Hôm nay là buổi tất niên của thiền viện Trúc Lâm. Thường thường người ta gọi là ăn tất niên. Ở đây chư tăng chư ni không ăn chiều, cho nên giờ đổi lại là uống, được uống một tách sữa tất niên.
Ở thế gian, qua một năm công ăn việc làm có thịnh có suy, có thành công có thất bại, cho nên tất niên là kiểm điểm lại những gì đã qua, hay dở, thành bại, để rồi rút tỉa kinh nghiệm, năm tới mọi người cố gắng vươn lên tốt đẹp hơn những năm đã qua. Còn tất niên ở đây không nói chuyện thành bại của công việc làm ăn, cũng không tính lời lỗ, mà chỉ là nghe lời báo cáo của chư tăng chư ni và Phật tử về sự tu hành tiến hoặc lùi, hay hoặc dở để rút kinh nghiệm, năm tới mình tu được trọn vẹn hơn, đầy đủ hơn, không để thua sút năm nay. Đó là ý nghĩa tất niên của thiền viện Trúc Lâm.
Ở đây muốn ăn tất niên chúng ta phải có một số điều kiện.
Điều kiện thứ nhất là tăng ni kiểm lại mình thử xem một năm rồi sự tu hành tiến được nhiều ít. Mình kiểm mình mới rõ, mới đúng hơn người khác xét về mình.
Điều thứ hai là khi kiểm rồi, nếu xét thấy ưu nhiều thì nên cố gắng năm tới vượt hơn nữa, còn nếu khuyết nhiều, năm tới phải cố gắng trở thành ưu. Mỗi cá nhân phải tự kiểm mình, vì người đại diện báo cáo cũng chỉ nói tổng quát thôi chứ không đầy đủ. Mỗi người phải tự kiểm một năm qua sự tu tiến của mình khá, tốt hay là dở, lùi. Đó là ý nghĩa và giá trị của ngày tất niên.
Khi kiểm được rồi, mình phải cố gắng làm sao điều gì dở khắc phục cho không còn, điều gì hay thì nuôi dưỡng cho tăng trưởng. Như vậy, mỗi một năm qua đều là cơ hội tốt để làm lại những gì còn sơ sót và xây dựng mọi việc tốt đẹp hơn năm cũ.
Như vậy tất niên là rũ bỏ hết những việc xấu dở của năm qua và chuẩn bị những điều hay tốt cho năm tới. Đó là tinh thần tất niên, chứ đừng nghĩ tất niên là được ăn bánh nhiều hoặc vui chơi thỏa chí. Không phải vậy, đây là dịp để chúng ta quay lại, nhìn thấy lẽ thật của sự sinh hoạt trong năm cũ rồi chuẩn bị năm mới tiến hơn, hay hơn và cao đẹp hơn. Đó là ý nghĩa buổi tất niên hôm nay của thiền viện Trúc Lâm.
Thường trong nhà chùa, các buổi lễ trước phải thỉnh Phật chứng minh, nên đầu tiên chúng ta niệm Phật chứng minh rồi bắt đầu khai mạc.
Kế đây tôi nói rõ chương trình của buổi tất niên đêm nay cho quý vị biết.
Thứ nhất là Ban lãnh chúng của Nội viện tăng, Nội viện ni ra báo cáo những điểm ưu và khuyết của một năm qua cho toàn thể biết. Đồng thời quý Phật tử ở Đà Lạt qua một năm có được những gì hay hoặc dở báo cáo luôn càng tốt, nếu không có thì thôi. Sau phần trình bày của tăng ni, tôi, với tư cách là Viện trưởng của thiền viện Trúc Lâm cũng như của các thiền viện khác ở Đồng Nai, nói lên tâm tư, nguyện vọng của chúng tôi, đã làm được điều gì và chưa làm được điều gì trong những năm qua (chứ không phải chỉ trong một năm). Rồi tôi sẽ kết thúc bằng một lời dạy của chư tổ, để chúng ta biết được ý nghĩa tu hành, vươn lên không lui sụt.
Đầu tiên là báo cáo về sự tu hành qua một năm, tiến hay lùi, tốt hay xấu của Nội viện tăng, Quản chúng Nội viện tăng ra báo cáo trước để toàn chúng biết rõ.
Thầy Quản chúng Nội viện tăng:
Kính bạch Thầy! Hôm nay nhân ngày cuối năm Mậu Dần, theo lời chỉ dạy của Thầy, con kiểm điểm sự sinh hoạt tu hành của đại chúng trong năm qua, có những điểm ưu cũng như những điểm khuyết.
Trước tiên con xin kiểm điểm những điều còn sơ sót. Trong năm qua, nhìn chung trong đại chúng có mấy khuyết điểm sau:
Thứ nhất, năm nay số huynh đệ xuất chúng rời khỏi Thiền viện cũng hơi nhiều. Trong đó có hai vị do Thầy chỉ định ra làm Phật sự, ngoài ra một số vị khác có những lý do riêng tự rút lui, cũng có những vị rút lui làm bận lòng đến Thầy.
Thứ hai, trong năm qua cũng có trường hợp vi phạm nội quy khá nặng, phải hổ thẹn tự ra đi.
Thứ ba, do duyên sự đi ra liên hệ với bên ngoài nhiều, đưa đến những sơ sót như vừa nêu trên. Cũng có vị mượn duyên ra ngoài rồi có khi lén đi chơi thêm nữa. Như vậy là đối với tinh thần tôn trọng quy củ có phần thiếu sót.
Điểm kế, trong năm qua vì có những công tác phải làm chiều nên phần giữ giới ăn phi thời không được nghiêm chỉnh lắm. Tuy nhiên đây là do có trách nhiệm làm công tác. Ngoài ra, có một ít vị không làm chiều nhưng cũng cố ý trái phạm, vậy cũng là điều dở, điều sơ sót đối với nội quy đã được đặt ra.
Điểm nữa là do duyên liên hệ bên ngoài nhiều nên quý huynh đệ khi đi về phần tiền còn dư có khi giữ lại không trình. Đây tuy là không đáng nhưng nếu thành thói quen lâu ngày về sau thì cũng là điều dở. Đồng thời trong huynh đệ có những lúc gặp nhau nói chuyện ồn ào, toàn là những chuyện vô ích không đâu, nhất là trong nhà bếp. Như vậy cũng làm loạn tâm.
Ngoài ra có những lỗi nhỏ đã được nhắc nhở nhiều lần mà vẫn thường phạm. Nên tuy là lỗi nhỏ mà như vậy cũng là thiếu sót về tinh thần tôn trọng quy củ.
Đó là những điểm sơ sót, những điểm dở con kiểm thấy trong năm qua.
Bên cạnh đó, qua một năm rồi, kiểm lại về tinh thần tu học trong quý huynh đệ thấy có những tiến bộ đáng kể; trong đó có thêm hai tin vui lớn và một ít tin vui nhỏ đối với công phu tu hành của các huynh đệ. Như vậy để thấy rằng tuy do tập khí phàm phu nhiều đời sâu dày nên có những lúc không làm chủ được, xảy ra những điều sơ sót, nhưng hầu hết các huynh đệ tới đây đều có tinh thần ham tu, nỗ lực để tiến lên nên mới có những kết quả tốt đẹp đó. Bởi vì những kết quả này không phải bỗng nhiên hoặc trong nhất thời có được, mà là do huân tập đều đặn hàng ngày mới có thể có được những bước tiến đó.
Như vậy, bên cạnh những cái dở thì quý huynh đệ vẫn có những bước tiến lớn, đồng thời xét ra những lỗi lầm của quý huynh đệ trong năm qua thì cũng bớt hơn những năm trước nhiều.
Vậy kiểm lại, tuy còn có những sơ sót nhưng vẫn có những bước tiến. Đó là những điều con thành thật kính trình lên Thầy chứng minh, để sách tấn thêm cho chúng con sang năm tới được tinh tấn, tu hành được nhiều lợi ích và đạt kết quả tốt hơn nữa.
Hòa thượng:
Tôi hỏi thêm một câu. Năm trước, một số chúng ngồi thiền hai giờ chưa trọn, năm nay toàn chúng ngồi thiền đã trọn hai giờ chưa?
– Dạ, kính bạch Thầy, năm nay số người cũ ngồi hai giờ coi như được gần hết, nhưng còn số mới đến ngồi hai giờ chưa được hoàn toàn, mà trong những người cũ thì cũng đã ra đi một số!
– Còn một câu nữa, năm rồi tôi nói toàn chúng phải thực hiện Lục hòa, nay đã qua một năm, chúng thực hiện Lục hòa được viên mãn chưa?
– Dạ, bạch Thầy, về phần Lục hòa năm nay, so với năm trước thấy có phần tiến hơn, nhưng viên mãn thì chưa hoàn toàn.
– Như vậy là phần bên tăng rồi, bây giờ tới bên ai.
Ni sư Quản chúng Nội viện ni:
Ngưỡng bạch Thầy! Hôm nay con xin thay mặt cho toàn thể chị em trong Nội viện ni xin kính trình lên Thầy sự tu học của chúng con trong một năm qua.
Nhìn chung, về phần ưu cũng khá mà phần khuyết cũng có. Con xin kính trình lên Thầy phần ưu trước. Về tinh thần Lục hòa, con không dám nói là tuyệt đối, tuy nhiên trong năm này tất cả chị em chúng con rất thuần thục.
Điểm kế là các huynh đệ tới phiên nhập thất đều rất hăm hở, mong đến ngày vào thất. Đồng thời, các huynh đệ khi được nhập thất cũng quyết tâm nỗ lực hạ thủ công phu, cho nên sự tu hành có được niềm vui và kết quả rất đáng kể. Điều này chúng con đã có trình lên Thầy rồi.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm đó cũng còn một vài khuyết điểm nho nhỏ. Chẳng hạn như con xét thấy năm này có một vài huynh đệ vì bệnh quá nên phải về với gia đình, tuy không đi luôn nhưng đi hơi lâu. Con thấy như vậy là đối với sự tu hành huynh đệ đó phải chịu nhiều thiếu sót, không được nghiêm chỉnh như chúng con ở nội viện.
Điểm kế nữa, có những huynh đệ khi được nhập thất vì tập khí sâu dày nhiều đời nên sự tu hành không có kết quả tốt, coi như là giậm chân tại chỗ.
Ngoài ra đôi khi các huynh đệ vì quên nên cũng hơi ồn, con có nhắc nhở. Khi được nhắc, các huynh đệ đều hoan hỷ sửa đổi. Tuy nhiên nhìn chung lại, so với những năm về trước thì năm này về mặt tu học chúng con có tiến bộ nhiều.
Đó là những ưu và khuyết điểm của toàn chúng mà con thấy được. Ngoài ra không biết còn có những ưu và khuyết nào nữa, kính xin Thầy chỉ dạy thêm cho chúng con.
– Thầy hỏi một câu, như vậy chúng ồn là ồn ở chỗ nào?
– Dạ, bạch Thầy, thường hay ồn ở dưới bếp, nhất là những lúc làm đám, con cứ phải canh chừng để nhắc hoài. Mấy huynh đệ như cũng còn quen nếp cũ, chị em xúm lại làm thì không nhớ chăn mình nên hay nói chuyện. Rồi có khi rửa chén hoặc làm công việc dưới bếp hơi khua động, con cũng hay nhắc.
Hòa thượng:
Qua hai phần báo cáo của Nội viện tăng và Nội viện ni, tôi thấy có những điểm cần bổ túc thêm.
Năm nay có một căn bệnh mà hồi nãy chưa báo cáo là bệnh siêu vi B. Không phải cả chúng bệnh, chỉ có một hai người thôi, nhưng vì tôi có chút lo, chúng ta sống trong tập thể, nếu có một hai người nhiễm bệnh mà mình không lo ngừa đón thì có thể xảy ra cho nhiều người. Vì vậy phải chích ngừa, đó là điều thứ nhất.
Điều thứ hai, trong chúng tu thiền không có bệnh phổi, nhưng có người hơi yếu phổi, đó là ông Thư ký. Vì hồi xưa ở nhà ông dạy học nhiều, giờ vô đây làm việc tiếp nên hơi bị yếu phổi, chứ không phải bệnh phổi, như quý vị thấy, nói chuyện với ông một hồi là nghe ông họ hắng. Tuy nhiên, chỉ duy nhất một người thôi, đừng hiểu lầm rằng chư tăng ở đây ngồi thiền đau phổi hết.
Trước đây, tôi đã từng kể tôi đau phổi, nhưng sau khi tu thiền một thời gian bệnh phổi của tôi cũng lành luôn. Tại sao? Bởi vì bệnh cũ tái phát là do những khi trở trời trái gió hay sanh cảm, cảm rồi họ, họ thì dễ tái phát.
Suốt mấy năm ở Chơn Không, ít khi tôi bị cảm. Mỗi khi trời trở tiết, thấy khó chịu trong người là tôi vô ngồi thiền. Ngồi không hạn định thời gian, đến chừng cảm thấy hơi nhọc, mồ hôi xuất ra, thì tôi lau khô mồ hôi rồi đi tập thể dục. Vậy là hết cảm luôn.
Như vậy chính tu thiền làm cho mình ít bệnh hoạn chứ không phải tăng trưởng bệnh hoạn. Nhiều khi những người ở ngoài không hiểu, nghe nói quý thầy đi chích ngừa bệnh siêu vi B, tưởng đâu tăng chúng bị bệnh hết. Sự thật không phải, chỉ có một hai người.
Tôi ngại nhất là trường hợp ông T.T, lâu nay tôi thấy ông võ nghệ cao cường, đồng thời cũng có sức mạnh nữa, tôi ngỡ là ông không có bệnh. Thấy ông bệnh ít ít tôi cũng không để ý, tới chừng bệnh hơi nhiều, đi bệnh viện mới biết là bị nhiễm siêu vi. Đưa về Thành phố nằm bệnh viện Chợ Rẫy, sau cùng bác sĩ Chợ Rẫy chạy luôn. Tôi ngỡ rằng ông hết duyên. Không ngờ ông chạy xuống Cần Thơ gặp một bác sĩ chuyên cả đông y và tây y trị giúp cho.
Vừa rồi tôi về dưới, cả ông bác sĩ và ông T.T đều lên gặp tôi. Tôi hỏi: “Bác sĩ nhận thấy bệnh ông T.T đã giảm bao nhiêu?” Bác sĩ cho tôi biết đã giảm năm mươi phần trăm. Như vậy là qua cơn chết.
Tôi thường nghĩ, nếu thiền viện tôi lãnh đạo có nhiều người bệnh, rồi chết, điều này nói lên sự thiếu phước của tôi. Nên tôi rất ngại những người ở đây tu nhiều bệnh hoạn hoặc chết chóc, như vậy người ta sẽ thấy nơi này không có phước đức nên sanh ra những chuyện lôi thôi. Khi ông T.T qua được cơn chết này tôi thấy nhẹ mình nhiều vì chỗ lo của tôi không còn nữa.
Đó là kiểm sơ qua sự sinh hoạt của tăng ni trong một năm.
Thật ra ở đây tôi chủ trương không khoe những điều hay của mình, chỉ nói đại cương. Nếu muốn khoe thì tôi đã kể ra người nào tiến thế nào, tu kết quả ra sao. Nhưng tôi e dè chuyện đó lắm, tôi chỉ cho biết đại khái có những người tu tiến để tất cả quý vị vui thôi.
Thật ra, những bằng chứng tu tiến tôi đều có, nhưng không muốn nói ra, để cho quý vị đó khỏi ngại. Một là họ ngại sẽ có nhiều người biết. Hai, họ ngại rằng ngày nay tuy tu tiến được như vậy, nhưng biết đâu tập khí nhiều đời, hôm nào đó trở chứng làm điều gì sai sót, người ta sẽ cười rằng: “Đó, nói tu hay mà bữa nay thấy dở quá!” Như vậy mất uy tín tội nghiệp. Khi họ đến trình, tôi biết rằng họ tu tiến, nhưng hôm nay tôi không nêu tên, cũng không nêu ra những chứng cứ tu tiến do vì những lý do trên, chứ không phải đây là báo cáo suông.
Bây giờ tới phần thứ ba là phần của tôi. Tôi không báo cáo, nhưng tôi thuật lại cho toàn chúng nghe những tâm tư nguyện vọng tôi chủ trương thực hiện trong những năm gần đây, ngày nay nó đã tiến tới đâu, kết quả ra sao, để cho quý vị nghe mà vui, đồng thời lo giùm cho tôi trong những năm về sau này.
Tôi chỉ kể lại những năm gần đây chứ không phải kể lại cả cuộc đời mình. Những năm gần đây, nghĩa là kể từ khi tôi nhập thất ở trên núi Lớn – Vũng Tàu tại Pháp Lạc thất, tôi đã được túc duyên biết được đường lối tu thiền. Từ đó tôi nghiền ngẫm kỹ, thấy rằng những nước Phật giáo trên thế giới, như bên Bắc tông thì ở Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản… đều có các thiền sư tu thiền ngộ đạo. Sử sách còn ghi chép rõ, đồng thời các tác phẩm của các vị đó tự viết hoặc các ngài nói rồi người sau biên tập thành những bộ ngữ lục còn rất nhiều.
Nhưng nhìn lại Việt Nam mình, đa số người theo đạo Phật, thế mà tìm những di tích, sách vở và ngữ lục của thiền sư để lại không có bao nhiêu. Đó là một điều tôi rất buồn. Xứ sở người ta, ai tu được kết quả tốt đều có trong sách sử để hướng dẫn người sau nương theo đó mà tu, để người sau đủ lòng tin rằng người đi trước đã làm được những việc đó, mình đi sau thấy rõ đường lối như vậy, thực hành đúng như vậy thì cũng nhất định có kết quả. Còn nước mình do ít thấy dấu tích thiền sư, không có gương của người trước cho nên người sau đâm ra hoang mang, ngờ vực trên đường tu của mình. Nhìn thấy khiếm khuyết lớn lao đó nên tôi mới chủ trương tu thiền, nói chính xác là Thiền tông Việt Nam.
Tại sao tôi nói Thiền tông mà không nói chung là tu thiền? Bởi vì tu thiền có nhiều lối, như thiền Nguyên thủy gọi là Như Lai thiền, thiền Bắc tông gọi là Đại thừa thiền. Nhưng về sau này lại có Thiền tông là cốt tủy, bởi vì khi nghiên cứu kỹ lịch sử Phật giáo Việt Nam, tôi thấy hầu hết chư tổ tu thiền ngày xưa ở miền Bắc và Trung đều tu theo Thiền tông. Nếu chúng ta muốn kế thừa sự nghiệp của tổ tiên thì mình nên chủ trương tu thiền gì? Vì tổ tiên ngày trước tu Thiền tông, mình là con cháu ngày nay tu thiền thì nên theo gương người xưa, cho nên tôi chủ trương khôi phục Thiền tông Việt Nam. Đó là nhắm vào đường hướng của người xưa đã thực hiện được.
Ngày nay chúng ta ra Bắc, những ngôi chùa cổ đều là những tổ đình của các vị tu theo Thiền tông. Ở miền Trung cũng như vậy. Tổ tiên mình đã có đường lối tu rất rõ ràng, rất sáng sủa, mình là con cháu lại không theo, lại quên lãng, vậy có phải là lỗi lầm lớn không? Cho nên tôi chủ trương khôi phục Thiền tông Việt Nam. Nói Thiền tông chung thì ở Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam… đều có, nhưng tôi muốn nói riêng Thiền tông mà chư tổ ở Việt Nam tu được, ngộ được. Đó là nét riêng, nét đặc biệt của xứ sở Việt Nam. Vì vậy mà tôi nói Thiền tông Việt Nam.
Kế đó nữa, hiện nay tôi thấy chúng ta tu thiền mà không có sách vở để nương theo. Nếu nói đúng theo Thiền tông thì phải được truyền thừa từ thầy đến trò, từ chuyên môn gọi là truyền tâm ấn. Nhưng ở Việt Nam chúng ta, ngót một trăm năm rồi các thiền sư đã vắng bóng, bây giờ chúng ta tu làm sao có được sự truyền thừa? Đòi truyền tâm ấn thì ai truyền cho mình?
Nếu các ngài còn đang giáo hóa thì mình phải tới để học, để được các ngài thừa nhận. Nhưng các ngài đã khuất bóng hết rồi, nơi miền Nam này không có người ngộ đạo về thiền, bây giờ mình muốn dựng lập Thiền tông thì trông cậy vào ai và nhờ ai truyền tâm ấn cho mình để đủ uy tín đối với người sau? Vì lẽ đó mà tôi không thể nào có được sự truyền tâm ấn từ một bậc Thầy.
Đã không được truyền tâm ấn thì làm sao mình có thể tu được, tu đúng, cho nên tôi mới chủ trương thiền giáo đồng hành. Nghĩa là mình vừa tu thiền, vừa nghiên cứu kinh điển Phật và ngữ lục của chư tổ, để thấm nhuần tinh thần siêu thoát của Phật dạy, tinh thần ngộ đạo của chư tổ, nắm cho thật vững rồi y theo đó tiến tu.
Nếu nói rằng mình tu thiền theo đạo Phật, thì đạo Phật là gốc, thiền là ngọn. Ngọn không thể tách rời gốc được, cho nên tôi bắt tăng ni học những kinh căn bản của Phật dạy. Ví dụ như bên chữ Hán có bốn bộ A-hàm, rồi lần lên các kinh Bát-nhã v.v… để nắm vững những gì Phật dạy. Kế đó phải nghiên cứu hành trạng chư tổ từ Trung Hoa đến Việt Nam, tu thiền như thế nào, ngộ đạo ra sao, nắm vững mấu chốt đó. Như vậy, đối với lời Phật dạy chúng ta đã thấm nhuần, đối với đường lối tu của Tổ mình cũng nắm vững, thì trên đường tu, sự khôi phục Thiền tông Việt Nam theo đúng tinh thần Phật giáo, chúng ta có hướng đi tương đối cụ thể chứ không phải mơ màng.
Vì vậy tôi chủ trương tu thiền với tính cách thiền giáo đồng hành. Giáo là kinh của Phật, thiền là lời dạy của Tổ, theo đó mình ứng dụng tu Phật tổ không hai. Chúng ta nắm được đường lối đó thì tuy không được trực tiếp truyền tâm ấn nhưng cũng đã đủ lòng tin, đủ hiểu biết để tu không sợ bị lạc lầm nữa. Do đó chúng tôi ứng dụng tu thiền theo đường lối tôi vừa nêu.
Như vậy tôi chủ trương khôi phục Thiền tông Việt Nam. Nhưng Thiền tông Việt Nam, chúng ta nhìn lại các hệ phái thiền truyền vào, xa nhất là hệ phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi, kế đến hệ phái Vô Ngôn Thông, sau đó là tông Lâm Tế và tông Vân Môn. Các tông này đều có truyền bá ở Việt Nam, nhưng sâu đậm nhất là hệ phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi và Vô Ngôn Thông, còn hệ Lâm Tế thì sau này mới có và bên Vân Môn thì có chút ảnh hưởng trong đời Lý thôi.
Khi nắm vững được mấy tông đó, rồi chúng ta thấy tổ tông Lâm Tế là người Hoa, tổ tông Vân Môn và Vô Ngôn Thông cũng là người Hoa, còn vị tổ tông Tỳ-ni-đa-lưu-chi là người Ân. Nay chúng ta nói Thiền tông Việt Nam mà lấy vị tổ Ấn Độ, tổ Trung Hoa làm chuẩn thì còn gì là Việt Nam nữa! Nên tôi nghiền ngẫm kỹ, nhìn suốt lịch sử đời Lý, Trần, Lê, thấy rằng chỉ có thể chọn thiền tông đời Trần.
Ngài Điều Ngự Giác Hoàng sau khi xuất gia tu trên núi Yên Tử. Hệ thống tu thiền của ngài được hòa hội từ các tông Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường. Ba tông này kết tinh thành hệ phái thiền Trúc Lâm Yên Tử .
Chỗ gặp gỡ và kết hợp của tông Tỳ-ni-đa-lưu-chi và Vô Ngôn Thông là chùa Lục Tổ ở Bắc Ninh, do thiền sư Thường Chiếu trụ trì. Chùa đó trước nguyên là chùa của tông Tỳ-ni-đa-lưu-chi từ ngài Vạn Hạnh…, nhưng sau này ngài Thường Chiếu thuộc tông Vô Ngôn Thông lại trụ trì chùa này, tức đây là một điểm giao lưu giữa hai hệ phái chung gặp tại đó. Rồi sau có thêm phái Thảo Đường lồng ở trong nữa. Từ ngài Thường Chiếu truyền mãi cho tới ngài Hiện Quang là phổ hệ từ chùa Lục Tổ. Cho nên ngài Hiện Quang gần như là ông Tổ đầu tại núi Yên Tử. Sau ngài mới có các vị tổ nối tiếp, rồi tới ngài Trần Nhân Tông.
Khi thành lập hệ phái thiền Trúc Lâm Yên Tử, ngài Trần Nhân Tông đã kết hợp tất cả những tinh ba trước để thành lập một hệ phái thiền thuần túy Việt Nam. Do đó, nói khôi phục Thiền tông Việt Nam thì không thế nào tách rời đường lối, hệ thống của ngài Trần Nhân Tông được. Vì vậy nên tôi lấy tinh thần thiền Trúc Lâm Yên Tử làm nền tảng.
Thiền Trúc Lâm Yên Tử có điểm đặc biệt là đường lối thiền giáo đồng hành, tức vừa tu thiền vừa học kinh. Cho nên chúng ta đọc sử thấy tổ Trúc Lâm dạy ngài Pháp Loa và các vị khác phải giảng kinh, nào là kinh Kim Cang, kinh Niết-bàn, Pháp Hoa… cho quần chúng cũng như cho đồ đệ. Như vậy đường lối của Tổ gồm cả thiền và giáo chứ không phải thuần túy thiền như tông Lâm Tế.
Ngày nay chúng ta chủ trương thiền giáo đồng hành là một lối hòa hợp, rõ ràng, không sợ sai chạy, cũng như không sợ mắc phải khuyết điểm lớn là mình tu theo Phật mà không biết gốc gác chỗ nào, nền tảng giáo lý ra sao.
Như vậy, chủ trương khôi phục Thiền tông Việt Nam, tôi y cứ theo Phật giáo Thiền tông đời Trần, mà người dựng lập hệ phái Trúc Lâm Yên Tử là vua Trần Nhân Tông, sau khi đi tu hiệu là Trúc Lâm Đại Đầu-đà. Trong hệ phái Trúc Lâm Yên Tử đó, ngài Trúc Lâm Đại Đầu-đà là Sơ Tổ, rồi đến ngài Pháp Loa là Nhị Tổ, ngài Huyền Quang là Tam Tổ v.v… truyền mãi đến sau này. Đó là chỗ nhắm mà tôi thấy phù hợp với chủ trương khôi phục Thiền tông Việt Nam.
Từ đó tôi mới thấy rằng chúng ta muốn tu thì phải rõ từ gốc tới ngọn. Ở thời chúng ta là ngọn ngành của Phật giáo. Đã là ngọn ngành thì chúng ta phải tìm về gốc, mà muốn tìm về gốc trước phải phăng từ những cành hoặc thân. Cành và thân của Phật giáo là chỉ cho chư Tổ, cái gốc là chỉ cho đức Phật. Phật thì có kinh, Tổ có ngữ lục hoặc các sách do các ngài sau khi ngộ đạo, thấy được lẽ thật nên hứng thú viết lại còn lưu truyền đến ngày nay.
Bởi chủ trương khôi phục Thiền tông Việt Nam nhắm thẳng vào đời Trần, nên tôi tự đặt ra một trách nhiệm phải làm là:
Một, xây dựng được những ngôi chùa mang tinh thần dân tộc Việt Nam, đó là phần kiến thiết.
Hai, tôi phải làm sao gầy dựng lại hoặc phiên dịch những quyển sách còn sót lại của chư tổ ngày xưa chuyên tu thiền ở Việt Nam từ đời Lý, Trần, Lê, Nguyễn. Tôi cố gom hết lại để tập thành một bộ sách Thiền Học Việt Nam.
Đó là hai việc rất nặng nề. Nhưng tôi lại nghĩ, có chùa, có sách thì phải có cái gì nữa? Chùa và sách coi như là phần bất động, vô tình, còn nhân sự tức con người mới là tối quan trọng. Vì vậy, tôi nghĩ phải có một số tăng ni tu thiền. Dù cho những sách vở của người xưa mình đọc thấy hay, giải thích người khác nghe cũng thấy hay, nhưng hỏi lại hiện giờ có ai tu được không? Không có! Vậy thì cái hay đó trở thành rỗng chứ không có thực chất.
Khi nghĩ tới chùa phải có tinh thần dân tộc, nghĩ tới sách vở các thiền sư xưa còn, mình gom góp để dịch, để giảng ra cho người sau hiểu, đó là phần lý thuyết. Còn thực tế đòi hỏi phải có những con người thực hành. Nếu lý thuyết hay mà thực hành không được thì chỉ là lý thuyết suông. Cho nên sau đó tôi đặt nặng người thực hành là tăng ni và Phật tử. Làm sao cho tăng ni Phật tử theo lời dạy của Phật, tổ tu ngay trong đời này có kết quả, dù chưa trọn vẹn trăm phần trăm, ít ra cũng được hai mươi, ba mươi, bốn mươi phần, chứ không phải tu suông, tu rỗng.
Vì vậy, tôi đặt nặng việc tăng ni phải tu cho có kết quả ngay trong đời này để chứng minh rằng lời Phật dạy, lời Tổ dạy là hữu hiệu và hữu ích cho cuộc sống con người. Không tu thì thôi, tu là nhất định có tiến, nhất định có thành công. Đó là tinh thần thực tế của tôi.
Nhưng những năm về trước, tôi ưu tư vì thấy tăng ni tu chậm tiến quá. Bởi vì sao? Vì những năm đó kinh tế còn chật vật, Phật tử nghèo, chùa không có gì sinh sống, phải tự làm ra cơm gạo để nuôi sống. Tăng ni ngày làm hai buổi, tối vô ngồi thiền gục lên gục xuống, thấy khổ quá! Tôi buồn, nghĩ rằng nếu như vậy thì chủ trương đường lối của tôi chắc không tới đâu. Vì vậy mà tôi ưu tư, nghĩ phải làm sao, thực hiện chủ trương của mình cho có kết quả.
Cũng do có chút duyên phước cho nên từ năm tám mươi sáu về sau, một số Phật tử trong nước từ từ làm ăn được, một số Phật tử đi nước ngoài cũng gầy dựng được chút ít sự nghiệp rồi kẻ ít người nhiều phát tâm ủng hộ. Nhờ vậy tăng ni tu trong các thiền viện cũng giảm dần công tác. Thay vì ngày trước công tác hai buổi, bây giờ tôi chỉ cho làm một buổi sáng thôi, một là để làm chút ít kinh tế nuôi sống, hai là làm việc ngoài trời như vậy cơ thể được tiếp xúc với nắng buổi sáng, vận động cho khỏe mạnh. Thời gian còn lại thì để tu.
Như vậy là qua giai đoạn chật vật, tăng ni được thoải mái hơn. Dân ở ngoài sung túc thì trong chùa cũng thoải mái theo. Công tác được nhẹ nhàng thì trong giờ tu cũng được kết quả. Nhưng tôi chưa hài lòng, nghĩ rằng phải làm sao để tăng ni có thời giờ tu rút trong một giai đoạn nào đó. Bởi vì kinh nghiệm bản thân tôi, sau một thời gian đi giảng dạy mười mấy năm ở Phật học viện, tôi thấy mình nói được mà làm chưa được, rồi vô tình mình dường như là cái máy phát thanh vậy thôi, học được gì nói ra cái ấy mà bản thân tu chưa tới đâu. Tôi mới quyết tâm lên núi Lớn ở Vũng Tàu cất thất, nhập thất tu chí tử. Tôi thấy rõ rằng nhờ quyết tâm tu và nhập thất để tránh duyên, chuyên làm một việc nên có kết quả cụ thể không nghi ngờ.
Từ kết quả bản thân, tôi nghĩ phải làm sao tạo duyên cho tăng ni cũng có cơ hội nhập thất như tôi thì mới có thể chắc chắn tu tiến. Cho nên những năm tám mươi sáu về sau, tôi từ từ cho các thiền viện cất thất, mỗi nơi năm ba cái để tăng ni có cơ hội nhập thất tu, qua những kỳ nhập thất, kiểm lại tôi thấy rất đáng khích lệ. Vì vậy tôi tin rằng nếu có thất nhiều, tăng ni tu kỹ thì kết quả chắc phải khá hơn.
Đó là tôi nói tổng quát, nay nói riêng về Trúc Lâm.
Tôi lúc nào cũng muốn tạo duyên cho tăng ni tu được kết quả, nhưng ở Thường Chiếu cũng như các thiền viện khác ở Đồng Nai, vùng đó nóng quá. Buổi sáng tăng ni lao động, chiều ngồi tu, mà chiều nóng quá ngồi thiền không được. Bản thân tôi buổi chiều ngồi thiền một lát cũng ướt cả áo, ngồi không được, chẳng những buổi chiều mà luôn cả tối ngồi thiền cũng ướt hết áo. Chính đây là vấn đề trở ngại.
Tôi đọc sử thấy rõ ràng đức Phật Thích-ca thành Phật vào buổi khuya mùa đông khi sao mai mọc. Buổi khuya khí trời thanh sảng và mùa đông ở Ấn Độ mát mẻ, chính nhờ đó ngài tu có kết quả. Bây giờ nếu chúng ta cứ phải chịu sức nóng như vậy hoài, buổi sáng ráng làm, chiều ngồi thiền thì mồ hôi ướt áo, rồi tối ngồi mồ hội cũng ướt áo nữa, thì làm sao tu có kết quả? Cho nên tôi buồn, nghĩ làm sao có chỗ nào mát mẻ hơn, yên tịnh hơn để tăng ni tu cho có kết quả. Đó là mối ưu tư trong lòng tôi.
Chợt gặp duyên tốt, nhờ tôi bệnh nên quý Phật tử đưa tôi lên Đà Lạt nghỉ. Tôi đi chơi chung quanh, thấy ở đây còn rừng, còn cây cối cao, khí hậu lại mát. Tôi ước mơ có được một thiền viện ở Đà Lạt, khí hậu mát mẻ, cho chư tăng chư ni ngồi tu cả ngày lẫn đêm không có gì bực bội. Một nơi yên tĩnh để tăng ni khỏi bị phân tâm vì những tiếng động bên ngoài. Tôi mơ ước như vậy nhưng không biết có thực hiện được không. Ba bốn năm cố gắng xin miếng đất ở khu vực Tuyền Lâm này, nhân duyên đưa đẩy sau lại xin được. Tôi mới tuyên bố với các Phật tử và tất cả tăng ni ở các thiền viện rằng: “Thiền viện Trúc Lâm là lý tưởng tối hậu của đời tôi.”
Câu nói đó tôi không bao giờ quên được. Tại sao? Vì tôi thấy các nơi khác thiếu điều kiện cho tăng ni tu nên tiến chậm, ở đây đủ điều kiện hơn tôi tin rằng tăng ni tu sẽ dễ tiến hơn. Do đó tôi mới cố gắng thành lập Thiền viện này. Khi thành lập Thiền viện này, quý vị đừng tưởng rằng tôi thích cất chùa to, ham tạo cảnh đẹp. Đó là một sự bất đắc dĩ.
Hồi xưa tôi xin ngọn đồi trong hồ, cách đây cả cây số. Tôi nghĩ rừng vắng tăng ni tu dễ kết quả hơn. Nhưng trong đó đã có quy hoạch. Kế đó tôi xin ngọn đồi ở giữa hồ giống cái cù lao, tôi nghĩ ở đó cách ly với quần chúng để tăng ni tu mau kết quả, cũng không được luôn. Rồi tới khi được chính quyền cho chỗ này thì trong buổi họp quý vị lớn đã giao ước với tôi rằng: “Khu này là khu du lịch, Thầy muốn cất thiền viện trước tiên phải tạo được cảnh du lịch. Nếu cất cái chùa nhỏ, cái am nhỏ thì chúng tôi không cho.”
Bấy giờ quý vị nghĩ sao? Tôi phải bạo gan nói: “Được, tôi sẽ xây cất và tạo cảnh quan có tầm vóc du lịch.” Vì vậy mà phải nỗ lực cất chùa hơi to một chút, tạo cảnh cho đẹp một chút. Đó là để đáp lại lòng tốt của những người đã giúp chúng tôi. Khi xây cất tôi chú trọng phải có khu nội viện, một bên dành cho chư tăng, một bên cho chư ni yên tu, thì khu vực ngoài dù du khách cả ngàn người, trong nội viện vẫn yên. Như vậy tôi được cả hai, vừa có nơi cho đồng bào, du khách tới tham quan, vừa có nơi cho tăng ni tu hành yên tĩnh, mát mẻ. Việc làm của tôi cố tình nhắm vào tăng ni tu cho được, còn cảnh du lịch chỉ là phần phụ thôi.
Từ ngày thành lập thiền viện Trúc Lâm tới giờ, tôi cũng còn có những băn khoăn. Chư tăng chư ni ở đây tu tốt rồi nhưng chưa có cơ hội dồn hết lực để chuyên tu trong một thời gian đôi ba tháng. Thế nên năm trước tôi đã cất được ít cái thất rất khiêm nhường. Trên một trăm tăng ni mà cất được hai ba cái thất có thấm vào đâu! Chừng nào mới tới phiên nhập thất? Nên tôi khao khát, ước ao cất thêm thất.
Năm rồi tôi yêu cầu ông thư ký làm đơn xin cất thêm bốn cái thất. Vừa cất xong hai cái bên tăng, đầu năm tới sẽ cất thêm hai cái cho bên ni, đó là tương đối mãn nguyện của tôi. Cộng cả cũ và mới là tám hay chín cái gì đó. Như vậy có thể tăng ni có cơ hội tu tiến hơn và nhanh hơn.
Nhưng tại sao tôi lại gấp vậy? Bởi vì tuổi của tôi không cho phép mọi việc đứng một chỗ, mà phải chạy mới kịp. Mỗi năm thân xác tôi mỏi mòn một phần, nếu không có cơ hội quyết liệt, chờ lâu quá biết đâu tôi đi mất rồi mà quý vị ở đây vẫn chưa tu được bao nhiêu. Nên tôi muốn thúc cho tăng ni cố gắng tu, tu sao lúc tôi còn có mặt quý vị có những bước tiến đáng cho tôi tin cậy, để tôi hài lòng rằng những gì tôi chủ trương, những gì tôi cố gắng thực hiện đều được kết quả như nguyện. Đó là chỗ trông đợi, mong mỏi của tôi.
Đến năm này thấy tăng ni tu có tiến, đó là một bằng chứng để tôi yên lòng rằng chủ trương của tôi là thực tế, có kết quả, chứ không phải là nói suông, nói rỗng. Nhưng tôi còn muốn được kết quả nhiều hơn, vì vậy tôi mong năm tới đủ thất, tăng ni tu sẽ có những kết quả tốt hơn năm này nhiều. Quý vị đồng ý vậy không? Nói to lên cho tôi biết! (Cả chúng cười).
Tôi có tật dài dòng, nói phải có đầu có đuôi chứ không nói ngang được. Như vậy qua mấy năm thực hiện chủ trương khôi phục Thiền tông Việt Nam, tự tôi kiểm điểm:
Một, đứng về hình thức chùa chiền, kiểm lại phần xây dựng, kiến thiết các thiền viện, tôi đã làm được tám mươi phần rồi, đó là đã nhẹ được một phần.
Phần thứ hai, về sách vở của các vị thiền sư đời Lý, Trần, Lê, Nguyễn, tôi gom góp tính ra trên mười quyển, hiện giờ tôi đang in tới quyển thứ bảy rồi, còn ít quyển nữa là xong. Vậy phần thứ hai cũng được bảy mươi phần.
Phần thứ ba là số tăng ni tu có tiến, ở đây cũng như ở các thiền viện khác, tôi kiểm lại, kết quả khiêm nhường khoảng mười lăm phần, cũng có thể hai mươi, nhưng tôi chưa dám nói, thôi thì mười lăm phần. Đó là trong giới tăng ni, còn cư sĩ cũng có những bước tiến khá, nhưng để dành bữa mùng ba, tôi nói chuyện với cư sĩ sẽ khoe luôn.
Như vậy, những Phật sự tôi chủ trương, đến ngày nay phần nào cũng có thể được tám mươi hay bảy mươi, hoặc cũng được những bằng chứng cụ thể để tôi tin tưởng rồi. Như vậy tôi hết bổn phận chưa? Chắc chưa! Sở dĩ tôi nói đó là để cho quý vị thấy những kết quả đáng mừng của bao nhiêu năm nay chúng tôi cố tình gầy dựng. Nhưng bây giờ còn điều gì phải lo nữa không?
Tôi nhớ trong kinh Tứ Thập Nhị Chương, đức Phật có dạy, người đời khi danh tiếng của họ được vang xa, những người ở xa nghe biết thì nhìn lại thân họ sắp tàn. Cũng như đốt hương, người ở xa mấy trăm thước ngửi được hương thơm, nhìn lại cây hương cũng sắp tàn. Ngày nay tôi được nhiều người biết và nghe tiếng, thì nhìn lại tôi cũng sắp tàn. Như vậy buồn không? (Cười) Có gì mà buồn, bởi vì đó là lẽ tự nhiên mà!
Tới đây tôi nói qua một đề tài hơi khác một chút.
Mỗi một năm qua, cuối năm là tất niên, rồi đầu năm là Nguyên đán… Có tất niên, có tết Nguyên đán là để nói thời gian trôi mãi, không dừng ở một chỗ nào hết. Thời gian chạy mãi nên con người và muôn vật cũng theo đó mà đổi thay, từ trẻ đến lớn, đến già rồi đến chết, không ai tránh khỏi. Đó là một lẽ tự nhiên. Biết rõ không tránh được thì buồn có lợi gì? Rồi khi cái chết đến thì sao? Cười với nó chứ! Vì đó là chuyện đương nhiên mà. Nếu khóc được khỏi chết thì cũng nên khóc, còn khóc rồi cũng chết thì khóc chi cho uống nước mắt. Ai rồi cũng phải tới đó.
Bây giờ tôi nói lý vô thường của đạo Phật, đặc biệt đi sâu vào vô thường của con người cho quý vị nghe.
Nhiều khi người ta nghe đạo Phật nói vô thường rồi cho rằng đạo Phật bi quan, nghe nói cuộc đời luôn thay đổi, con người bị già bệnh chết đuổi theo, rồi đâm ra buồn chán. Nhưng sự thật không phải như vậy. Đạo Phật nói vô thường với một ý nghĩa rất mạnh mẽ, rất tích cực, chứ không phải để gây buồn chán cho người.
Cho nên ở đây tôi nhắc lại, vô thường là gì? Là mọi vật đều chuyển biến, từ con người cho đến muôn vật. Như nơi con người thì thân, tâm… là một dòng vô thường, luôn luôn đổi dời chuyển biến, từ sanh dần dần đến diệt, không dừng một phút giây nào hết. Dù ai tài giỏi bao nhiêu muốn dừng lại cũng không dừng được. Như hồi xưa vua Tần Thủy Hoàng đi tìm thuốc trường sinh uống để sống mãi, mà rốt cuộc rồi có sống mãi không? Ông cũng chết mất, đến sáu mươi mấy tuổi cũng đi luôn! Kể cả mấy ông tiên, ngày xưa mình đọc truyện Tàu, nghe nói ông tiên này ông tiên kia đều có linh đơn, uống vào không già không chết. Nhưng bây giờ chúng ta tìm coi có gặp ông nào không? Còn ông nào sống không hay đã chết mất hết?
Như vậy tất cả đều đi tới chỗ hoại diệt, không ai còn hoài. Biết rõ như vậy thì cái chết đến với mình chỉ là một sự thật không trốn tránh được. Vậy thì mình cười với nó chứ đừng sợ. Sợ là dại khờ. Tuy nhiên, biết được cuộc đời mình là vô thường thì chúng ta phải làm gì để cho khỏi phí một đời. Chẳng lẽ có mặt trên thế gian như là một cục thịt, biết ăn, biết uống, biết ở mà không có lợi ích cho ai. Chúng ta phải làm cái gì cho xứng đáng. Bởi vậy tôi dẫn lời những người xưa nói về ý nghĩa vô thường của đạo Phật để chúng ta thức tỉnh.
Nghĩa vô thường có hai: một mặt tiêu cực và một mặt tích cực. Những người nghe nói cuộc đời là vô thường, già bệnh chết sắp tới, rồi đâm ra chán nản, hoặc ăn chơi, thả trôi một đời, đó là hiểu vô thường một cách tiêu cực. Chúng ta phải hiểu một cách tích cực mới đúng với nghĩa vô thường Phật dạy.
Những năm về trước chúng tôi ở chùa, buổi chiều có thời Tịnh độ hay cũng gọi là Công phu. Khi tụng kinh xong có bài sám, sau bài sám liền có đọc đoạn này, tôi đọc cho quý vị nghe, để luôn nghĩ tới vô thường thì mình càng tinh tấn chứ không phải tiêu cực.
Thị nhật dĩ quá,
Mạng diệc tùy giảm,
Như thiểu thủy ngư,
Tư hữu hà lạc?
Đại chúng đương cần tinh tấn,
Như cứu đầu nhiên,
Đản niệm vô thường,
Thận vật phóng dật.
Thị nhật dĩ quả là gì? Nghĩa là ngày nay đã qua. Mạng diệc tùy giảm, mạng mình cũng theo đó giảm đi. Như thiểu thủy ngư, như con cá ở trong cái ao sắp cạn, một ngày nắng qua thì thấy cái chết sắp tới nơi. Cũng vậy cuộc sống của mình qua một ngày như con cá ở dưới ao cạn, qua một ngày nắng thì cái chết gần kề. Vậy mà mình có trông ngày qua mau không?
Con người mâu thuẫn lạ, muốn hết ngày, muốn hết tháng, hết năm mà lại sợ chết, trong khi hết ngày hết tháng hết năm thì cái chết tất phải tới. Hai chuyện đó rất mâu thuẫn, nên người ta khổ. Bây giờ phải biết mỗi ngày qua là mình đã giảm đi một phần tuổi thọ, giống như con cá ở trong ao nước sắp cạn, nắng qua một ngày là thấy cái chết gần kề.
Tư hữu hà lạc, ở chỗ đó thì còn gì nữa mà vui, mà trông đợi, mà thụ hưởng? Đại chúng đương cần tinh tấn, như vậy thì tất cả chúng ta phải cố gắng, phải tinh tấn lên. Qua một ngày là mất đi một phần tuổi thọ, một phần sống. Bây giờ sống ngày nào phải xứng đáng ngày đó, ngày nào cũng nỗ lực tu. Không chần chừ, không hẹn “năm nay mệt quá để sang năm tu nhiều một chút”. Đó là chờ chết một cách vô ích. Vì vậy không nên bỏ qua hoặc lãng phí một ngày nào hết.
Chúng ta phải nỗ lực, tinh tấn. Tinh tấn như thế nào? Tinh tấn như cứu lửa cháy đầu. Quý vị có tóc, ai lỡ xẹt hộp quẹt cháy xém cái đầu, lúc đó quý vị cười hay lấy tay phủi liền cho tắt? Lửa cháy đầu thì phải phủi gấp. Bây giờ mình cố gắng tu cũng như cứu lửa cháy đầu, quý vị có dám hẹn nữa không? Có nói “hôm nay sao nhọc quá, thôi cho ngủ một bữa, mai ngồi thiền cũng không sao”, dám nói vậy không? Cứu lửa cháy đầu mà, đâu lôi thôi vậy được. Nên ngày nào cũng phải ráng tu, phải thực hiện cho được. Cần tu tợ lửa cháy đầu là vậy đó. Cứu lửa cháy đầu là chuyện không thể chần chừ, ngày nào phải dứt khoát ngày đó, làm cho xong, làm cho rồi.
Điều này xin nhắc cho tăng ni còn trẻ, đừng nghĩ đời mình còn dài rồi cứ hẹn. Không được! Ngày nào qua là ngày đó mình phải tu cho được, cho thành công, xứng đáng một ngày. Nếu để qua suông một ngày là mình rất dại khờ, đáng tiếc.
Đản niệm vô thường, thận vật phóng dật. Chỉ nhớ cuộc sống này là vô thường, nay còn mai chưa chắc đã còn. Nên ngày nào còn sống là ngày đó phải tận tình, nỗ lực, không chậm trễ, không chần chừ. Chỉ nhớ đến vô thường mà dè dặt không dám buông lung. Người tu mà hôm nay ham chơi, mai chết làm sao? Ngày nay còn chưa chắc ngày mai còn. Hôm nay phải nhớ tới ngày mai chưa bảo đảm còn sống, nên ngày nay phải làm cho được, cho thành công điều gì mình định làm, rồi ngày mai phải làm cho thành công nữa. Như vậy mới không mất thời giờ quý báu của mình, mới xứng đáng một cuộc sống, một đời tu hành, chứ chần chừ, lần lữa là chưa xứng đáng.
Nhớ vậy hôm nào hơi trở gió một chút, đừng có lên Quản chúng xin: “Bữa nay con ê ẩm quá, xin Thầy cho con nghỉ một buổi tọa thiền.” Không được như vậy, ê ẩm thì càng sợ chết gấp, phải ngồi thiền nhiều hơn nữa. Nhớ vậy đó!
Nhớ vô thường để gắng tu, để nỗ lực chứ không phải nhớ vô thường rồi thả trôi, ngồi đó mà than thở. Hiểu vậy rồi mới thấy nói vô thường là để tinh tấn, thúc đẩy mình tiến lên, chứ không phải nói vô thường để rồi chán ngán buồn bã ngồi chờ chết.
Đó là ý nghĩa của vô thường và tinh tấn.
Tôi nhớ có bài dịch của một vị Hòa thượng dịch khá hay:
Ngày nay lại đã qua rồi,
Mạng căn huyết mạch lần hồi khô khao.
Dường như cá cạn ở ao,
Khổ thêm thì có, chút nào vui đâu!
Cần tu tợ lửa cháy đầu,
Đừng cho sái buổi như chầu đế vương.
Cái thân mỏng mảnh vô thường,
Sớm còn tối mất lo phương cứu mình.
Bài này do hòa thượng Huệ Lưu, hệ Thiên Thai dịch.
Như vậy, chúng ta học là phải hiểu, hiểu để tiến. Đâu phải nghe người ta nói đạo Phật dạy cái gì cũng vô thường… chán quá, hết muốn làm ăn gì. Trái lại vì vô thường nên phải làm rút, làm cho được. Tuy nhiên, làm rút, làm được nhưng không nghĩ tới chuyện hưởng thụ riêng mình. Làm cho mọi người, làm cho chúng sanh mới là tốt.
Tới phần thứ hai, hiểu rõ vô thường nên không sợ hãi. Vì thấy sự vật vô thường là thấy đúng lẽ thật, thấy thân mình vô thường cũng là thấy đúng lẽ thật, mà thấy đúng lẽ thật thì không có gì sợ hãi. Chắc không ai quên được bài kệ của thiền sư Vạn Hạnh. Đây tôi đọc bài dịch của tôi:
Thân như bóng chớp có rồi không,
Cây cỏ xuân tươi thu đượm hồng,
Mặc cuộc thạnh suy đừng sợ hãi,
Thạnh suy như cỏ hạt sương đông.
Nguyên văn chữ Hán là:
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô,
Nhậm vận thạnh suy vô bố ủy
Thạnh suy như lộ thảo đầu phố.
Nghĩa là thân mình mỏng manh, mau chóng như lằn chớp, như cái bóng, có đó rồi mất đó, có gì đâu là thật. Giống như các sự vật ở ngoài, nào cỏ nào cây, mùa xuân thấy tươi tốt, mùa thu lá rụng điêu tàn; cứ sanh trưởng rồi điêu tàn chứ không ở nguyên một trạng thái nào. Như vậy, thân mình là tạm bợ, chớp nhoáng, sự vật thì đổi thay, sanh trưởng rồi điêu tàn. Vậy thì đối với cuộc được, mất, thạnh, suy mình nghĩ sao? Đối với lẽ sống, chết mình nghĩ sao?
Mặc cuộc thạnh suy đừng sợ hãi, nghĩa là mặc chuyện thạnh suy đừng sợ đừng lo gì. Tại sao? Thạnh suy như cỏ hạt sương đông, buổi sáng mình nhìn mấy đám cỏ ngoài trời, ở đuôi lá cỏ đọng những hạt sương. Một lúc mặt trời lên, nhìn lại thấy nó khô hết. Vậy thì nó có rồi mất, chứ có thật đâu.
Đã không thật mà sợ là sợ cái gì? Cái không thật mà sợ, không thật mà quyến luyến, không thật lại muốn giữ hoài, đó là trí tuệ hay ngu si? Ờ, ngu si. Bởi ngu si nên khóc nhiều, phải không? Nếu có trí tuệ thì đâu có gì phải khóc, chuyện còn mất là lẽ dĩ nhiên rồi. Như vậy để thấy rằng không vì lẽ vô thường mà đâm ra kinh hoàng, sợ hãi. Trái lại phải nhìn lẽ thật của nó rồi cười trước những cảnh đó.
Bây giờ quý vị khi nào bệnh nặng, có ai đó nói “thế nào bệnh này cũng chết, không thể qua khỏi”, lúc ấy có gan cười không? Ai có gan cười đưa tay tôi coi. Coi bộ chưa ai dám đưa tay. Như vậy thì chưa có gan. Chừng nào mình tới đó mà vẫn cười, thấy là chuyện đương nhiên không có gì lạ thì có gì phải sợ. Mà sợ có khỏi chết hay không? Cho nên mình cười trong cái thạnh, suy, còn, mất, không thấy có gì quan trọng.
Chúng ta tích cực làm tất cả mà không sợ mất, cũng không mừng khi được. Không sợ chết, cũng không mừng mình sống. Nghĩa là việc gì tới thì tới, vẫn tự nhiên, thanh thản. Được vậy quý vị nghĩ cuộc sống mình có thanh tịnh, an nhàn không? Ngày nay sở dĩ mình sống không an là vì cứ lo: ngày nay hơi bệnh không biết ngày mai có khỏe không, rồi bệnh như vầy không biết chết hay sống, việc làm này thành công hay thất bại đây. Cứ lo sợ hoài làm sao an được! Nên rồi chúng ta khổ, không có đủ thức tỉnh để chống chọi lại những gì ập đến với mình.
Đó là tôi đã nói về vô thường để mình tinh tấn tu hành, nói vô thường để đừng còn sợ hãi. Đến đây nói vô thường để phản quan tự kỷ, tức là soi sáng lại chính mình. Phần này ngài Trần Thái Tông có một đoạn trong bài Kệ Vô Thường Buổi Sớm:
Thân như băng gặp nắng,
Mạng tợ đuốc gió đùa.
Chớ mải mê làm khách,
Quay về sớm chiếu soi.
Ngài thấy thân như băng gặp nắng, băng tuyết mà nắng rọi thì chảy tan phải không? Mạng tức là mạng sống, tợ đuốc gió đùa, ngọn đuốc đi ra ngoài gặp gió mạnh thì sao? Thì nó tắt. Thấy cháy đó chứ gió thổi mạnh là tắt. Vậy thân không bảo đảm lâu dài, mạng không bảo đảm lâu dài thì chớ mải mê làm khách. Chẳng lẽ cứ mải mê làm khách phong trần đi luân hồi trong lục đạo mãi sao? Nếu không muốn luân hồi lục đạo mãi thì phải làm gì? Quay về sớm chiếu soi, quay lại chiếu soi rõ nơi mình, cái gì là thật, cái gì là giả. Thấy tường tận để đừng lầm lẫn. Đó là lời nhắc nhở của ngài Trần Thái Tông.
Có một bài khác nữa cũng nhắc nhở ý này. Trong bài Kệ Vô Thường Buổi Trưa, có đoạn ngài viết:
Phút chốc hoa tươi lần rơi rụng,
Dần dà mạng nấm thạnh rồi suy.
Mọi người sớm tỉnh xoay soi lại,
Tự khổ ruổi rong khắp nẻo đường.
Phút chốc hoa tươi lần rơi rụng, buổi sáng thấy hoa tươi đẹp, nhưng đến chiều đã tàn rụng. Cuộc đời mình cũng vậy, mỏng manh vô thường. Dần dà mạng nấm thạnh rồi suy, những cây nấm nhỏ mọc trong vườn hoặc ngoài đồng, thấy nó đang tươi tốt vậy nhưng hễ ai đi đụng một cái thì tan nát hết, không có gì bền vững. Mạng người cũng giống như tai nấm, vừa tươi tốt đã suy tàn. Hoa sớm tươi chiều rơi rụng, nấm buổi sáng thấy tròn đầy, chiều cũng héo rũ. Thân mạng con người cũng giống như hoa như nấm, có gì đâu bền chắc.
Vậy mình phải làm sao? Mọi người sớm tỉnh xoay soi lại, mình phải sớm thức tỉnh soi lại chính mình coi mình ra sao, mình là cái gì. Tự khổ ruổi rong khắp nẻo đường, tại sao mình cứ tự chuốc khổ để rồi rong ruổi đi mãi trong lục đạo luân hồi? “Khắp nẻo đường” nghĩa là khắp nẻo luân hồi lục đạo. Vậy phải xoay trở lại, đừng quên mình chạy theo ngoài rồi phải luân hồi trong sáu nẻo đường.
Bài kệ này dạy mình nhân biết vô thường mà xoay lại chiếu soi bản thân và nội tâm mình, thấy cho tường tận mới thoát khỏi vòng sanh tử. Nếu mình cứ thả trôi thì sẽ bị lôi kéo mãi.
Một bài kệ nữa nói về sự quý tiếc thời gian cũng của ngài Trần Thái Tông, bài Kệ Vô Thường Buổi Chiều:
Cảnh giục trời gác núi,
Tấc bóng có tiếc chăng?
Chỉ chạy theo ý ngựa,
Tâm khỉ chịu dừng đâu!
Cảnh giục trời gác núi, cảnh đã xế chiều, mặt trời sắp lặn. Tấc bóng có tiếc chăng? Ngày sắp hết, qua một ngày mà sự tu hành không ra gì, mình có tiếc hay không?
Ngài răn: Chỉ chạy theo ý ngựa, tâm khỉ chịu dừng đâu! Chúng ta cả ngày cứ chạy theo tâm viên ý mã. Ý là ý ngựa, tâm là tâm khỉ. Tâm khỉ ý ngựa của quý vị đã chịu dừng chưa? Hay cả ngày hết nghĩ chuyện người này đến nghĩ chuyện người nọ người kia, hết nghĩ ăn lại nghĩ tới ngủ, hết nghĩ bệnh thì nghĩ tới mạnh. Nghĩ đủ thứ hết! Hết nghĩ đi thăm ba má lại nghĩ tới đi thăm anh chị em, rồi nghĩ thăm bà con láng giềng. Ngồi một chỗ mà nghĩ tứ tung, chạy khắp hết. Cho nên người khéo tu thì phải quý tiếc thời gian, chặn đứng tâm viên ý mã đừng cho nó chạy nữa. Đừng theo nó thì mới là người tu.
Thật ra quý vị ngồi đây mà nhớ chuyện thành phố, chuyện ngoài Huế, ngoài Bắc rồi có làm gì được không? Hay là chỉ phí đi một phút, một tiếng đồng hồ vô ích. Vậy mình tu thì cứ yên tĩnh lặng lẽ, giờ nào ngồi thiền trọn vẹn ngồi thiền, giờ nào nấu cơm thì thành tựu nấu cơm, giờ nào lặt rau thì lặt rau sạch sẽ, đủ rồi. Mình làm việc gì chu đáo việc ấy, tốt hoàn toàn, đừng cho sai sót, đó là biết quý tiếc thời giờ.
Nếu ngồi lặt rau mà cứ nhớ chuyện ai kia ở đâu đâu, vậy đúng nghĩa lặt rau chưa? Mà đáng buồn nhất, như nãy giờ hai bên báo cáo, vô bếp là rùm lên. Vậy lúc đó làm sao chăn được con khỉ con vượn của mình, phải không? Nên phải làm sao làm việc trong yên tĩnh lặng lẽ, cần thì nói không cần thì thôi.
Tôi thấy nhiều khi làm riêng mỗi người mỗi nơi còn yên yên một chút, có việc gì tụm lại năm bảy người thì chuyện năm trên năm dưới cũng xổ ra dài dài, phải không? Đó là cái dở, không biết quý tiếc thời giờ. Làm mà vẫn tu chứ không phải làm rồi thả trôi cho con khỉ con vượn chạy tứ tung.
Quý vị xét kỹ coi mình thời giờ có được bao nhiêu? Giờ ngồi thiền ngày đêm chỉ sáu tiếng, còn giờ bên ngoài bao nhiêu tiếng? Vậy mà giờ ở ngoài mình thả trôi thì sáu tiếng ngồi thiền góp lại đâu có kéo lại nổi. Cho nên dù ngồi thiền, dù ở ngoài, lúc nào cũng chăn con vượn con khỉ của mình, đừng để nó chạy tứ tung. Như vậy sự tu mới kết quả.
Đó là tôi nói về vô thường, già bệnh chết. Bây giờ tôi nói về tướng bệnh, cũng là bài kệ Núi Thứ Ba của vua Trần Thái Tông.
Âm dương trái vận vốn xoay vần,
Gieo rắc tai ương đến thế nhân.
Đại để có thân thì có bệnh,
Ví bằng không bệnh cũng không thân.
Linh đơn chớ cậy trường sanh thuật,
Lương dược khó mong được sống bền.
Sớm nguyện xa lìa ma cảnh giới,
Xoay tâm về đạo dưỡng thiên chân.
Người ta sống trên thế gian này sở dĩ có bệnh là tại sao? Vì thời tiết âm dương thay đổi bất thường, khi thì nóng quá, khi thì lạnh quá, âm dương lộn xộn trái nghịch sanh ra bệnh hoạn. Bệnh hoạn thì dễ tiến tu hay thối lùi? Khi bệnh đa số đều nằm rên, chỉ thiểu số là có thể phấn chấn cố gắng.
Vậy khi bệnh chúng ta nên nằm rên hay nên nằm tu? Nằm rên có hết bệnh không? Nằm rên cũng bệnh, thành ra khi bệnh vẫn lo tu. Khi bệnh nằm quán thân này vô thường nay còn mai mất, mới hôm qua đi chơi xân xẩn, ngày nay nằm lỳ đây đi không nổi, đó là vô thường chứ gì!
Rồi xét tới từng bộ phận trong thân, thấy rõ ràng là tướng duyên hợp hư giả, có gì đâu quan trọng. Nhờ quán chiếu rõ thân mà mình quên bệnh, nếu nằm đó rên thì nhớ bệnh hoài trị không hết. Nên người biết tu, khi bệnh lại càng sáng suốt hơn để quán chiếu, để nhìn thấu lẽ thật.
Cái quán thân này bệnh, cái đó có bệnh không? Nếu nó bệnh thì nó quán không nổi, còn nếu quán nổi tức nó không bệnh. Như vậy, ngay nơi thân bệnh, mình khéo lọc ra có cái không bệnh ở bên cạnh. Thấy được vậy mình sẽ mau khỏe mạnh, uống thuốc một vài liều là hết bệnh, còn nằm đó rên hoài bệnh sẽ lâu hết. Nhiều người bệnh mười phần hết tám rồi mà chưa chịu thấy mình hết bệnh, vẫn còn muốn nằm nướng để bà con săn sóc mình, đó là yếu là dở. Có thân là có bệnh, không nghi ngờ gì hết. Nếu muốn không bệnh thì đừng có thân.
Linh đơn chớ cậy trường sinh thuật
Lương được khó mong được sống bền.
Dù có linh đơn hay có thuật trường sinh giỏi, cũng không bao giờ sống mãi được đâu. Như vậy thì:
Sớm nguyện xa lìa ma cảnh giới
Xoay tâm về đạo dưỡng thiên chân.
Như vậy chúng ta phải phát nguyện làm sao vượt qua khỏi cảnh giới ma này. Cảnh giới ma tức cảnh giới làm trở ngại sự tu hành, làm chướng ngại tâm lương thiện của mình, mình phải sớm vượt qua.
Xoay tâm về đạo là hướng tâm mình về đạo. Và luôn luôn nuôi dưỡng thiên chân tức cái chân thật sẵn có nơi mình từ thuở nào. Phải luôn trở về đó mới đúng, mới thoát khỏi khổ đau của kiếp người.
Tôi với cái tuổi hiện nay giống như chiếc xe xuống cấp rồi. Xuống cấp thì có ngày nó sụm đi không nổi. Cho hay trước để quý vị nỗ lực tu hơn, tu gấp. Đừng nghe vậy rồi than: “Buồn quá! Mai mốt lỡ Thầy có gì rồi làm sao đây?” Ngồi đó lo hoài có tới đâu không? Bây giờ nghe cảnh cáo “Thầy yếu rồi, suy rồi, tuổi đã tới lúc muốn từ giã cõi đời rồi” thì mỗi người phải nỗ lực tu nhiều hơn, chứng minh cho Thầy thấy rằng mình là một đệ tử tu hành xứng đáng, để trước khi theo Phật, Thầy yên lòng. Đó là người khôn ngoan. Còn nếu ngồi đó buồn khóc thì không khôn ngoan chút nào.
Vậy quý vị đã ăn tất niên chưa? (Tất cả đều cười) Quên, thôi đem sữa ra cho bà con uống! Nói uống mà chưa uống gì hết, đi về cũng hơi oan. Thôi uống rồi hãy về! Quý vị ngồi chơi một chút để uống ly sữa rồi về nghỉ cho khỏe.
Đêm nay mười hai giờ chư tăng sẽ đón giao thừa. Khi đón giao thừa có ba hồi chuông trống. Những vị nào ở gần quanh đây khi nghe ba hồi chuông trống thì đó là giờ đón giao thừa. Ở chùa đón giao thừa cũng là lễ vía đức Phật Di-lặc, vía đức Phật Di-lặc là vía đức Phật tương lai, chúng ta nhớ tới đêm giao thừa là nhớ tới Phật tương lai. Chẳng những đức Phật Di-lặc là Phật tương lai mà tất cả quý vị có phải là Phật tương lai không? Đó cũng là mừng Phật tương lai của mình!
Vậy chư tăng trong thời gian từ đây cho đến giờ đón giao thừa còn ba tiếng. Nếu uống sữa rồi trở vào nội viện là còn chừng hai tiếng rưỡi, hai tiếng rưỡi đó làm gì? Hồi chiều ông thủ bổn đề nghị cho coi phim, vậy tôi cho coi cuộn phim tôi giảng ở chùa Ấn Quang về Thiền căn bản. Coi phim đó chứ không cho coi phim gì khác (cười). Coi để học chứ không phải coi chơi. Như vậy có lợi ích cho quý vị hơn. Quý vị cứ từ từ uống. Đúng nghĩa tất niên thì cái gì cũng xong hết, phải uống cạn mới được.
Sẵn đây tôi báo quý vị biết trước, ngày mai đúng tám giờ là buổi chư tăng, chư ni và Phật tử chúc mừng năm mới cho tôi. Đồng thời tôi cũng chúc mừng năm mới cho tăng ni và Phật tử. Quý vị chúc tôi chắc ngắn, tôi chúc quý vị thì dài dòng một chút. Bên hàng Phật tử Đà Lạt đây không biết có chúc gì không, nếu có thì mai mời đại diện ra nói.
Thôi quý vị uống sữa cho cạn ly rồi hãy nghỉ. Quý vị sẽ chúc năm mới, còn giờ tôi chúc quý vị năm cũ trước nghe. Tôi chúc tất cả quý vị từ tăng ni cho tới Phật tử, qua một năm cũ, tất cả phiền não đều rơi rụng không còn mảy may.