(Giảng tại Hội liên hiệp Khoa học kỹ thuật UIA ngày 25 – 27-11-1997)
Hôm nay chúng tôi đủ duyên được Hội khoa học kỹ thuật mời đến nói chuyện Phật pháp, trong ba buổi này chúng tôi sẽ tuần tự nói về các đề tài:
– Đức Phật là con người, vì con người, giải quyết những vấn đề của con người.
– Thiền của đạo Phật.
– Thiền học Việt Nam.
Thông thường khi muốn nói đến ngọn, trước phải phăn từ gốc. Một khi đã nắm vững gốc rồi thì ngọn ngành không còn gì phải ngờ vực. Phật giáo Việt Nam là ngọn, gốc của đạo Phật là từ đức Phật Thích-ca ở bên Ấn Độ. Do đó hôm nay tôi nói thẳng tận gốc, để quý vị thấy được phần nào tinh thần của đức Phật và nhận định rõ ràng về đạo Phật. Đây chỉ là cái nhìn riêng của chúng tôi, nếu đem so sánh với những sách vở của các học giả mà quý vị đã đọc thì có lẽ cũng khác đôi nét. Trước tiên tôi nói về đề tài thứ nhất: Đức Phật là con người, vì con người, giải quyết những vấn đề của con người. Phần này tôi tạm chia ra ba mục:
1- Đức Phật là con người
Tại sao tôi nói đức Phật là con người? Bởi trong các tôn giáo khác, vị giáo chủ luôn luôn là đấng đầy quyền năng và rất huyền bí, thế thường không bao giờ biết. Nhưng riêng tôi, không theo cái nhìn của đa số mà tôi nhìn Phật rất đơn giản. Đức Phật là con người, sự ra đời và cuộc sống của ngài vô cùng hòa nhịp với cuộc sống của con người. Tại sao? Bởi đức Phật sanh ở thế gian thì tự nhiên ngài phải có cuộc đời và hoàn cảnh như một con người ở thế gian. Nếu kỳ đặc khác hẳn mọi người, thì đạo giác ngộ của ngài chắc không bao giờ chúng ta dám nghĩ tới, vì quá xa lạ, quá cách biệt với mình. Điều này tôi sẽ tuần tự giải thích để quý vị thấy rõ.
Chúng ta lâu nay cứ nhìn đạo Phật là một tôn giáo như những tôn giáo khác, nhưng thực tế đạo Phật không đặt mình là một tôn giáo. Tại sao? Vì nếu là tôn giáo thì luôn luôn phải tôn sùng vị giáo chủ. Giáo chủ là đấng đầy đủ quyền năng để trừng phạt những kẻ tội lỗi, ban thưởng những người có công đức. Nhưng đức Phật không phải vậy. Phật từng tuyên bố rằng mình chỉ là bậc thầy dẫn đường, hay là người chỉ đường cho mọi người cùng đi, vì thế trong kinh điển thường gọi ngài là bậc Đạo sư. Phật chỉ là vị thầy dẫn đường thì đâu đủ quyền năng để ban phước giáng họa, mà ngài chỉ là người đi trước tìm ra những điều quý báu hay tốt, rồi đem chỉ dạy lại cho người sau. Người sau nhận được những điều Phật dạy, thấy rất đáng kính phục nên ứng dụng tu hành đạt đến kết quả tốt đẹp. Quả tốt đẹp ấy là do sự tu hành nỗ lực của mỗi người, chứ hoàn toàn không phải do lòng tin tưởng mù quáng, hay vì tha thiết cầu xin mà Phật ban cho những điều mình muốn. Bởi lẽ đó, đạo Phật không mang tính tôn giáo như người Tây phương nhìn. Nhưng vì triết lý của đạo Phật dễ hòa nhập và rất đa dạng, cho nên mới nhìn vào tưởng là một tôn giáo.
Đạo Phật không giống những tôn giáo khác, mà chỉ là một phương pháp, một con đường đưa người đến chỗ giác ngộ. Phương pháp đó, con đường đó chính đức Phật là người đã đi qua. Ngài đi trước và đạt được điều mình muốn tìm, rồi chỉ lại cho người sau cùng thấy biết để đi.
Chúng ta tu Phật là đi theo con đường giác ngộ mà đức Phật đã đi, cho nên những người cư sĩ tại gia được gọi là Phật tử. Phật là giác, tử là con. Phật tử là chỉ cho con của bậc giác ngộ, hoặc một con người đang tiến trên đường giác ngộ. Ý nghĩa này rất rõ ràng. Như vậy, người tu theo đạo Phật là đang từng bước từng bước đi trên con đường giác ngộ, chứ không phải chỉ tin tưởng vào một đấng cứu rỗi chúng ta. Cho nên càng tu theo đạo Phật là càng mở sáng con mắt trí tuệ, thấy sự vật đúng như lẽ thật của nó, mà từ chuyên môn trong đạo Phật hay dùng là “như thị”. Nghĩa là thấy đúng như thật, các pháp thế nào chúng ta thấy đúng thế ấy, không phải thấy do tưởng tượng hay qua suy luận của mình.
Người tu theo đạo Phật là những bộ hành đang từng bước đi trên con đường giác ngộ, vì thế không nên tin vào một điều gì không hợp lý, không có cơ bản lý luận. Tinh thần của đạo Phật là bắt người tu phải vận dụng trí tuệ, chứ không buộc phải tin mù quáng. Nghĩa là chúng ta phải tin bằng lý trí, nhận xét tinh tường rồi mới tin. Tin sau khi đã hiểu, chứ không phải tin trước khi hiểu. Nhưng quý vị thấy trên thực tế hiện nay thì sao? Phật tử Việt Nam dường như đa số không được như vậy, đó là khuyết điểm lớn trong sự truyền bá của chúng ta. Tu Phật là mở sáng con mắt trí tuệ, vì thế cần phải luôn luôn quán chiếu để thấy rõ lẽ thật mà Phật đã trình bày, đã chỉ dạy qua các kinh điển còn để lại. Nhờ đó chúng ta mới thấy rõ được con đường đang đi, biết rõ phương hướng để mình tiến tới.
Đạo Phật lấy giác ngộ làm căn bản. Trong từ ngữ của đạo Phật, chữ đạo là con đường, là phương pháp; chữ Phật là giác ngộ. Thế nên nói tới đạo Phật là nói tới con đường đưa đến giác ngộ, nếu không giác ngộ thì không có đạo Phật. Xác định của chúng tôi về người tu theo đạo Phật là như thế, nếu lấy đây làm thước đo chắc rằng Phật tử chúng ta kém thiếu nhiều lắm.
Tại sao ở trước chúng tôi nói đức Phật là một con người? Đây là điều rất kỳ đặc trong đạo Phật, bởi không phải tôn giáo nào cũng đều thừa nhận đấng giáo chủ của mình là một con người. Đức Phật thì khác, ngài luôn luôn tự nhận mình là một con người do cha mẹ sanh ra, như bao nhiêu người bình thường khác. Ngài được sanh trong dòng họ vương giả, cha là vua Tịnh Phạn, mẹ là hoàng hậu Ma-da.
Đã nói ngài là một con người bình thường, vậy tại sao lúc sanh lại có những hiện tượng lạ, như ra từ hông phải, rồi bước đi bảy bước v.v..? Điều này đối với riêng tôi, không phủ nhận cũng không dám xác nhận, bởi vì lúc đó tôi không có mặt. Bây giờ nếu tôi nói có hay không, cũng chỉ là tưởng tượng theo cái nghĩ của riêng mình mà thôi. Dựa trên lịch sử mà chúng tôi được biết, ngài sanh ra rồi lớn lên có vợ có con cũng sống đời phàm tục như chúng ta; nhưng có một điều ngài khác hẳn chúng ta rất nhiều, đó là sớm thức tỉnh vượt khỏi trần lao và đạt đến giác ngộ giải thoát.
Như trước tôi đã nói đức Phật là một con người, lời này không phải ức thuyết. Đây tôi xin dẫn một đoạn trong kinh Lama, số 204 Trung A-hàm, Phật kể: “Ta vào thời thiếu niên trong trắng, mái tóc xanh mượt, cho đến thời tráng niên năm hai mươi chín tuổi, bấy giờ đời sống cực kỳ hoan lạc, thích trang sức du hành.” Qua lời kể của đức Phật, chúng ta nhìn lại hoàn cảnh của ngài thời bấy giờ, chẳng những có vợ con mà khoảng thời gian còn làm hoàng tử ở tại hoàng cung, ngài cũng hưởng dục lạc như tất cả những ông hoàng khác. Từ còn thiếu niên da trắng tóc xanh đẹp đẽ, cho tới thời tráng niên sống rất hoan lạc, thích trang sức và du hành dạo chơi. Ngài có khác lạ gì hơn mình, vậy thì đối những chuyện huyền bí lúc mới sanh ra, làm sao chúng ta có thể chấp nhận được. Đó là một điều mà tôi nêu lên, để tất cả chúng ta cùng nghiệm lại ý nghĩa sâu xa trong đó.
Từ những vấn đề trên cho thấy, đức Phật là một con người rất gần gũi với chúng ta, cho nên mình mới chấp nhận ngài là đạo sư, đường ngài đi chúng ta đi được, đó là chuyện thực tế. Bởi vì Phật là người dẫn đường, mà con đường của ngài cao siêu tuyệt vời quá, làm sao chúng ta theo được. Về thời gian ngài đi tu, các kinh A-hàm thuộc hệ Nguyên thủy thì nói vào năm hai mươi chín tuổi, nhưng theo kinh điển bên hệ Bắc tông lại nói là năm mười chín tuổi. Điều này tôi chỉ lược qua đại khái như vậy chứ chưa dám khẳng định, vì đứng về lịch sử thì bên nào cũng có cái lẽ của bên ấy. Đó là tôi nói về ý nghĩa đức Phật là con người.
2- Đức Phật vì con người
Thái tử Tất-đạt-đa muốn phăn tìm ra manh mối của kiếp người, đó chính là vì con người chứ không phải chỉ vì lợi ích riêng cho bản thân mình mà thôi. Thế nên sau khi thành Phật, ngài trở thành con người chung của cả nhân loại.
Theo kinh A-hàm ghi lại, vào năm hai mươi chín tuổi ngài được vua cha cho dạo chơi bốn cửa thành. Khi đi qua mỗi cửa thành gặp người già, người bệnh và người chết, ngài liền thức tỉnh. Trong kinh còn ghi lại lời đức Phật nói: “Khi ta thấy người già thì ta biết rằng, rồi đây ta cũng phải già. Thấy người bệnh, ta biết rồi đây ta cũng phải bệnh. Thấy người chết, ta biết rồi đây ta cũng phải chết.” Do đó ngài không dám xem thường người già, không cười người bệnh, thấy người chết rất kinh hoàng. Chứng kiến cảnh già bệnh chết đó ngài bất an, băn khoăn khắc khoải trong lòng. Ngài nghĩ, như bao người khác những hình ảnh này rồi cũng sẽ đến với ta. Tại sao con người có mặt ở đây, để rồi đi đến già bệnh chết? Lớp người trước như vậy, lớp kế như vậy, lớp sau cũng sẽ như vậy, mãi mãi đều như vậy. Thế thì giá trị của đời người ở đâu?
Thắc mắc về manh mối sanh tử của con người, không dành riêng ai, mà từ giới trí thức cho đến giới bình dân, trong lòng mỗi người đều tự băn khoăn, không biết trước khi có mặt ở đây ta là cái gì, lúc nhắm mắt ra đi rồi ta còn hay mất, nếu còn thì ta đi đâu? Sự có mặt của mình trong mấy mươi năm, đối với thời gian của thế giới này là quá ngắn, nhưng trong thời gian mấy mươi năm đó từ đâu mình đến đây, sau khi bại hoại thân này rồi sẽ đi đâu? Những nghi vấn đó không chỉ riêng ngài, mà là thắc mắc chung của cả nhân loại.
Tất cả những con người có nhận thức hiểu biết đều tự đặt câu hỏi trong lòng như vậy, song vì chúng ta yếu đuối, nhất là còn phải bận lo cho cuộc sống được ấm no, lo cho gia đình, đất nước xã hội v.v… nên tuy có thắc mắc nhưng rồi lại lờ qua, không chú tâm vào việc quan trọng ấy nữa. Còn đức Phật cũng là một con người nhưng trí tuệ mạnh mẽ hơn hẳn chúng ta, cho nên dù ở trong hoàn cảnh sang trọng, đầy dục lạc cám dỗ mà không bằng lòng. Những thắc mắc về sanh tử của kiếp người luôn trăn trở bất an, vì thế một khi chưa giải đáp được nghi vấn thì ngài không cho phép mình yên lòng thụ hưởng. Quý vị thấy, tất cả chúng ta đều đã từng gặp qua người già, người bệnh, người chết. Những hình ảnh này không ai chẳng thấy nhưng chúng ta có thắc mắc không, hay là chúng ta chỉ thấy họ già còn mình chưa già, thấy bệnh đó là của người khác chứ không phải bệnh của mình, thấy người kia chết còn riêng mình thì không chết? Thấy rồi chỉ nao nao trong lòng một chút mà thôi, chứ không nhớ rằng rồi cũng sẽ tới mình. Ngược lại, đức Phật đi dạo ba cửa thành thấy cảnh già bệnh chết, chỉ bắt gặp qua một lần mà từ đó bất an luôn. Nếu một kiếp người chỉ sống loanh quanh để chờ già bệnh chết thì cuộc sống có giá trị gì, đời người sau khi nhắm mắt mù mịt không biết đường đi ra sao, rồi sẽ về đâu, mình còn hay không còn..? Những việc này là việc chung của cả nhân loại, vì thế ngài muốn phăn tìm cho ra manh mối của con người chứ không phải chỉ riêng mình, cho nên tôi nói đức Phật vì con người là như thế.
Đến cửa thành thứ tư thấy một Sa-môn dáng vẻ thảnh thơi, ngài quyết chí xuất gia để có thời giờ suy gẫm phăn tìm manh mối con người. Từ đó Thái tử luôn buồn bã bất an, nhà vua, hoàng hậu và công chúa Da-du- đà-la đều lo lắng không biết chuyện gì đã xảy ra. Cuối cùng vào một đêm nọ, ngài trốn khỏi hoàng cung vào rừng tu tập, với quyết tâm phải giải quyết những vấn đề mình đang ôm ấp nặng trĩu trong lòng. Trước hết ngài tìm đến những tiên nhân nổi danh thời đó để học đạo, nhưng các vị này không giải quyết thấu đáo được nghi vấn nên ngài bỏ sang tu khổ hạnh. Theo như quan niệm của Ấn Độ bấy giờ, người ta chú trọng khổ hạnh vì cho rằng chỉ có lối tu này mới giải quyết được mọi vấn đề.
Cuộc đời của đức Phật rất bình thường như một con người. Trong suốt mười một năm học đạo rồi tu khổ hạnh, nghe bất cứ ai tài giỏi có khả năng được mọi người tôn xưng là ngài tìm tới để học. Học mà không thỏa mãn, không giải đáp được những việc mình đang ôm ấp thì từ giã ra đi. Nếu quả ngài là một bậc thánh đã giác ngộ ra đời để cứu giúp con người, vậy thì cần gì phải tìm học đạo với các tiên nhân, cần gì phải tu khổ hạnh cho khổ nhọc thân mình. Điều này cho thấy tuy cũng là một con người như bao người, nhưng ngài học đạo có lập trường rõ ràng chứ không phải ai dạy gì nghe nấy. Chúng ta bây giờ học đạo dễ dãi quá, ai dạy cũng học, dạy sao cũng được, đôi khi thấy không ổn vẫn không dám bỏ, cứ chấp nhận như vậy.
Sau một thời gian khổ hạnh, nhận thấy lối tu này chỉ làm cho con người kiệt quệ chứ không đem lại sự giác ngộ, với tâm niệm dứt khoát ngài nhất định từ bỏ khổ hạnh, trở lại cuộc sống bình thường của người tu, sống đạm bạc nhờ vào khất thực, ngày ăn một bữa và thiền định. Ngài đến dưới cội cây tất-bát-la, ngày nay chúng ta gọi là cây Bồ-đề, thấy nơi đây mát mẻ yên tĩnh bèn lấy cỏ trải làm tòa ngồi. Ngài phát đại thệ nguyện: “Nếu không thành đạo thì dù cho xương tan thịt nát cũng không rời khỏi gốc cây này.” Nói cách khác là ngài tu quyết tử, hoặc sống mà thành đạo còn không thì chết. Với ý chí mãnh liệt như vậy, ngài vượt qua bao nhiêu thứ cám dỗ và ma chướng. Đến đêm thứ bốn mươi chín, hoàn toàn thấu suốt được ba vấn đề trọng đại của con người.
3- Giải quyết vấn đề của con người
Thấu suốt vấn đề thứ nhất là biết được mình từ đâu đến, ngài chứng Túc mạng minh. Túc mạng là đời sống thuở trước, minh là thấu biết sáng suốt. Quý vị đọc tạng kinh chữ Hán hoặc Pāli sẽ thấy kinh Bản sanh, Bản sự… Trong những bộ kinh đó, Phật kể lại nhiều đời trước của ngài đã từng ở đâu, làm việc gì, tên họ, con ai v.v… rất rõ ràng như là chuyện mới xảy ra ngày hôm qua.
Thấu suốt vấn đề thứ hai, biết rõ sau khi chết mình đi đâu, ngài chứng Thiên nhãn minh. Thiên nhãn là mắt trời, tức là ngài có được con mắt nhìn thấu suốt tất cả. Từ rất xa rất nhỏ, hoặc rất lớn rất gần… đều thấy tường tận rõ ràng không có gì che lấp được. Trong kinh kể rằng sau khi chứng Thiên nhãn minh, ngài thấy chúng sanh chết rồi theo nghiệp thọ sanh cõi lành, cõi dữ… giống như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường, thấy kẻ qua người lại một cách tường tận. Vì vậy ngài nói, tất cả chúng sanh do nghiệp mà luân hồi trong lục đạo. Đức Phật nói những lời này là do cái thấy tường tận của ngài chứ không phải qua suy luận. Phật biết rõ con người chết rồi không phải là mất hết, mà tùy theo nghiệp dẫn đi trong luân hồi sanh tử. Nghiệp lành thì đi trong ba đường: người, a-tu-la và trời; nghiệp dữ thì đi vào ba đường: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh; gọi là lục đạo luân hồi. Như vậy, con người sau khi chết tùy theo duyên nghiệp mà lẩn quẩn trong lục đạo luân hồi, chứ không phải chỉ đi lên hay đi xuống mà thôi.
Đến khi sao mai mọc, ngài thấy rõ mầm sanh tử từ đâu mà ra, do nhân nào phải trở lại trần gian hay sanh trong lục đạo, rồi tu nhân gì để không còn trầm luân trong sanh tử nữa, ngài chứng Lậu tận minh. Thấy thấu suốt tường tận được những gì mình đang ôm ấp thắc mắc, ngay đó mầm sanh tử dứt sạch được giải thoát, hay còn gọi là thoát ly sanh tử, ngài tuyên bố giác ngộ thành Phật. Như vậy, tất cả cái thấy biết của đức Phật đều là thấy biết trong giới hạn của con người.
Sau khi thành Phật, với đầy đủ sở nguyện cứu độ chúng sanh, ngài liền nghĩ tới những người bạn đồng tu lúc trước, bèn tới vườn Lộc Dã gặp năm anh em Kiều-trần-như, thuyết pháp cho họ nghe về Tứ diệu đế.
Đó là bốn lẽ thật nhiệm mầu, nói rõ về nhân quả của luân hồi sanh tử và nhân quả giải thoát sanh tử. Những điều này do đức Phật thấy mà nói ra, chứ không phải nói qua suy luận. Đây là bài pháp đầu tiên sau khi ngài giác ngộ thành Phật.
Trong Tứ đế thì Tập đế là nguyên nhân đưa đến quả khổ. Tập nghĩa là nhóm họp, nhiều nguyên nhân nhóm họp lại tạo thành sức mạnh đưa chúng ta đi luân hồi sanh tử. Những nguyên nhân phiền não đó nói gọn là tham, sân, si; nói rộng thì thêm mạn, nghi, ác kiến… Vấn đề này trong kinh nói rất kỹ, ở đây tôi chỉ nói đơn giản trong ba thứ tham sân si, mà gần nhất là tham.
Chúng ta có người nào không sợ chết không? Có ai không sợ mất của không? Không. Tại sao? Tại chúng ta tham sống nên sợ chết, vì tham của nên sợ mất của… Do tham sống cho nên mất thân này liền tìm thân khác, không thể chịu nổi khi không có thân. Từ sức mạnh của nghiệp đưa đẩy mà đến thân khác, nếu nghiệp xấu thì gặp thân xấu, nghiệp tốt tìm được thân tốt. Nên kinh nói, nghiệp lành được hưởng phước lành, nghiệp dữ phải đọa cảnh dữ.
Chỉ một cái tham làm nhân đã đủ để chúng ta tiếp tục thân kế, vậy nếu tham thân đời này thì qua đời sau có tiếp tục tham nữa không? Chúng ta thấy cuộc sống của những con vật như chó, mèo… là khổ, nhưng lúc người ta tìm đủ cách này cách nọ giết nó, nó để yên cho giết hay là chống cự kêu la? Đã mang thân rồi, dù tốt hay xấu gì cũng thương quý thân của mình hết, không loài nào sẵn sàng chịu chết cả. Bởi thương thân nên không dám bỏ, nếu gặp hoàn cảnh nào đó phải bỏ thì liền tìm cái khác, vì vậy mà tiếp tục luân hồi.
Tập đế làm nhân sanh ra quả khổ, gọi là Khổ đế. Có nhân thì phải có quả, không nghi ngờ. Chúng ta đã tạo nhân nào thì phải theo nhân đó đi tới kết quả của nó. Như vậy, Tập đế chính là nhân của sanh tử, Khổ đế là quả của sanh tử. Trong kinh, đức Phật nói: Nước mắt chúng sanh nhiều hơn nước biển cả. Đa số người thấy vậy, nghĩ sao đạo Phật nói toàn là khổ, nghe rất bi quan, buồn quá. Nhưng quý vị thấy các vị tu sĩ có buồn không? Đạo Phật nhìn cuộc đời là khổ lẽ ra mấy thầy tu phải buồn dàu dàu, mà sao các thầy lại không buồn?
Phật nói khổ đế là để mình vươn lên thoát khổ, chứ đâu phải để mình chấp nhận buồn khổ. Khổ là do trước mình đã tạo nhân khổ thì quả khổ phải đến, nếu bây giờ tạo nhân giải thoát thì quả giải thoát sẽ đến. Đó là tinh thần của đạo Phật. Còn nếu nói khổ rồi chúng ta cứ ỳ ra để chịu khổ, là không hiểu đạo Phật, cũng không biết tu theo đạo Phật. Thế nên với người biết tu tuy biết khổ nhưng họ sống rất vui, vì biết khổ để vươn lên thoát khổ thì có gì đâu mà buồn. Có nhiều người không hiểu, nghĩ đạo Phật nói khổ là thừa nhận cuộc đời đau khổ rồi cứ thế mà bi quan, đây là sự hiểu lầm rất lớn. Nhiều người lại nghĩ rằng, đạo Phật nói khổ là khổ ở chỗ nào, có thân này được thọ hưởng đủ thứ tốt đẹp, giàu sang… cũng vui mà! Rồi họ hãnh diện và thích thú trong hoàn cảnh của mình. Nhưng thưa quý vị, chúng ta danh vọng giàu sang tới đâu thì có qua khỏi già bệnh chết không, có khổ không? Không qua khỏi cũng không thoát khổ. Dù cho giàu đến mấy, của cải nhiều bao nhiêu, nhưng tới lúc bệnh đau vẫn khổ như thường. Đó là định lý không chối cãi được. Đây là tôi mới nói khổ của sanh lão bệnh tử thôi, nếu nói đủ thì phải kể thêm bốn thứ khổ nữa gồm: ái biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc, ngũ ấm xí thạnh khổ; gọi chung là Bát khổ.
Quý vị có bị khổ của ái biệt ly không? Những người mình thương mà phải xa cách không được ở gần, hoặc sanh ly hoặc tử biệt là một điều đau khổ. Dù ở hạng nào, vua chúa hay dân thường cũng phải có cái khổ này. Ngược lại, kẻ mình không ưa thích mà họ cứ nhan nhản trước mặt hoài, gọi là cái khổ của oán tắng hội. Đến như chúng ta khổ vì những điều mình muốn mà không được, đây là cầu bất đắc khổ. Như trong đời sống hiện tại, chúng ta muốn trăm việc nhưng kết quả được chừng bao nhiêu? Nhiều lắm là ba bốn mươi điều. Phần không đạt nhiều hơn so với phần đạt được. Đạt được là vui, không đạt được thì khổ. Như vậy, vui ít mà khổ nhiều. Cho tới cái khổ của thân năm ấm chúng ta, thay đổi chống trái nhau luôn. Tóm lại, tất cả những thứ chúng ta mong cầu đa số đều bất như ý, nên rốt cuộc rồi cũng chỉ là khổ. Phật chỉ thẳng lẽ khổ không có nghĩa là bắt chúng ta cam chịu, mà phải giải quyết bằng cách tiêu hóa những cái khổ đó đi để được an vui giải thoát. Nói khổ nhằm hướng đến cái vui, đó là tinh thần của đạo Phật.
Đức Phật nói nhân quả qua hai vế: Tập đế là nhân, Khổ đế là quả; đó là nhân quả của khổ. Đạo đế là nhân, Diệt đế là quả; đó là nhân quả của giải thoát. Diệt đế là Niết-bàn. Nghĩa là khi diệt sạch các nhân sanh tử thì đạt được quả Niết-bàn, gọi là giải thoát. Như vậy, không phải đạo Phật chỉ nói nhân quả của khổ, mà còn nói nhân quả của giải thoát nữa. Do đó người tu là phải tiêu diệt nhân đau khổ, đạt đến giải thoát mới được. Nếu tăng ni hay Phật tử đã tu mà tham sân si còn nguyên thì người đó có biết tu chưa? Chắc chắn chưa biết tu. Tại sao? Bởi vì nhân đau khổ chưa diệt tức vẫn còn đau khổ, sao gọi là tu!
Nhiều khi tôi hay nói thẳng, quý Phật tử dù có lòng thành tín đem năm bảy mâm hoa quả đến cúng dường Phật, nhưng nếu chưa bỏ tham sân si thì tin chắc rằng quý vị cũng không hết khổ. Cúng dường Phật mà ra đường ai nói trái ý nổi giận đùng đùng liền chửi mắng, vậy việc cúng dường đó đâu có làm cho mình hết khổ. Chỉ khi nào diệt được tham sân si mới là hết khổ. Phật tử chúng ta bây giờ có bệnh cứ cầu xin Phật, mà không chịu tu dẹp bỏ tham sân si. Gặp chuyện buồn giận, gia đình rối rắm… đều đến cầu Phật, xin cho gia đình con được bình an, mà không chịu phăn tìm nguyên nhân, buồn giận rối rắm là do tham lam, sân hận, si mê mà ra. Nếu rõ nguyên nhân thì giải quyết được vấn đề, tức là dứt khổ. Đạo Phật bắt chúng ta phải suy tìm cho ra nguyên nhân của khổ, chứ không phải chỉ ban cho mình niềm tin. Bởi vì đa phần chúng ta mang tính lười nhác, tu thì muốn mau thành mà bản thân mình lại không chịu tu. Cho nên nếu có ai bảo chỉ cần niệm danh hiệu tôi sẽ hết khổ, nghe khỏe quá lập tức chạy theo liền. Còn bảo tu phải bỏ hết tham lam, nóng giận, si mê thì ngán quá không muốn tu. Vì vậy mà chúng ta bị nhiều thứ đánh lừa, để rồi chịu khổ. Tu theo Phật là tu bằng trí tuệ. Giống như chúng ta đi học, được lên một lớp là mở sáng trí tuệ một phần. Trí tuệ ấy không do bùa chú hay niệm danh hiệu một vị nào có thể mở được, mà tự mình phải nỗ lực cố gắng học hành. Việc tu cũng vậy, không ai làm cho mình hết tham sân si, chỉ có mình là người tiêu hóa những thứ phiền não đó thôi. Chuyển được tham lam, sân hận, si mê rồi thì trở thành hiền thánh; để y nguyên như cũ là phàm tục. Phàm tục thì mình đau khổ, không ai thay thế cho mình. Đạo Phật dạy cụ thể thực tế chứ không phải nói chuyện mơ màng hoặc tưởng tượng đâu đâu.
Như vậy, khi chứng được Lậu tận minh rồi ngài thấy rõ hai vấn đề, đi trong luân hồi sanh tử là từ nhân đưa đến quả, mà muốn giải thoát ra khỏi sanh tử cũng từ nhân đưa đến quả. Đau khổ hay giải thoát không phải ngẫu nhiên cũng không phải bỗng dưng có. Vì thế chúng ta khéo tu, ứng dụng được thì kết quả không nghi ngờ. Quý vị thấy rõ cuộc đời đức Phật, ngài đi tu là vì quyết tìm cho ra thân phận của con người, mục đích ấy không nằm trong xứ sở địa phương nào mà đó là của cả nhân loại.
Trong kinh kể lại, đức Phật tuy có thần thông mà ngài không dùng thần thông. Khi chứng ngộ thành Phật, bấy giờ ngài có đầy đủ Tam minh, Lục thông, Tứ vô sở úy, Thập bát bất cộng v.v… Lục thông là: Thiên nhãn thông, Thiên nhĩ thông, Tha tâm thông, Thần túc thông, Túc mạng thông và Lậu tận thông. Tất cả những thần thông biến hóa mầu nhiệm ngài đều chứng hết, nhưng đến khi đi giáo hóa thì Phật không sử dụng thần thông nào. Không những thế, Phật còn cấm các Tỳ-kheo chứng quả A-la-hán không được tự ý sử dụng thần thông. Nếu muốn sử dụng thần thông thì phải xin phép, chừng nào thấy cần Phật mới cho sử dụng. Tự ý dùng thần thông là phạm luật, phạm giới. Việc này trong tạng Luật còn ghi chép đủ. Theo tinh thần của đạo Phật, thần thông không phải là không có, nhưng thần thông không phải là cái nhân để cứu rỗi con người thoát đau khổ, ra khỏi trầm luân. Trên thế gian cũng có nhiều vị tu đắc thần thông, nhưng có cứu được ai không? Rốt cuộc con người vẫn đau khổ, xứ sở cũng khổ đau như thường. Chỉ có người biết tu, biết chuyển nghiệp thì mới hết khổ đau.
Một hôm đức Phật ngồi dưới gốc cây trong rừng, ngài nắm một nắm lá cây hỏi các vị Tỳ-kheo: “Lá cây trong nắm tay ta nhiều hay lá cây trong rừng nhiều?” Các Tỳ-kheo thưa: “Lá cây trong tay của Phật rất ít so với lá cây trong rừng.” Phật bảo: “Đúng thế. Này các Tỳ-kheo, khi ta thành Đẳng chánh giác, những pháp do ta tự thấy đem giảng nói cho người, ít như lá cây trong tay. Vì sao? Vì pháp ấy có lợi ích về nghĩa, về pháp, về phạm hạnh và minh tuệ, Chánh giác thẳng đến Niết-bàn.” Lời đức Phật nói chứng tỏ những điều ngài thấy biết nhiều như lá cây trong rừng, còn điều ngài nói ra cho mọi người thì rất ít, chỉ như lá cây trong nắm tay mà thôi. Sở dĩ như thế là vì có những điều không lợi ích cho mình nên ngài không nói, còn những điều gì nói ra hữu ích cần thiết cho kiếp sống của con người thì ngài mới nói.
Kinh Tiễn Dụ trong Trung A-hàm có kể câu chuyện, một Tỳ-kheo hỏi Phật: “Bạch Thế Tôn! Thế Tôn giải thích cho con hiểu thế giới này là hữu biên hay vô biên, thế giới này là hữu cùng hay vô cùng v.v…” Phật bảo: “Ta không cần giải thích những điều đó cho ông.” Tỳ-kheo thưa: “Nếu Ngài không giải thích cho con thì con trả y lại, không tu nữa.” Phật hỏi lại: “Khi ngươi đi tu, ngươi có ước hẹn với ta rằng con đi tu, ngài phải giải thích những vấn đề đó cho con nghe không?” Tỳ-kheo thưa: “Con không có ước hẹn như vậy.” Phật quở: “Ngươi thật là ngu si. Những điều đó ta chưa từng ước hẹn, tại sao ông lại nói rằng nếu không giải thích thì ông cởi y trả lại?”
Tôi kể câu chuyện này để quý vị hiểu, đức Phật chỉ nói những vấn đề cần thiết mà chúng ta có thể biết, có thể làm được, chứ Phật không nói những cái không cần thiết, cho dù biết ngài cũng không nói. Như có một lần nọ, ngài A-nan cùng đức Phật đi qua một cánh đồng, trời nắng nóng khát nước ngài A-nan bèn đi tới một ao nước nhỏ, lấy tay vốc nước uống. Do lúc đó ngài A-nan đã chứng Thiên nhãn thông, nhìn vào vốc nước thấy vô số vi trùng nên không dám uống. Ngài bỏ vốc nước xuống, đến bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Con khát nước cháy cổ, đến ao vốc nước lên định uống nhưng thấy vi trùng nhiều quá, con uống không được.” Phật liền bảo: “Sao ông không dùng nhục nhãn mà nhìn?”
Dùng nhục nhãn như chúng ta đâu thấy vi trùng mới uống được, còn ngài A-nan dùng thiên nhãn thấy vô số vi trùng nên uống không được. Đức Phật chứng được Thiên nhãn, những vi trùng tý ty con mắt thường không thể thấy mà ngài thấy hết, nên Phật mới nói trong nước có vô số vi trùng. Rồi nhìn xa hơn, đức Phật thấy vô số thế giới nhiều như cát sông Hằng, không thể tính kể, ngài nói “hằng hà sa số thế giới”. Ngày xưa đối với những việc này chúng ta không thể nào tin được, mà Phật đã thấy như vậy. Những việc như thế nói ra ai tin, nên Phật không nói. Chúng ta xem trong kinh điển, thỉnh thoảng những điều này chỉ lóe qua một vài phần, khi nào cần thiết thì Phật mới nói đến.
Đức Phật không đem cái thấy đó ra để giải thích, điều thiết yếu của ngài là giải thích làm sao cho con người, ngay nơi cuộc sống này mà được bớt khổ và tạo duyên tốt lành để kiếp sống tới được tốt đẹp. Cao hơn nữa là biết nhân nào làm mình trầm luân sanh tử thì tiêu diệt nó đi, để tiến lên giải thoát sanh tử. Tu theo Phật là như vậy, chứ không phải ngồi đó suy gẫm chuyện tầm thường, hoặc những chuyện xa xôi không cần thiết. Đối với chúng sanh có những vấn đề thắc mắc, Phật luôn luôn dùng phương tiện chỉ dạy để dẹp bỏ, trừ diệt những nhân gây ra đau khổ.
Giáo pháp của Phật là pháp đối trị, tức là tùy bệnh cho thuốc chứ không phải một pháp dùng cho tất cả. Người bệnh nào dùng đúng thuốc đó thì mới hiệu nghiệm, mới có kết quả tốt. Nên nói, pháp của Phật là phương thuốc trị tâm bệnh chúng sanh. Giáo pháp Phật chính là những phương thuốc trị bệnh, chúng sanh có bệnh gì thì Phật chỉ phương thuốc ấy để trị. Người có bệnh thì phải biết dùng thuốc mà trị, thí dụ chúng ta có bệnh nóng giận nhiều thì phải uống thang thuốc từ bi. Từ bi là thương mọi người. Vì thương nên không giận, còn không thương thì mới giận. Cho nên người nhiều nóng giận phải tu tập từ bi. Nếu người nào ái nhiễm nhiều mà dùng thang thuốc từ bi thì càng thêm bệnh, bởi ái nhiều còn thương nữa thì nó đọng thêm cứu không nổi. Cho nên người ái nhiều phải dùng phương thuốc khác, hoặc là quán vô thường, hoặc là quán bất tịnh để trị.
Bởi đức Phật không dùng thần thông, nên khi đi giáo hóa có những lúc bị người mạ nhục ngài vẫn không dùng thần thông để trị họ. Phật thường nói: “Ngoại đạo dùng ngũ thông, còn ta chỉ dùng đạo thông”, nghĩa là Phật chỉ lấy đạo đức để giáo hóa chứ không dùng thần thông. Một hôm Phật vào trong làng khất thực, những người trước kia theo Bà-la-môn trông thấy đức hạnh của ngài họ liền cảm mến xin quy y theo Phật. Vị thầy Bà-la-môn thấy thế tức giận, hôm sau Phật đi vào khất thực ông bèn theo sau kêu tên Phật mà chửi. Phật ôm bát đi trước ông đi sau chửi dài dài, Phật vẫn bình tĩnh đi tới đầu đường, dừng lại trải tọa cụ ngồi. Vị thầy Bà-la-môn hỏi:
– Cù-đàm, ông có điếc không?
– Không.
– Ngài không điếc tại sao tôi chửi không trả lời?
Phật chậm rãi nói:
– Giả sử nhà ông có đám tiệc mời thân quyến tới, ông đem quà tặng mỗi người, nếu có người không nhận thì quà đó thuộc về ai?
– Tôi tặng mà không nhận thì quà đó về tôi chứ ai.
– Cũng vậy, ông chửi ta mà ta không nhận thì lời chửi đó về ông chứ đâu dính gì ta.
Nghe đức Phật nói như thế, ông Bà-la-môn liền thức tỉnh hết chửi. Đó là giáo hóa bằng đạo thông. Chúng ta bây giờ có đạo thông không, hay là ai cho liền nhận? Có khi chưa cho mà đã dòm chừng trước rồi, phải không? Bởi vậy chúng ta khổ cả ngày, khổ hoài. Đừng tưởng đức Phật đầy đủ phước đức không bị ai chửi, Phật cũng từng bị chửi nhưng ngài không nhận. Chửi thì cứ chửi Phật vẫn làm thinh đi, lời chửi không dính dáng gì đến ngài. Còn mình thì chỉ cần người ta nói lén ở đâu đằng kia, ở đằng này mình đã lóng tai lên mà nghe, nghe được thì sanh sự, đó là lý do khiến cả đời mình khổ.
Lần khác cũng giống như trường hợp trước, khi đức Phật vào xóm khất thực, Bà-la-môn Kiện-ma đi theo sau lưng Phật chửi. Ông theo chửi mãi cho tới ngã ba đường, Phật trải tọa cụ ngồi xuống, Bà-la-môn Kiện-ma đến trước mặt Phật, hỏi:
– Cù-đàm, Ngài thua tôi chưa?
Phật liền nói kệ:
Người hơn thì thêm oán,
Kẻ thua ngủ chẳng yên.
Hơn thua hai đều xả
Ấy được an ổn ngủ.
Nói như vậy là ngài có thua không? Bà-la-môn nghe Phật nói, liền thức tỉnh hết chửi.
Trong cuộc sống hiện tại của tất cả chúng ta, bị người khác chửi mắng là cái buồn rất nặng nề. Nhưng với Phật thì nhờ họ chửi mà ngài cảm hóa được họ. Tại sao? Tại vì đức Phật không giận tức, nếu giận tức như chúng ta thì cảm hóa được ai? Mỗi khi có người học Phật chưa vững, nghe ai nói cái gì trái ý liền nổi giận thì tôi thường khuyên: Đang giận đừng nói, chừng nào hết giận hãy nói. Đừng nói thì không gây sự, nếu giận mà nói liền thì sẽ nói bậy. Phật không bao giờ giận, cho nên ngài mới nói được những lời rất chân thành, rất đạo vị, khiến cho những người thù ghét trở thành bạn của ngài, không còn oán thù nữa.
Đức Phật là một con người giác ngộ, ngài rất bình dị, tuy có thần thông mà không sử dụng. Như các giáo sư, tiến sĩ ở đây, dù có đạt đến trình độ nào đi nữa thì quý vị cũng ăn, cũng ngủ như các học trò, nhưng có khác hơn là ở trí tuệ, ở sự học hỏi của riêng mình. Hoàn toàn không có cái gì gọi là huyền bí trong đó.
Vậy giá trị chân thật của đức Phật và đồ đệ ngài nằm ở chỗ nào? Tôi nói một chút về ý nghĩa hoa sen trong đạo Phật, qua đó quý vị có thể hiểu. Trong kinh A-hàm nói: “Cũng như hoa sen xanh, đỏ hay trắng ở trong nước. Này Bà-la-môn Đô-na, hoa sen sanh trưởng trong nước và vượt lên khỏi nước. Ta cũng vậy, trong thế gian này mà trưởng thành, ở trong thế gian nhưng đã vượt lên khỏi thế gian, không vướng mắc ở thế gian.”
Quý vị thấy hoa sen không? Hoa sen nhú mầm từ trong bùn lầy, rồi dần dần ra khỏi bùn vươn lên khỏi mặt nước nở hoa tỏa hương thơm. Cũng vậy, ban đầu đức Phật sống trong ngũ dục giống chúng ta, như mầm hoa sen còn trong bùn lầy. Rồi từ ngũ dục đó mà ngài phát tâm đi tu, như hoa sen ra khỏi bùn vươn lên mặt nước. Từ đi tu mà ngài đạt được đạo giác ngộ, tợ hoa sen nở hoa thơm ngát. Và không phải chỉ một hoa sen, mà tất cả hoa sen đều như thế. Nếu hoa sen thứ nhất từ bùn lầy nước đọng trổ hoa thì các mầm sen khác cũng sẽ trổ hoa. Đức Phật từ trong ngũ dục mà vượt ra và giải thoát thì chắc chắn chúng ta cũng có quyền y như vậy.
Trong kinh Pháp Cú, câu 58-59 nói: “Như từ trong đống bùn nhơ vứt bỏ, sanh hoa sen thanh khiết ngọt ngào, làm đẹp ý mọi người. Cũng thế chỉ từ nơi phàm phu ngu muội, mới sanh những vị đệ tử bậc Chánh giác, đem trí tuệ soi sáng thế gian.” Tất cả hoa sen đều từ bùn mà trổ hoa, quy luật chung là vậy. Chỉ có một điều khác, nếu mầm sen mới nhú bị người ta hái lấy ngó thì không thể lên khỏi nước để ra hoa được. Chúng ta bây giờ đang là hoa sen chuẩn bị ra khỏi nước trổ bông, hay là ngó sen bị người ta hái? Điều này mỗi vị phải tự suy gẫm. Không bị người hái lấy ngó, chắc chắn sen sẽ trổ hoa. Đức Phật từng nói: “Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành.” Ngài là mầm sen nhú trước đã ra khỏi bùn trổ hoa, chúng ta là mầm sen sau cũng sẽ như vậy. Tới đây tôi có thể kết thúc bài giảng hôm nay. Quý vị đã thấy rõ tinh thần của đạo Phật, không phải tưởng tượng huyền bí mà rất chân thật và thực tế. Bản thân đức Phật là một con người bình thường như chúng ta, những việc làm của ngài từ lúc mới tu cho đến khi đi giáo hóa đều không có gì huyền bí lạ lùng. Chúng ta đừng mặc cảm, đừng nghĩ rằng mình chỉ là Phật tử muôn đời muôn kiếp, mà phải biết rằng ngày nay mình là Phật tử nhưng mai kia sẽ tiến lên và tiến lên mãi cho tới chừng nào giác ngộ thành Phật mới thôi.
Đạo Phật rất bình đẳng, rất tự do. Quyền làm Phật mọi người đều có, chứ không phải chỉ riêng đức Phật. Giác ngộ giải thoát không dành riêng cho một bậc nào, tất cả mọi người ai ai cũng có quyền tiến đến chỗ Phật đã tới. Chúng ta bây giờ cũng là một con người như Phật, nếu tu đúng như Phật thì nhất định mình sẽ thành Phật tương lai, không nghi ngờ.