THÁNH ĐĂNG LỤC GIẢNG GIẢI

Phần Giảng Giải



Thánh Đăng là đèn thánh, Lục là ghi chép, Thánh Đăng Lục là ghi lại những ngọn đèn thánh. Đọc qua Thánh Đăng Lục, chúng ta thấy nói về các vị vua, không nói đến các vị thánh tăng, thế sao gọi là Thánh Đăng Lục? Theo Phật giáo thì Thánh chỉ cho Phật, Tổ là những vị tu hành đắc đạo. Tuy nhiên, ngày xưa các vị vua chúa thuộc hàng minh quân được tôn xưng là Thánh, như Thánh chúa, Thánh vương v.vThánh Đăng là đèn từ Phật, Tổ trao lại cho người sau. Từ Phật tuần tự truyền cho hai mươi tám vị tổ ở Ấn Độ, sang Trung Hoa truyền tiếp cho sáu vị tổ Thiền tông và truyền mãi cho các vị tổ sư Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam về sau. Những vị tổ khi nhận được lý thiền ngộ đạo đều được gọi là truyền đăng. Truyền đăng là trao đèn. Đèn chư tổ trao nhau là đèn thánh. Đối với thiền tông bất cứ là tu sĩ xuất gia hay cư sĩ tại gia, ai nhận được lý thiền ngộ đạo đều được trao đèn thánh. Quý vị đừng nghĩ chỉ có những vị tu sĩ xuất gia đầu tròn áo vuông mới được trao đèn thánh, nghĩ như thế là lầm lẫn. Người nào ngộ được tâm tông nhận ra tánh Phật là được trao đèn thánh. Trao bằng phương tiện này hay phương tiện khác, không phân biệt tu sĩ hay cư sĩ. Giả sử ở đây một trăm người, bất luận tăng ni hay cư sĩ, người nào nhận ra tánh Phật là người đó được trao đèn thánh; dầu cho tôi không nói tới tên nhưng họ vẫn được trao. Song, trước khi tu họ đâu biết để nhận, phải nhờ thầy tổ chỉ bày mới biết mình có tánh Phật mà nhận ra. Như thế gọi là trao đèn thánh. Vậy các ông vua dù ở ngôi vị hoàng đế, nhưng tu ngộ đạo cũng được gọi là thánh đăng.

Ở thiền đường bên tăng tôi có để biển chữ Truyền Đăng Tục Diệm là trao đèn tiếp lửa. Tại sao tôi để như thế? Vì đạo Phật là đạo giác ngộ, mà giác ngộ thì trí tuệ sáng suốt. Đèn, lửa là vật biểu trưng cho trí tuệ sáng suốt, nên đèn lửa được cụ thể hóa bằng cách trao đèn tiếp lửa. Do đó người tu Phật không có lý do gì tu mà không tiến đến mục đích giác ngộ, nếu không toàn phần giác thì cũng phải từng phần giác. Người tu có giác ngộ mới là đệ tử Phật, vì học Phật là học giác ngộ. Ví dụ ở thế gian người đời đi học để biết chữ. Ông Xoài tuy có đi học nhưng học không giỏi, chỉ đọc được a b c… chứ chưa đọc được một bài văn. Những người khác học giỏi hơn, người thì đọc được một bài văn, người thì đọc và viết được một bài văn lưu loát… Song ông Xoài vẫn được coi như người biết chữ nhưng chỉ biết những chữ cái. Cũng vậy, tu theo Phật là phải giác ngộ; giác ít giác kha khá, giác nhiều, giác trọn vẹn là tùy theo công phu tu hành của mỗi người. Người tu không giác ngộ là chưa tu theo đạo Phật. Người giác nhiều và giác trọn vẹn mới được trao đèn thánh. Tại sao vậy? Vì giác ít chỉ sáng chút chút, chưa sáng bằng ánh sáng đom đóm thì đâu đủ sức trao đèn! Người được trao đèn là người ngay nơi tâm lúc nào cũng sáng nên nói là đèn. Do đó người tu Phật thường được gọi là kẻ cầm đuốc soi đường cho chúng sanh. Tại sao phải cầm đuốc soi đường? Vì chúng sanh đang chìm trong mê lầm u tối của vô minh. Muốn đưa chúng sanh ra khỏi cảnh vô minh u tối, thì phải thắp đèn hoặc thắp đuốc sáng lên, để họ thấy đường mà dẫn họ ra khỏi chỗ tối tăm. Trong cảnh tối, nếu người dẫn đường không có đèn hay đuốc sáng, làm sao soi cho họ thấy đường để dẫn đi? Ví dụ như giảng đường này ban đêm không có đèn, tối đen. Bấy giờ chúng ta chỉ mọi người đây là tượng tổ Ấn Độ, kia là tượng tổ Trung Hoa, đây là tượng tổ Việt Nam… Họ có thấy tượng tổ không? Chắc chắn là không thấy. Khi mở đèn sáng chỉ, họ mới thấy. Cũng vậy chúng sanh đang vô minh mê tối, muốn đưa họ ra khỏi mê tối khổ đau, chúng ta là người hướng dẫn tâm phải sáng, tức là phải được trao đèn. Được trao đèn mới xứng đáng là người dẫn đường. Đây là mục đích mà tất cả tăng ni phải nắm vững và hướng đến. Nhiều người tu nói việc này là Phật sự, việc kia là Phật sự, việc nọ là Phật sự… Việc nào cũng Phật sự hết, nhưng không hiểu đúng nghĩa Phật sự là việc gì. Đúng nghĩa Phật sự là cầm đuốc đưa người ra khỏi lối mê. Đó là Phật sự chủ yếu. Tất cả mọi việc làm của tăng ni đều gọi là Phật sự, nhưng không căn cứ trên nghĩa chủ yếu này. Những việc ấy là việc bên lề không phải là việc chủ yếu của đạo Phật. Đó là ý nghĩa Thánh Đăng.

Đa số tăng ni hiện có mặt ở đây là người xuất gia, đời sống không còn bị ngoại duyên chi phối, chỉ một bề lo tu. Lo tu là làm gì? Có phải lo thắp đèn tâm mình cho sáng không? Phật tử cũng vậy, quý vị sống không đến nỗi đầu tắt mặt tối, mỗi ngày cũng có chút thì giờ rỗi rảnh, hãy cố gắng thắp đèn tâm của mình cho sáng dần, để được trao đèn như các vị vua đời Trần. Việc nước thì quá lớn quá nhiều, các ngài đa đoan bận rộn mà vẫn thắp sáng được đèn tâm, huống chi chúng ta có thì giờ rỗi rảnh mà không thắp được đèn tâm sao? Chúng ta không nên ỷ lại đã có đèn của Phật tổ, hãy tự nỗ lực thắp sáng đèn tâm của mình. Đèn tâm sáng là được truyền đèn thánh, sau này chúng ta có giảng dạy hay nói điều gì cũng gọi Thánh đăng ngữ lục. Nếu chưa được vậy dù nói làm bao nhiêu cũng chỉ là ngôn ngữ của phàm phu.

Ở đây đáng khích lệ nhất là Phật tử, quý vị tuy bị gia duyên ràng buộc, nhưng sánh với các vị vua thì quý vị có thì giờ hơn nhiều, há không nỗ lực thắp sáng được đèn tâm sao? Quý vị hãy nỗ lực, biết đâu mai kia những cư sĩ tới lui với Trúc Lâm, có người thắp sáng được đèn tâm, đâu có vô phần. Ở Thường Chiếu có vài cư sĩ đèn của họ cũng sắp sáng. Trong những buổi giảng, thỉnh thoảng tôi có dẫn một vài bài kệ của những cư sĩ đó cho quý vị nghe. Sở dĩ tôi nói điều này là để quý vị thấy cư sĩ cũng thắp được đèn sáng, chứ không phải chỉ người xuất gia mới thắp được. Chúng ta học thiền đời Trần thấy có nhiều cư sĩ sáng đạo. Trong năm vị vua thiền sư chỉ có hai vị xuất gia, còn lại ba vị là cư sĩ mà vẫn thắp sáng được ngọn đèn thánh. Vậy quý vị học theo gương người xưa để thực hành.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.