh văn để làm quyến thuộc. 

Hai vị Sa-di làm Phật ở phương đông: vị thứ nhất tên là A-súc ở nước Hoan Hỷ, vị thứ hai tên là Tu-di Đảnh. Hai vị làm Phật ở phương đông nam: vị thứ nhất tên là Sư Tử Âm, vị thứ hai tên là Sư Tử Tướng. Hai vị làm Phật ở phương nam: vị thứ nhất tên là Hư Không Trụ, vị thứ hai tên là Thường Diệt. Hai vị làm Phật ở phương tây nam: vị thứ nhất tên là Đế Tướng, vị thứ hai tên là Phạm Tướng. Hai vị làm Phật ở phương tây: vị thứ nhất tên là A-di-đà, vị thứ hai tên là Độ Nhất Thiết Thế Gian Khổ Não. Hai vị làm Phật ở phương tây bắc: vị thứ nhất tên là Đa-ma-la-bạt Chiên-đàn Hương Thần Thông, vị thứ hai tên là Tu-di Tướng. Hai vị làm Phật ở phương bắc: vị thứ nhất tên là Vân Tự Tại, vị thứ hai tên là Vân Tự Tại Vương. Một vị làm Phật ở phương đông bắc hiệu Hoại Nhất Thiết Thế Gian Bố Úy. Vị thứ mười sáu, chính ta là Thích-ca-mâu-ni Phật ở cõi nước Ta-bà thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. 

Các Tỳ-kheo! Lúc chúng ta làm Sa-di mỗi người giáo hóa vô lượng trăm nghìn muôn hằng hà sa chúng sanh vì đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác theo ta nghe pháp. Những chúng sanh đó đến nay có người trụ bậc Thanh văn, ta thường giáo hóa pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Những bọn người này đáng dùng pháp đó mà lần vào Phật đạo. 

Vì sao? Vì trí tuệ của Như Lai khó tin khó hiểu, vô lượng hằng hà sa chúng sanh được hóa độ trong thuở đó chính là bọn ông, các Tỳ-kheo, và sau khi ta diệt độ các đệ tử Thanh văn trong đời vị lai. Sau khi ta diệt độ, lại có đệ tử không nghe Kinh này, không biết không hay hạnh của Bồ-tát, tự ở nơi công đức của mình được tưởng cho là diệt độ sẽ nhập Niết-bàn. 

Ta ở nơi nước khác làm Phật lại có tên khác. Người đó dầu sanh lòng tưởng là diệt độ nhập Niết-bàn, nhưng ở nơi cõi kia cầu trí tuệ Phật được nghe Kinh này, chỉ do Phật thừa mà được diệt độ lại không có thừa nào khác, trừ các đức Như Lai phương tiện nói pháp. 

Các Tỳ-kheo! Nếu đức Như Lai tự biết giờ Niết-bàn sắp đến, chúng lại thanh tịnh lòng tin hiểu bền chắc, rõ thấu pháp không, sâu vào thiền định, bèn nhóm các Bồ-tát và chúng Thanh văn mà vì nói Kinh này. Trong đời không có hai thừa mà được diệt độ, chỉ có một Phật thừa được diệt độ thôi. 

Các Tỳ-kheo nên rõ! Đức Như Lai phương tiện sâu vào tánh chúng sanh, biết chí nó ưa pháp nhỏ, rất ham năm món dục, vì hạng người này mà nói Niết-bàn, người đó nếu nghe thời liền tin nhận. 

Giảng: 

Những vị Sa-di Bồ-tát do nghe kinh Pháp Hoa và nói kinh Pháp Hoa để giáo hóa chúng sanh, sau này ra đời đều gặp chư vị Bồ-tát và chư Phật, tiếp tục tu hành tiến mãi trên đường tu cho đến khi thành Phật. Và sau khi thành Phật thì cứ hai vị giáo hóa một phương, như phương đông có Phật A-súc, Phật Tu-di Đảnh, phương đông nam có Phật Sư Tử Âm, Sư Tử Tướng… cho tới mười phương, phương nào cũng có các Phật do đức Đại Thông Trí Thắng giáo hóa thành Phật. Và chính đức Thích-ca-mâu-ni cũng do đức Đại Thông Trí Thắng là cha nói kinh Pháp Hoa giáo hóa mà được thành Phật. Như vậy là thế nào? Kinh Kim Cang có đoạn nói: Kinh này là mẹ của chư Phật ba đời. Kinh điển từ miệng Phật nói ra, tại sao lại nói Kinh là mẹ của Phật? Kinh này là chỉ cho Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật. Chư Phật nếu được thành Phật là phải đầy đủ trí tuệ, nếu không có trí tuệ thì không thể thành Phật, mà Phật là giác và giác là trí tuệ; nên nói Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật là mẹ của chư Phật. Cũng vậy, ở đây thay vì nói Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật là mẹ của chư Phật thì dùng hình ảnh đức Phật Đại Thông Trí Thắng nói kinh Pháp Hoa, con của ngài nhân nghe kinh Pháp Hoa mà tu hành thành Phật ở khắp mười phương. Như vậy, chư Phật ở mười phương được thành Phật là do đức Đại Thông Trí Thắng là cha nói kinh Pháp Hoa, các ngài nghe tu hành mà được thành Phật, Đức Đại Thông Trí Thắng là chỉ cho pháp thân, nếu muốn sống được với pháp thân thì không gì hơn là từ tri kiến Phật mà vào, vì tri kiến Phật là dụng của pháp thân.

Thí dụ một ngọn đèn đốt ở giữa nhà, nhà có sáu cửa mở rộng, người ở ngoài nhà do thấy ánh sáng từ sáu cửa mà biết có đèn trong nhà, và phải do cửa mà vào nhà mới thấy được ngọn đèn. Ngọn đèn dụ cho pháp thân Phật, ánh sáng tỏa ra sáu cửa dụ cho tri kiến Phật. Tri kiến Phật từ pháp thân tỏa ra gọi là dụng của pháp thân, muốn sống được với pháp thân thì phải từ tri kiến Phật mà vào, chứ không có con đường nào khác. Vì vậy nên đây mới nói đức Đại Thông Trí Thắng giảng kinh Pháp Hoa cho các Sa-di Bồ-tát tu và được thành Phật. Tóm lại, mười phương chư Phật đều từ cửa tri kiến Phật mà ngộ nhập được pháp thân Phật, chứ không có cửa nào đường nào khác. Vì vậy nên các ngài tu trong vô lượng kiếp khi thành Phật rồi mỗi vị phân ra ở mỗi phương, để nói lên ý nghĩa pháp thân không bị giới hạn bởi không gian và thời gian.

Tới đây, Phật nói trí tuệ Phật khó tin khó hiểu. Song, có vô số chúng sanh đã được Phật giáo hóa, tu theo Phật chứng quả Thanh văn rồi đến Bồ-tát, Lại cũng có người sau này nghe pháp Phật có lòng tin tưởng Phật nhập Niết-bàn là hết không trở lại, không ngờ Phật thị hiện Niết-bàn ở đây rồi giáng sanh ở kia để giáo hóa chúng sanh, chứ không phải ngang đó mà hết

Diệt độ tức là Niết-bàn. Đạo Phật chỉ có một Niết-bàn duy nhất là Niết-bàn Phật. Sở dĩ Phật nói Niết-bàn Thanh văn, Duyên giác chẳng qua là phương tiện dẫn dụ, vì ngài biết tâm chúng sanh thích ngũ dục ưa pháp nhỏ, để cho thấy dễ họ ham mà hướng dẫn họ tu lần lần. Nếu nói tu lâu và phải chứng được Phật quả thì họ ngán, sanh lười mỏi không chịu tu.

Chánh văn: 

16) Thí như đường hiểm nhiều nạn dữ, dài năm trăm do-tuần, chốn ghê sợ hoang vắng không người. Nếu chúng đông muốn đi qua con đường này đến chỗ trân bảo, có một vị Đạo sư thông minh sáng suốt, khéo biết rõ tướng thông bít của con đường hiểm, dắt chúng nhân muốn vượt qua nạn đó. Chúng nhân được dắt đi giữa đường lười mỏi, bạch Đạo sư rằng: “Chúng con mệt nhọc lại thêm sợ sệt chẳng có thể đi nữa, đường trước còn xa nay muốn lui về.” 

Vị Đạo sư nhiều sức phương tiện mà tự nghĩ rằng: “Bọn này đáng thương, làm sao cam bỏ trân bảo lớn mà muốn lui về.” Nghĩ thế rồi, dùng sức phương tiện ở giữa đường hiểm quá ba trăm do-tuần, hóa làm một cái thành mà bảo chúng nhân rằng: “Các ngươi chớ sợ, đừng lui về, nay thành lớn này có thể dừng ở trong đó tùy ý muốn làm gì thì làm, nếu vào thành này sẽ rất được an ổn, nếu có thể lại thẳng đến chỗ châu báu đi cũng được.” 

Bấy giờ, chúng mỏi mệt rất vui mừng khen việc chưa từng có, chúng ta hôm nay khỏi được đường dữ rất được an ổn. Đó rồi chúng nhân thẳng vào hóa thành sanh lòng tưởng cho rằng đã được độ rất an ổn. 

Lúc ấy Đạo sư biết chúng nhân đó đã được nghỉ ngơi không còn mỏi mệt, liền diệt hóa thành bảo chúng nhân rằng: “Các ngươi nên đi tới, chỗ châu báu ở gần đây, thành lớn trước đó là của ta biến hóa ra để nghỉ ngơi thôi.” 

Các Tỳ-kheo! Đức Như Lai cũng lại như thế, nay vì các ông mà làm vị đại Đạo sư, biết các đường dữ sanh tử phiền não hiểm nạn dài xa nên bỏ nên vượt qua. Nếu như chúng sanh chỉ nghe một Phật thừa thời chẳng muốn thấy Phật, chẳng muốn gần gũi, mà nghĩ thế này: “Đạo Phật dài xa lâu ngày chịu cần khổ mới có thể được thành.” Phật biết tâm chúng đó khiếp nhược hạ liệt, dùng sức phương tiện mà ở giữa đường vì để ngơi nghỉ nên nói hai món Niết-bàn. 

Nếu chúng sanh trụ nơi hai bậc, đức Như Lai bấy giờ liền bèn vì nói: “Chỗ tu của các ông chưa xong, bậc của các ông ở gần với tuệ của Phật. Phải quan sát suy lường Niết-bàn đã được đó chẳng phải chân thật vậy. Chỉ là sức phương tiện của Như Lai, ở nơi một Phật thừa phân biệt nói thành ba. Như vị Đạo sư kia vì cho mọi người ngơi nghỉ mà hóa làm thành lớn, đã biết nghỉ xong mà bảo đó rằng: Chỗ châu báu ở gần, thành này không phải thật, của ta biến hóa làm ra đó thôi.” 

Lúc đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: 

17) Đại Thông Trí Thắng Phật 

Mười kiếp ngồi đạo tràng

Phật pháp chẳng hiện tiền

Chẳng được thành Phật đạo

Các trời, thần, long vương,

Chúng a-tu-la thảy 

Thường rưới các hoa trời

Để cúng dường Phật đó,

Chư thiên đánh trống trời

Và trỗi các kỹ nhạc 

Gió thơm thổi hoa héo 

Lại mưa bông tốt mới.

Quá mười tiểu kiếp rồi

Mới được thành Phật đạo, 

Các trời cùng người đời

Lòng đều sanh hớn hở.

Mười sáu người con Phật

Đều cùng quyến thuộc mình 

Nghìn muôn ức vây quanh

Chung đi đến chỗ Phật 

Đầu mặt lạy chân Phật 

Thỉnh Phật chuyển pháp luận:

Đấng Thánh sư mưa pháp

Lợi con và tất cả 

Thế Tôn rất khó gặp

Lâu xa một lần hiện

Vì giác ngộ quần sanh

Mà chấn động tất cả.

Các thế giới phương đông 

Năm trăm muôn ức cõi 

Phạm cung điện sáng chói,

Từ xưa chưa từng có 

Phạm vương thấy tướng này 

Liền đến chỗ Phật ở 

Rải hoa để cúng dường 

Và dâng cung điện lên

Thỉnh Phật chuyển pháp luân

Nói kệ ngợi khen Phật.

Phật biết chưa đến giờ

Nhận thỉnh yên lặng ngồi

Ba phương cùng bốn phía

Trên, dưới cũng như thế

Rưới hoa, dâng cung điện 

Thỉnh Phật chuyển pháp luân:

Thế Tôn rất khó gặp 

Nguyện vì bổn từ bị 

Rộng mở cửa cam lồ 

Chuyển pháp luân Vô thượng” 

18) Thế Tôn tuệ vô thượng 

Nhân chúng nhân kia thỉnh

Vì nói các món pháp 

Bốn đế, mười hai duyên

Vô minh đến lão tử 

Đều từ sanh duyên hữu

Những quả hoạn như thế

Các ông phải nên biết.

Tuyên nói pháp đó rồi

Sáu trăm muôn ức cai

Được hết các ngằn khổ

Đều thành A-la-hán. 

Thời nói pháp thứ hai

Nghìn muôn hằng sa chúng

Ở các pháp chẳng thọ

Cũng được A-la-hán.

Từ sau đây được đạo

Số đông đến vô lượng

Muôn ức kiếp tính kể

Không thể được ngằn mé.

19) Bấy giờ, mười sáu vị 

Xuất gia làm Sa-di 

Đều đồng thỉnh Phật kia

Diễn nói pháp Đại thừa:

Chúng con cùng quyến thuộc

Đều sẽ thành Phật đạo

Nguyện được như Thế Tôn

Tuệ nhãn sạch thứ nhất.

Phật biết lòng đồng tử 

Chỗ làm của đời trước 

Dùng vô lượng nhân duyên

Cùng các món thí dụ 

Nói sáu ba-la-mật 

Và các việc thần thông,

Phân biệt pháp chân thật

Đạo của Bồ-tát làm 

Nói kinh Pháp Hoa này

Kệ nhiều như hằng sa.

Phật kia nói Kinh rồi 

Vào tịnh thất nhập định

Tám muôn bốn nghìn kiếp 

Một lòng ngồi một chỗ.

Các vị Sa-di đó 

Biết Phật chưa xuất thiền 

Vì vô lượng chúng nói 

Tuệ Vô thượng của Phật 

Mỗi vị ngồi pháp tòa 

Nói kinh Đại thừa này 

Sau khi Phật yên lặng

Tuyên bày giúp giáo hóa.

Mỗi vị Sa-di thảy 

Số chúng sanh mình độ 

Có sáu trăm muôn ức 

Hằng hà sa các chúng.

Sau khi Phật diệt độ 

Các người nghe pháp đó

Ở các nơi cõi Phật 

Thường cùng thầy sanh chung.

Mười sáu Sa-di đó 

Đầy đủ tu Phật đạo 

Nay hiện mười phương 

Đều được thành Chánh giác.

Người nghe pháp thuở đó

Đều ở chỗ các Phật 

Có người trụ Thanh văn

Lần dạy cho Phật đạo.

Ta ở số mười sáu 

Từng vì các ngươi nói 

Cho nên dùng phương tiện 

Dẫn ngươi đến tuệ Phật.

Do bổn nhân duyên đó 

Nay nói kinh Pháp Hoa 

Khiến ngươi vào Phật đạo 

Dè dặt chớ kinh sợ.

20) Thí như đường hiểm dữ 

Xa vắng nhiều thú độc 

Và lại không có nước

Chốn mọi người ghê sợ

Vô số nghìn muôn chúng

Muốn qua đường hiểm này

Đường đó rất xa vời 

Trải năm trăm do-tuần.

Bấy giờ, một Đạo sư 

Nhớ dai có trí tuệ

Sáng suốt lòng quyết định

Đường hiểm cứu các nạn

Mọi người đều mệt mỏi

Mà bạch Đạo sư rằng:

“Chúng con nay mỏi mệt

Nơi đây muốn trở về.” 

Đạo sư nghĩ thế này 

Bọn này rất đáng thương 

Làm sao muốn lui về 

Cam mất trân bảo lớn! 

Liền lại nghĩ phương tiện

Nên bày sức thần thông 

Hóa làm thành quách lớn 

Các nhà cửa trang nghiêm

Bốn bề có vườn rừng 

Sông ngòi và ao tắm 

Cửa lớn lầu gác cao

Trai, gái đều đông vầy, 

Hóa ra thành đó rồi 

An ủi chúng: “Chớ sợ! 

Các ngươi vào thành này

Đều được vừa chỗ muốn.”

Mọi người đã vào thành

Lòng đều rất vui mừng

Đều sanh tưởng an ổn 

Tự nói đã được độ.

Đạo sư biết nghỉ xong

Nhóm chúng mà bảo rằng:

“Các ngươi nên đi nữa 

Đây là hóa thành thôi 

Thấy các ngươi mỏi mệt 

Giữa đường muốn lui về 

Nên dùng sức phương tiện

Huyễn hóa làm thành này

Ngươi nay gắng tinh tấn 

Nên đồng đến chỗ báu.” 

21) Ta cũng lại như vậy 

Đạo sư của tất cả 

Thấy những người cầu đạo

Giữa đường mà lười bỏ

Không thể vượt đường dữ

Sanh tử đầy phiền não.

Nên dùng sức phương tiện

Vì nghỉ, nói Niết-bàn.

Rằng các ngươi khổ diệt

Chỗ làm đều đã xong

Đã biết đến Niết-bàn 

Đều chứng A-la-hán 

Giờ mới nhóm đại chúng 

Vì nói pháp chân thật 

Sức phương tiện các Phật 

Phân biệt nói ba thừa 

Chỉ có một Phật thừa 

Vì nghỉ, nên nói hai 

Vì các ngươi nói thật 

Các ngươi chưa phải diệt,

Vì Nhất thiết trí Phật

Nên phát tinh tấn mạnh 

Ngươi chứng Nhất thiết trí 

Mười lực các Phật pháp 

Đủ ba hai tướng tốt 

Mới là chân thật diệt,

Các Phật là Đạo sư

Vì nghỉ, nói Niết-bàn 

Đã biết ngơi nghỉ rồi 

Dẫn vào nơi tuệ Phật.

Giảng:

Để cho rõ nghĩa hơn, Phật nói thí dụ: Có một đoàn người đi lấy trân bảo phải đi qua con đường rất dài, hoang vắng không người, nhiều tai nạn nguy hiểm. Đoàn người này đi qua được một đoạn đường dài khá mệt nhọc mà chưa tới chỗ trân bảo, nên sanh tâm chán nản muốn thối lui. Khi đó vị hướng đạo là người thông minh tài trí rõ biết đường đi, không muốn cho đoàn người mất lợi ích bèn dụ dẫn đoàn người rằng, ở phía trước có một cái thành rất an ổn, hãy ráng đi chút nữa rồi sẽ vào thành nghỉ ngơi cho khỏe. Nghe vị hướng đạo nói, mọi người rất vui mừng, nỗ lực tiếp tục đi đến thành, vào trong ấy được mọi nhu cầu tiện nghi rất an ổn, nên muốn nghỉ luôn ở đó. Vị hướng đạo thông minh tài trí biết đoàn người nghỉ đã hết mệt, bèn nói với họ rằng thành này do ta hóa ra để cho các người nghỉ, chứ không phải là chỗ chứa trân bảo. Hãy ra khỏi thành này và đi thêm một đoạn đường nữa sẽ đến chỗ chúng ta muốn đến. Đoàn người hết mệt nhọc nên tiếp tục đi đến đích.

Đây là tâm bệnh chung của tu sĩ chúng ta, khi mới xuất gia tuổi còn trẻ phấn chấn tu hành, nhưng khi tu được năm, mười năm, chưa chứng đạo quả bèn sanh tâm lười mỏi muốn thối lui, vì thấy quả Phật khó thành. Trên đường tu hay gặp những chướng nạn ma vương như tài, sắc, danh, lợi cám dỗ. Người tu không khéo tỉnh giác thì mắc bẫy, sa hầm sụp hố. Nên tuổi trẻ đi tu thì nhiều nhưng giữ được phạm hạnh thanh tịnh cho tới tuổi già thì rất ít. Số còn lại, người thì tay bồng tay dắt, kẻ thì lạc ngõ tẽ này, kẻ thì lạc lối quanh nọ… Rốt cuộc rồi tu chẳng tới đâu. Nên người hướng dẫn biết tâm bệnh đó phải khuyến khích, chẳng hạn như tôi nói tu một giờ là tiến một giờ, tu một ngày là tiến một ngày, tu một tháng là tiến một tháng. Vọng tưởng khởi, biết, không theo là giác, vọng tưởng khởi một trăm lần, giác một trăm lần là tiến rồi. Tôi lấy cái nhỏ để khuyến khích họ, chứ bảo tọa thiền nhập định năm, bảy ngày thì họ không thực hiện nổi; phải tùy theo trình độ mà hướng dẫn, điều phục họ tiến cho xuôi đường thẳng lối, làm thầy khó là khó ở chỗ đó.

Đây là phần hợp pháp thí dụ: Vị Đạo sư dẫn đường là dụ cho đức Phật, Đoàn người đi tìm trân bảo dụ cho các bậc Thanh văn, Duyên giác đang tu theo sự hướng dẫn của Phật. Hóa thành là Niết-bàn Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát. Và chỗ chứa trân bảo tức quả Phật. Phật biết hàng Tỳ-kheo tu theo hạnh Thanh văn với tâm nguyện nhỏ hẹp, nên trước ngài nói tu đoạn sạch phiền não liền chứng Niết-bàn tịch diệt. Niết-bàn đó chỉ là phương tiện, là Niết-bàn tạm thôi, vì chỉ làm lợi ích cho mình, thiếu phần công đức lợi tha cho người nên chưa được viên mãn. Vì vậy muốn được Niết-bàn cứu cánh chân thật, ngoài phần tự tu cho mình giác ngộ thành Phật, còn phải giáo hóa cho người cũng được giác ngộ thành Phật như mình, tới đó mới là viên mãn. Như vậy quý vị mới thấy tinh thần Tiểu thừa và Đại thừa dị biệt ở chỗ nào. Thật ra tu mà giữ phạm hạnh, hết phiền não tâm thanh tịnh, sánh với chúng ta thì quá quý! Tuy nhiên được phần mình rồi, nhìn lại người còn đang mờ tối quờ quạng khổ đau, mà làm ngơ không hóa độ thì lòng từ chưa khai mở. Nên ở trước, Phật mới ví Niết-bàn Thanh văn giá đáng chừng một bữa ăn là vậy.

Phật dùng thí dụ này cho hàng Thanh văn thấy rõ thêm các ngài đã có chủng tử tri kiến Phật và Niết-bàn các ngài được chỉ là tạm, chưa phải cứu cánh, không nên an trú trong đó. Phải khởi tâm đại bi, ra giáo hóa chúng sanh cho công hạnh tự giác giác tha viên mãn thành Phật. Vì thương chúng sanh, vì thương đệ tử đi chưa tới chỗ cứu cánh viên mãn, nên Phật dùng mọi phương tiện để giáo hóa, thúc đẩy đi cho tới chỗ rốt ráo như ngài, ngài mới toại nguyện. Nên khi Phật nói kinh Pháp Hoa rồi ngài nhập Niết-bàn rất là hợp lý, vì đã có người tin nhận chỗ ngài muốn chỉ. Vì vậy, Phật Niết-bàn rồi mà Phật pháp vẫn còn tồn tại ở thế gian không mất. Đây tôi nhắc lại một lần nữa, bản hoài của đức Phật là muốn cho mọi người đều được giác ngộ thành Phật, chứ không bằng lòng cho bất cứ một ai dừng ở bất cứ chặng đường nào. Nếu chúng ta hài lòng ở chặng đường nào đều bị Phật quở.

Phẩm này có thể phân làm bốn đoạn:

1) Trí tuệ Phật không bị hạn cuộc ở thời gian, vì định lực Phật rất thâm sâu nên có thể nhớ vô số kiếp về quá khứ, thấy biết một cách tường tận không sai lầm. Và vì trí tuệ Phật là thể sáng suốt thanh tịnh, vượt ngoài ý niệm về ngày tháng năm theo thông lệ của thế gian.

2) Trí tuệ Phật không bị giới hạn bởi không gian, vì Phật đã trải qua vô lượng kiếp tu tập trí tuệ, nên trí tuệ Phật viên mãn không giới hạn. Và trí tuệ Phật là thể sáng suốt không hình tướng trùm khắp, nên không giới hạn bởi không gian.

3) Mười sáu vị vương tử từ đức Phật Đại Thông Trí Thắng mà được thành Phật, rồi chia ra mà giáo hóa ở tám phương. Điều này cho chúng ta thấy sức hiểu biết của Phật không thể nghĩ bàn, không riêng ở cõi Ta-bà mới có Phật như từ lâu chúng ta nghĩ tưởng, mà ở những thế giới khác cũng có Phật giáo hóa. Trí tuệ Phật là thể sáng suốt viên mãn trùm khắp tất cả không đâu không có. Và không ai tu mà không từ trí tuệ Phật khởi tu để được thành Phật.

4) Dụ hóa thành cho thấy rằng trí tuệ Phật rộng lớn không ngằn mé. Công hạnh Phật không thể tính kể, với ý chí tầm thường của phàm phu không thể theo nổi, nên Phật tùy căn cơ chúng sanh phương tiện nói ngũ thừa Phật giáo hướng dẫn từ thấp lần lên cao, cuối cùng đưa chúng sanh đến mục đích cứu cánh mà Phật muốn chỉ là Phật thừa. Còn kết quả được ở ngũ thừa chỉ là quả an vui tạm bợ không nên an trụ nơi ấy.

Muốn đạt được quả Phật thì phải trải qua nhiều kiếp tu lâu dài cho công hạnh Bồ-tát đầy đủ, trí tuệ Phật viên mãn mới thành Phật.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.